|
Phú Và Văn
Tế
I - PHÚ
Trong văn học, ta thường phân loại những tác phẩm
thành thơ và văn . Văn thì không có vần luật bằng
trắc và thơ thì ngược lại . Đời sống mầu nhiệm ở
sự muôn mầu muôn vẻ . Văn học cũng thế, thiên hình
vạn trạng . Nếu chỉ có hai loại thơ và văn không
thôi, hoá ra văn học đơn giản lắm sao ? Chúng ta
cũng có những thể loại gọi là văn cũng không được
mà gọi thơ cũng chẳng xong . Đó là Phú và Văn Tế
.
Phạm Đan Quế trong tập biên khảo về lẩy Kiều định
nghĩa như sau :
- Phú vốn là một thể văn vần bắt nguồn từ thơ cổ
không bắt buộc phải có đối . Nếu thơ thiên về tả
tình thì phú thiên về tả cảnh nhưng vì cách đặt
câu của phú khác với thơ nên thành ra một thể riêng
. Dần dần, phú bị chia làm hai thể rõ rệt :
a) Phú có thể theo lối xưa (trước thời nhà Đường)
không hạn định dài ngắn, niêm, đới, thanh âm chí
cốt để gieo vần là đủ . Lối này thường có Sở Từ(
có dùng chữ hề), tứ tự, lưu thuỷ ...
Loại Phú cổ (trước nhà Đường) thiên về văn xuôi,
không mẹo luật tương đối dễ . Meta xin lướt qua
bằng 1 bài phú cổ có tên Đồng Tước Đài Phú của Khổng
Minh Gia Cát Lượng :
Đồng tước đài phú .
Tòng minh hậu dĩ hi du hề
Đăng tầng đài dĩ ngu tình
Kiến Thái Phủ chi quảng khai hề
Quan Thánh đức chi sở dinh
Kiến cao môn chi tha nga hề
Phù song khuyết hồ Thái thanh
Lập trung thiên chi hoa quan hề
Liên phi các hồ Tây thành
Lâm Chương thuỷ chi trường lưu hề
Vọng viên quả chi tư vinh
Lập song đài ư tả hữu hề
Hữu Ngọc Long dữ Kim Phượng
Lãm Nhị Kiều ư đông nam hề
Lạc triêu tịch chi dữ cộng
Phủ Hoàng Đô chi hoành lệ hề
Khám vân hà chi phù động
Hân quần tài chi lai tuỵ hề
Hiệp Phi Hùng chi cát mộng
Ngưỡng xuân phong chi hoà mục hề
Thính bách điểu chi bi minh
Vân thiên tuyên kỳ ký lập hề
Gia nguyện đắc hồ song sinh
Dương nhân hoá vu vũ trụ hề
Tận túc cung vu Thượng kinh
Duy Hoàn, Văn Chi vi thịnh hề
Khởi túc phương hồ thánh minh
Hưu hỹ! Mỹ hỹ!
Huệ trạch viễn dương
Dực tá ngã hoàng gia hề
Ninh bỉ tứ phương
Đồng thiên địa chi qui lượng hề
Tề nhật nguyệt chi huy quang
Vĩnh quý tôn nhi vô cực hề
Đẳng quân thọ ư Đông hoàng
Ngự long kỳ dĩ yêu ngao hề
Hồi loan giá nhi chu chương
Ân hoá cập hồ tứ hải hề
Gia vật phụ nhi dân khang
Nguyện tư đài chi vĩnh cố hề
Lạc chung cổ nhi vị ương !
ooOoo
Phú Đường luật.
Trên đây là phú cổ trước thời nhà Đường. Ta thấy
tuy rằng có vần nhưng số chữ trong câu không nhất
định và nhất là đọc lên nghe rất ngang tai vì cũng
chẳng có bằng trắc chi hết. Văn học Việt nam hiếm
thấy loại phú này . Meta nhắc đến thể phú này để
tiện tham khảo cho đầy đủ thôi. Xin phép miễn dịch
Nôm vì không nằm trong mục đích bài này.
Phú Đường luật được các thi gia đời Đường về sau
thường dùng. Phú Đường luật không những có vần mà
phải có đối, đúng luật bằng trắc và theo một khuôn
khổ nhất định. Đây là thể Phú thông dụng nhất tại
Việt Nam ta .
Hãy tập trung vào việc nhận xét loại Phú Đường luật
, qui tắc và mẹo luật của nó .
VẦN TRONG PHÚ ĐƯỜNG LUẬT : Có nhiều cách gieo vần
như sau :
a) Độc vận : Toàn bài, từ đầu chí cuối chỉ dùng
một vần . Xin tham khảo bài Gia Định thất thủ phú
của cụ Phan Văn Trị , dùng độc vận ở cuối bài .
b) Liên vận : Bài phú có nhiều vần liên tiếp .
c) Hạn vận : Bài phú bắt buộc phải theo đúng thứ
tự các chữ trong một câu cho sẵn để làm vần cho
đủ, không được gieo vần khác vào .
d) Phóng vận : Vần nào cũng được .
Bài phú có nhiều đoạn, mỗi đoạn có nhiều liên, mỗi
liên có hai vế đối nhau . Vần phải gieo vào cuối
vế thứ nhì, tức là vần ở cuối liên .
CÁCH ĐẶT CÂU : Tuỳ theo số chữ và cấu tạo, ta có
5 lối :
a) Tứ tự : Mỗi vế có 4 chữ . Ví dụ :
Về Thuý Kiều : Tài sắc gồm hai, phong lưu rất mực
.
Về Thúc Sinh : Thanh khí lẽ hằng, hoa khôi tiếng
mộ .
b) Bát tự : Mỗi vế 8 chữ chia thành 2 đoạn bằng
nhau . Ví dụ :
- Bàn vày điếm nước, hoạ đàn đường tơ; Bầu tiên
rót rượu, câu thần nối thơ .
- Mà gầy như mai, mà buồn như cúc; mà chau đôi mày,
mà vò chín khúc .
c) Song quan : Mỗi vế có từ 5 đến 9 chữ đi liền
một mạch . Ví dụ :
- Cùng nhau vàng đá mấy lời; Dám tiếc tóc tơ một
mối .
- Kiếp phong trần đã đến thế thì thôi; Nợ oanh yến
phải lấy thân mà trả .
d) Cách cú : Mỗi vế chia thành hai đoạn dài ngắn
khác nhau . Ví dụ :
- Chẳng ngờ gã Giám Sinh, phong tình là đứa; chung
lưng con mụ Tú, buôn bán quanh năm .
- Kiếp má hồng toan trả Trời xanh, sực thấy mấy
câu thần mộng; Doành nước biếc nổi cồn sóng bạc,
thân thương đến khách tri âm .
e) Hạc tất (hay gối hạc) : Mỗi vế có từ 3 đoạn trở
lên . Ví dụ :
- Trên tường gấm, ơn lòng quân tử, mơ quạt đổi trao;
Dưới lầu son, vắng mặt tri âm, vò tơ bối rối .
- Giây phút tớ thầy chẳng tới, già Tú ơi, vùi dập
sao nỡ đang tay; Khéo đâu như báo đến lời, Sở Khanh
hỡi, nông nỗi nước này cũng lạ .
LUẬT BẰNG TRẮC :
a) Những chữ ở cuối mỗi vế phải theo luật bằng trắc
là : Chữ cuối ở vế trên trắc thì chữ cuối ở vế dưới
bằng hay ngược lại . Ví dụ :
- Thanh khí lẽ hằng (B); Hoa khôi tiếng mộ (T) .
- Ngày xuân mưa gió càng nồng(B); Đêm xuân đi về
lắm độ (T).
- Trăm năm tính cuộc (B); Muôn sự tại Trời (B) .
- Cho thanh cao phần thanh cao mới được(T); Bắt
phong trần cũng phong trần như ai (B) .
b) Trong một vế có nhiều đoạn nhỏ thì chữ cuối của
mỗi đoạn nhỏ ở trước, gọi là chữ đậu câu, phải nghịch
thanh với chữ cuối cùng của vế ấy . Nghĩa là chữ
cuối của vế là bằng thì các chữ đậu câu (chữ cuối
của các đoạn nhỏ) trong vế ấy phải là trắc hay ngược
lại . Ví dụ :
- Được một vài phân (B), lan huệ một nhà sực nức
(T); Có ba trăm lạng (T), yến oanh ngoài cửa xôn
xao (B) .
- Chàng Thúc lấn ra (B), thở thở than than (B),
tình ấy muôn cam chịu bạc (T); Tiểu thư chợt đến
(T), cười cười nói nói (T), lạ cho cái giống nhà
ghen (B) .
CÁCH BỐ CỤC MỘT BÀI PHÚ :
Nếu như trong bài thơ thất ngôn bát cú, bố cục gồm
4 phần là đề, thực, luận, kết thì trong một bài
phú, cách sắp đặt các đoạn mạch gồm có 6 phần :
a) Lung : Trình bày tổng quát đầu bài .
b) Biện nguyên : Xác nhận đầu bài, nêu rõ nguyên
uỷ gốc tích, giải thích rõ ý của đầu bài mà chuyển
vào bài .
c) Thích thực: Mô tả hết ý nghĩa của đầu bài .
d) Phô diễn : Suy rộng ý của đầu bài .
e) Nghị luận : Phê phán, đánh giá, bàn bạc ý nghĩa
của đầu bài .
g) Kết : Gói ghém chung ý tứ của đầu bài lại .
PHÂN TÍCH :
Như trên đã trình bày, bài phú có nhiều đoạn, mỗi
đoạn có nhiều liên, mỗi liên có hai vế đối nhau
. Để rõ ràng Meta xin phép không dùng cách chấm
câu theo lối văn phạm thông thường là dấu phẩy dùng
để ngắt đoạn mà ý vẫn còn tiếp nối sang đoạn sau,
dấu chấm dùng để ngắt câu đã trọn ý . Meta đặt ra
quy ước chấm câu như sau : Mỗi 1 đoạn trong vế cách
nhau bằng dấu phẩy, mỗi vế cách nhau một dấu chấm
phẩy và hai vế (tức một liên) thì xuống hàng . Nhắc
lại hai vế trong một liên phải đối với nhau . Bằng
cách này tuy có chỗ phi lý, chẳng hạn câu :
-Sao rằng gian, sao rằng nịnh, ai muốn hỏi hãy nhìn
tiêu trên mả Nguỵ Khôi; Đâu là hoạ, đâu là tai ,
ai muốn hỏi nên xem bảng tại làng Đa Phước .
Đoạn "Sao rằng gian, sao rằng nịnh" và
đoạn "Đâu là hoạ, đâu là tai" phải được
đánh dấu hỏi mới hợp lý nhưng Meta chỉ đánh dấu
phẩy để cho rõ nó là tiểu đoạn trong vế . Sau dấu
chấm phẩy là bắt đầu vế sau, đến khi xuống hàng
là hết một liên . Cách chấm câu này làm cho việc
phân tích bài phú thêm rõ ràng. Xin đừng bắt lỗi
chấm câu theo cách thông thường nhé.
Cũng nhằm việc làm cho rõ ràng, Meta xin đánh số
mỗi liên để tiện việc tham khảo. Bài Meta chọn để
phân tích là bài Cáo thị Cần Vương, tác giả không
rõ. Sơ lược về bối cảnh lịch sử bài phú như sau:
Mùa xuân năm Kỷ Mùi 1859, thực dân Pháp bắt đầu
nổ súng xâm lăng nước ta. Đồng bào lục tỉnh miền
Nam đang sống an bình bỗng trở nên nghiêm trọng.
Cuộc chiến tranh Việt Pháp diễn ra, triều đình phải
ký kết nhường ba tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Định Tường
cho Pháp. Theo tinh thần bản ký nhượng này, triều
đình phải ngưng các cuộc nổi dậy đề kháng của các
sĩ phu và dân chúng lại.
Tuy nhiên mặc cho lệnh triều đình, dân ta vẫn nổi
lên chống lại. Bài cáo thị Cần Vương ra đời vào
khoảng thời gian ấy với nội dung là kêu gọi lòng
yêu nước trong nhân dân, nổi lên chống Pháp. Chúng
ta chưa biết tác giả là ai, nhưng hẳn tác giả là
một bậc sĩ phu miền Nam, kêu gọi đồng bào chiến
đấu chống giặc Pháp xâm lược. Cùng với nhân dân
và đi trước nhân dân, bậc sĩ phu nước ta đã góp
phần lớn lao trong công cuộc chống ngoại xâm bền
bỉ, liên tục nhiều ngàn năm. Mỉa mai thay, thời
nay, khi hoạ Bạch Quỷ đã biến mất, nước ta rơi vào
thảm hoạ Xích Quỷ. Chúng lừa gạt dân chúng rằng
bọn sĩ phu ươn hèn cần phải tiêu diệt, chỉ có nhân
dân do bọn chúng lãnh đạo mới đủ sức chống ngoại
xâm thôi. Đến nay, người dân vẫn gằm đầu trong nô
lệ, không bởi ngoại xâm mà là nội trị. Người trong
nước trở mặt đè đầu cưỡi cổ nhau. Hãy phân tích
bài Cáo thị Cần Vương sau đây:
Cáo thị Cần Vương (Liên vận)
1 - Lời truyền cáo thị; Nói với sĩ phu.
2 - Nước Nam ta có mối xung thù; Cùng giặc Tây là
loài di địch.
3 - Bởi chúng nó đem lòng bội nghịch; Khiến dân
mình gặp thuở loạn ly.
4 - Chẳng qua là Trời bắt gian nguy; Cho nên nỗi
nước nhiều tai nạn.
5 - Đường trị loạn sách xưa còn bản; Lẽ chánh tà
đời trước treo gương.
6 - Làm người khôn nghĩ xét cho tường; Thà đứa dại
lỗi đường cũng đáng.
7 - Nọ thủa Hung Nô đánh Hán, tướng mạnh như hùm,
binh đông như cỏ, cướp ải Lang, dành ải Hổ, tới
mãn tuồng Nô cũng về Nô ; Kìa khi Đột Quyết quấy
Đường, xe đi chật đất, ngựa tế đầy đồng, phá trấn
Bắc, đốt trấn Đông, chừng rã đám Đột hoàn lại Đột.
8 - Xa thơ mới hãy còn lộn một; Phong cương này
há để chia ba.
Nay Tây cùng Ta :
9 - Muôn trùng non nước cách xa; Trăm việc ở ăn
lạ thói.
10 - Tuy lắm tàu đồng ống khói; Dẫu nhiều súng thiếc
đạn chì.
11 - Trải sáu tỉnh qua dẹp cõi biên thuỳ; Hơn trăm
trận liền hao ngôi tướng soái.
12 - Đòi xin ba tỉnh , lời nào rằng phải; Bắt hoạ
muôn dân, của mấy cho vừa.
13 - Ta hiệp lòng há nhịn thua ư; Mọi lấn chỗ sao
đành để vậy.
14 - Ở đâu mà chẳng thấy phá miễu chùa, đào mồ mả,
làm những việc bất nhân; Ở đâu mà chẳng thấy đốt
nhà cửa, hãm vợ con, làm những điều vô đạo.
Hỡi ơi!
15 - Thành xiêu quách đổ bởi ai gây; Ruộng nát vườn
tan do lũ ráo .
16 - Lồng lộng cao xanh, há nỡ để dân ta búng xáo;
Mênh mông soi xét, lẽ nào cho chúng nó ăn chơi.
17 - Xưa nay ai mạnh qua Trời; Đâu đó vật đều có
chủ.
Ngỏ nay :
18 - Nơi Thần Kinh ấy nơi thiên phú; Đức Kim Thượng
là đức Thánh Tông.
19 - Hơn ba mươi tỉnh hội đồng; Dư sáu chục năm
huệ dưỡng.
20 - Văn võ hiếm người làm tướng; Man di nhiều nước
đến chầu.
21 - Nhớ xưa kia chúng đã cúi đầu; Đến nay lại tay
nào trở mặt.
Ớ các tổng làng !
22 - Chớ thấy chín từng hoà nghị mà tấm lòng địch
khái vội quên; Chớ rằng ba tỉnh trọn vong mà công
cuộc báo cừu nỡ bỏ.
23 - Nhớ mới thuở rèn mác trường, đương nón gỗ,
lên đường hăm hở ra oai.
24 - Há buổi nay chạy bạc nén, vén tiền trăm, vào
cửa lom khom tạ nó.
25 - Mặt đâu tới lãnh bằng ngày nọ; Xác nào ra đầu
thú hôm nay.
26 - Đã thề nguyền hết sức đánh Tây; Đâu sợ chết
cúi mình theo giặc.
27 - Một đường cái há phân nam Bắc; Một tóc tơ nỡ
nhuộm xanh vàng.
28 - Đừng cho thày Địch thở than; Chớ để họ Nhạc
cay đắng.
29 - Ơn thuỷ thổ thảy đều mang nặng; Việc thần dân
chớ khá lỗi nghì.
30 - Cố bảo nhau gắng giữ lòng bền; Đừng nghe chúng
ra mà đầu thú.
31 - Chớ thấy Gò Công thất thủ, mà trở mặt hại nhau;
Đừng rằng Bến nghér an cư, mà đành lòng theo mọi.
32 - Sao rằng gian, sao rằng nịnh, ai muốn hỏi hãy
nhìn tiêu trên mả Nguỵ Khôi; Đâu là hoạ, đâu là
tai , ai muốn hỏi nên xem bảng tại làng Đa Phước.
33 - Oan nhường ấy, tình nhường ấy, căm thù nhường
ấy, tính sao trả được mới hài; Công bấy lâu, nghiệp
bấy lâu, lao khổ bấy lâu, đâu nỡ bỏ đi sao phải.
34 - Dẫu có lỡ sát thời hãy tìm nơi sơn trại mà
tụ tập anh hùng, sống vì Vua, thác vì Vua, dốc cùng
lòng trước sau chẳng trái ; Dẫu có rủi sa cơ phải
xuống dưới tuyền đài cũng phụng thờ hương khói,
tên còn chép, họ còn chép, để nức danh thơm rọi
sáng hoài.
35 - Chớ để xóm làng cho Bạch Quỷ vãng lai; Chớ
để phần mộ cho Tây Dương phá hại.
36 - Khá ra tay mà vùa cột cái; Tua gắng sức chống
đỡ tường xiêu.
37 - Để nghìn năm dằng dặc, vững đất Thuấn trời
Nghiêu; Ngõ muôn kiếp miên miên, bền sự nghiệp thư
son khoán sắt.
38 - Chữ đới thiên bất cộng, nghĩ căm căm ruột tím
gan bầm; Câu giữ quốc đồng ưu, phải khăng khăng
lòng ghi dạ tạc.
ooOoo
Bố cục :
Câu 1 - 4 là Lung , trình bày tổng quát đề bài.
Câu 5 - 8 là Biện nguyên, xác nhận đầu bài, nêu
rõ nguyên uỷ gốc tích, giải thích rõ ý của đầu bài
mà chuyển vào bài.
Câu 9 - 14 là thích thực: Mô tả hết ý nghĩa của
đầu bài.
Câu 15 - 21 là phô diễn : Suy rộng ý của đầu bài.
Câu 22 - 36 là nghị luận : Phê phán, đánh giá, bàn
bạc ý nghĩa của đầu bài.
Câu 37 - 38 Kết : Gói ghém chung ý tứ của đầu bài
lại.
Gieo vần :
Ta thấy mỗi một câu (tức một liên, chia theo cách
Meta) gồm hai vế đối với nhau chặt chẽ . Cách gieo
vần thì chữ cuối một câu (gọi là chữ đậu câu ),
nếu là vần trắc, sẽ bắt vần với chữ cuối , vần trắc
của vế trước giữa câu kế. Chữ cuối câu kế là vần
bằng, bắt với vần bằng chữ cuối vế trước của câu
kế tiếp. Cứ như thế đến hết bài. Ví dụ:
-Mặt đâu tới lãnh bằng ngày nọ; Xác nào ra đầu thú
hôm "nay".
-Đã thề nguyền hết sức đánh "Tây"; Đâu
sợ chết cúi mình theo "giặc".
-Một đường cái há phân nam "Bắc"; Một
tóc tơ nỡ nhuộm xanh "vàng".
-Đừng cho thày Địch thở "than"; Chớ để
họ Nhạc cay đắng.
Chữ "vàng" ở cuối câu lại bắt vần bằng
với chữ đậu câu của câu kế, chữ "than".
Lối gieo vận này gọi là liên vận.
Phép đặt câu :
Câu 1 đặt câu theo lối tứ tự , mỗi vế 4 chữ.
Câu 2 - 6 đặt câu theo lối song quan, mỗi vế có
từ 5 đến 9 chữ đi liền một mạch.
Câu 7 đặt câu theo lối hạc tất . Mỗi vế có từ 3
đoạn trở lên, dài ngắn khác nhau.
Câu 8 - 11 là song quan.
Câu 12 đặt câu theo lối bát tự, mỗi vế có 8 chữ
chia thành hai đoạn bằng nhau , mỗi đoạn 4 chữ.
Câu 13 theo lối song quan.
Câu 14 hạc tất.
Câu 15 là song quan.
Câu 16 đặt theo lối cách cú , mỗi vế chia làm hai
đoạn dài ngắn khác nhau.
Meta chỉ liệt kê từ câu 1 tơi câu 16 thôi. Tới đây
hẳn bạn đọc phân biệt được phép đặt câu theo lối
gì từ câu 17 cho đến hết bài rồi. Xin miễn nói thêm
về lối đặt câu để tránh dài dòng.
ooOoo
Dẫu biết chép một bài phú nữa thì quá dài dòng,
nhưng để bạn đọc biết về độc vận, Meta xin phép
chép một bài nữa, dùng độc vận .
Phú Gia Định thất thủ ( độc vận)
Thương thay đất Gia định!
Tiếc thay đất Gia Định!
Vực hoá nên cồn; Đất bằng nổi sóng.
Tàu khói chạy mây tuôn sông mấy khúc, lờ lạt bến
trâu ; Dây thép giăng nhấp nhoáng đất ngàn trùng,
ngã xiêu thành Phụng.
Bờ cõi phân chia khác mặt, trông ra như quáng như
mờ; Non sông dời đổi hoạ mi, tưởng tới dường mê
dường mộng.
Lớp cũ tàn, lớp mới mọc, dọc ngang xe ngựa đất gò
bằng; Dấu trước lấp, dấu sau bồi, tan nát chợ nhà
Trời dậy sấm.
Inh ỏi súng rền kinh cửa Bắc, hãi hùng trăm họ dứt
âu ca; Tò le kèn thổi tối Trời nam, man mác năm
canh không tiếng trống.
Hào kiệt tìm phương lánh mặt, sa cơ gió hạc lúc
hư kinh (1); Anh hùng kiếm chốn ẩn thân, sút thế
nước cờ thêm lúng túng.
Từ Bến Thành trải qua Chợ Đũi loài tinh chiên (2)
loạn xạ biết bao nhiêu; Nơi Chợ Lớn sấp đến Cầu
Kho, quân mọi rợ lẫy lừng nên quá lắm.
Cầu Thị Nghè cùng nơi Chợ Quán, quân tham tàn đắc
ý vênh râu; Chùa Cẩm Thảo trải tới Cây mai, Phật
Bồ Tát chịu nghèo ôm bụng.
Nơi nơi nổi xóm mới nhà Tây; Chốn chốn lập đồn canh
ụ súng.
Ngậm ngùi thay ba bốn làng Gò Vấp, cây cỏ khô ,
thân thế đều khô ; Bát ngát nhỉ mười tám thôn Vườn
Trầu, hoa trái rụng, người đời cũng rụng.
Mấy dặm Gò Đen, Rạch Kiến, ngọn lửa thiêu sự nghiệp
tan tành; Đòi nơi Rạch Giá, Gò Công, trận gió quét
cửa nhà trống lỗng.
Tiếng kêu oan, oan này bởi nước, hồn nhân dân biết
dựa vào đâu; Thân liều thác, thác cũng vì vua, xương
nghĩa sĩ chất đà nên đống.
Sông núi đào, mồ xiêu mả lạc, thương thay người
thác chẳng yên phần; Đường sá đắp, cửa nát nhà tan,
cực bấy kẻ còn khôn nỗi sống.
Sau trước vầy đoàn bạch Quỷ, dân ta đòi bữa đòi
suy; Đêm ngày ỏi tiếng Lang Sa, thế nó càng ngày
càng lộng.
Cờ Thành Thang sao không thấy phất, bỏ liều con
đỏ chông gai; Áo Võ Vương sao chẳng thấy gầy, nỡ
để dân đen bùn lấm.
Đầu Trung nguyên tóc hỡi còn dài, ơn này nhờ có
Bá, học Xuân Thu xin chớ kiếm Hoàn Công; Tay tả
nhẵm3) áo kia khỏi mặc, việc ấy bởi vì ai, đọc Luận
ngữ cớ sao chê Quản Trọng.
Bóng xế dậm ngàn mây man mác, nước non này ai thấy
cũng buồn; Trời chiều chim chóc nhẩy lăng xăng,
tình cảnh ấy lòng nào chẳng động.
Ta nay nhân cảm với cuộc đời, Vậy nên tả một vài
ngẫu vận.
ooOoo
(1) Tức là nghe gió thổi, chim hạc kêu mà phập
phồng lo sợ tưởng như giặc tràn đến nơi . Tích Bồ
Kiên, vua nhà Tần trước khi bị quân nhà Tấn đuổi
đánh, quân sĩ tới đâu nghe tiếng gió thổi, chim
hạc kêu cũng giật mình tưởng quân nhà Tấn đã tới.
(2) Tinh chiên là hôi tanh . Chỉ bọn cướp nước.
(3) Tả nhẫm là khép vạt áo sang bên trái, tục mọi
rợ. Khổng Tử nói : "Không có Quản Trọng thì
chúng ta khép vạt áo sang bên trái hết ". Nghĩa
là không có Quản Trọng thì phong hoá suy đồi, văn
minh thành mọi rợ ngay.
Bài này dùng chỉ một vần "ộng" hay "ụng",
âm trắc. Không cần bắt yêu vận với chữ cuối của
vế trước ở giữa câu kế.
Tới đây chúng ta có thể sang phần Văn Tế, cuối cùng
là Kiều Lẩy.
_________________________________________
II - VĂN TẾ
1 - CÁC LỜI VĂN TẾ :
Theo sách Thọ Mai thì Văn Tế có nghĩa rất rộng bao
gồm các loại văn dùng để tế thần thánh, tế người
sống kẻ chết và cả chúc tụng nữa. Nhưng về sau Văn
Tế chỉ dùng để tế người chết, kể lể tính nết, công
đức kẻ quá cố và nỗi thương nhớ của người còn sống
đối với người đã mãn phần. Văn Tế thường được làm
theo nhiều hình thức như :
a) Văn xuôi.
b) Lối tán, mỗi câu 4 hay 5 chữ. Có vần, có đối
hoặc không đối.
c) Lối Phú cổ thể (Sở từ, dùng chữ hề, đã nói ở
trên) hoặc lưu thuỷ.
d) Lối Phú Đường luật.
e) Trong văn Nôm, Văn Tế còn có thể làm theo thể
song thất lục bát ( Như văn tế Thập loại chúng sinh
của Nguyễn Du.)
Tuy vậy ta có thể qui thành 2 loại : Thể tự do và
thể phỏng theo phú Đường luật.
2 - VĂN TẾ PHỎNG THEO ĐƯỜNG PHÚ :
a) Qui tắc hiệp vần. Cách đặt câu và luật bằng trắc
của bài Văn Tế theo đúng thể thức của Phú Đường
luật đã trình bày trên. Ta có thể lấy bài Văn Tế
Nghĩa sĩ Cần Giuộc của cụ Nguyễn Đình Chiểu làm
tiêu biểu cho thể loại Văn Tế theo qui tắc Phú Đường
luật sau đây :
Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
-- Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
Hỡi ơi !
1 - Súng giặc đất rền; Lòng dân trời tỏ.
2 - Mười năm công vỡ ruộng, xưa ắt còn danh nổi
như phao; Một trận nghĩa đánh Tây,thân tuy mất tiếng
vang như mõ.
Nhớ linh xưa !
3 - Côi cút làm ăn; Riêng lo nghèo khổ,
4 - Chưa quen cung ngựa đưa tới trường nhung;chỉn
biết ruộng trâu ở theo làng hộ.
5 - Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay
vốn làm quen; Tập khiên, tập mác, tập giáo, tập
cờ, mắt chưa từng ngó.
6 - Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông
tin quan như nắng hạn trông mưa; Mùi tinh chiên
vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét
cỏ .
7 - Đêm thấy bòng bong che trắng lớp, những muốn
ăn gan; Ngày xem ống khói chạy đen xì, toan ra cắn
cổ.
8 - Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi
hươu; Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ
treo dê bán chó.
9 - Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn
kình; Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này
dốc ra tay bộ hổ.
Khá thương thay!
10 - Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo giòng
ở lính diễn binh; Chẳng qua là dân ấp, dân làng,
mến nghĩa làm quân chiêu mộ.
11 - Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn; Chín
chục trận binh thư, không chờ bày bố .
12 - Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang
bao tấu, bao ngòi; Trong tay dùng một ngọn tầm vông,
chi nài sắm dao tu, nón gỗ.
13 - Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong
nhà dạy đạo kia; Gươm đeo dùng một ngọn dao phay,
cũng chém đặng đầu quan hai nọ.
14 - Chi nhọc quan Quản gióng trống kỳ trống giục,
đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như khộng; Mặc kệ
thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào,
liều mình như chẳng có.
15 - Kẻ đâm ngang, người chém dọc, làm cho mả tà,
mả ái hồn kinh; Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ
tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.
16 - Những lăm lòng nghĩa sau dùng , đâu biết xác
phàm vội bỏ; Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào
hay da ngựa bọc thây.
17 - Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, xá đợi gươm hùm
treo mô; Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu
giăng.
18 - Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vi
binh đánh giặc cho cam tâm; Vốn không giữ thành,
giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.
Nhưng nghĩ rằng
19 - Tấc đấc ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước
nhà ta; Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha
nó ?
20 - Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm
sương; Vì ai xui hào luỹ tan hoang, xiêu mưa ngà
gió ?
21 - Sống làm chi theo quân tả đạo, quẳng vùa hương,
xô bàn độc, nghĩ lại thêm buồn; Sống làm chi ở lính
mả tà, chia rượu ngọt, gặm bánh mì, nghe càng thêm
hổ .
22 - Thà thác mà đặng câu dịch khái, về sau tổ phụ
cũng vinh; Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man
di rất khổ.
Ôi thôi thôi !
23 - Chùa Lão Ngộ năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng
son gửi lại bóng trăng rằm; Đồn Tây Dương một khắc
đặng rửa hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước độ
24 - Đau đớn mấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn
khuya leo lét trong lều; Não nùng thay, vợ yếu chạy
tìm chồng, con bóng xế vật vờ trước ngõ.
Ôi !
25 - Một trận khói tan; Nghìn năm tiết rỡ.
26 - Binh tướng nó rày đóng sông Bến Nghé, còn làm
cho bốn phía mây đen; Ông cha ta còn ở đất Đồng
Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.
27 - Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn
sáu tỉnh cũng đều khen; Thác mà ưng đền miếu để
thờ, tiếng hay trải muôn đời ai cũng mộ.
28 - Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn
theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù
kia; Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy
đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.
29 - Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì
hai chữ thiên dân; Cây nhang nghĩa khí thắp nên
thơm, cám bởi một câu vương thổ.
Hỡi ơi !
Có linh xin hưởng !
ooOoo
Bài này theo qui tắc Phú độc vận, dùng vần "ổ".
Meta đã đánh số cho mỗi "liên", mời các
bạn phân tích mỗi câu dùng lối Tứ tự bát tự, song
quan, cách cú hay gối hạc nhé. Dễ thôi mà.
Bố cục bài Văn Tế : Chia làm 4 phần như sau :
1 - Phần mở bài, thường bắt đầu bằng câu than :
"Than ôi", "Than rằng" hoặc
"Thương ôi", "Hỡi ôi". Trước
hết đặt một câu cách cú hoặc gối hạc rồi một câu
song quan . (xin đọc lại phần giải thích gối hạc,
song quan trong phần nói về Phú ở trên) .
2 - Phần kể về đức tính, công nghiệp của người chết,
thường bắt đầu bằng mấy chữ "Nhớ cha xưa",
"Nhớ linh xưa" ... Trước hết đặt vài câu
tứ tự hoặc bát tự rồi đến những câu cách cú, song
quan, gối hạc nhiều ít tuỳ ý .
3 - Phần than tiếc người đã khuất, thường bắt đầu
bằng chữ :"Ôi" hoặc "Ôi thôi",
"Ai tai" ... Cách đặt câu cũng như trên
.
4 - Cuối cùng là phần tỏ tình thương nhớ của người
đứng tế, thường bắt đầu bằng mấy chữ : "Con
nay", "Bản chức nay", "Tôi với
ông nay" ... Cuối phần này là 2 chữ :"Thượng
hưởng" có nghĩa là mong ước hưởng cho dùng
kết thúc bài Văn Tế .
3 - VĂN TẾ THỂ TỰ DO :
Đây là 1 bài tiêu biểu cho văn tế tự do, nghĩa là
chẳng theo luật nào cả. Không đối, không bằng trắc,
không giới hạn số chữ, số câu . Meta xin đơn cử
bài Văn Tế Ngạc Nhi cho các bạn tường lãm.
Ngạc Nhi tức Francis Garnier, tên tướng thực dân
Pháp, đem binh ra Hà Nội can thiệp vụ Đồ Phổ Nghĩa
(Jean Dupuis) không được nhà cầm quyền ta cho phép
chở hàng lên Vân Nam bằng đường sông Hồng, để xâm
chiếm Bắc Kỳ. Ngạc Nhi đánh thành Hà Nội, và sau
đó bị liên quân Cờ Đen và nghĩa binh ta phục kích
giết chết ở ô Cầu Giấy. Theo cụ Phạm Trung Hợp (tức
Đồ Huyên) người làng Dũng Quyết, huyện Ý Yên tỉnh
Nam Định là môn đệ cụ Mai Sơn Nguyễn Thượng Hiền,
và đã từng tham gia phong trào Văn Thân kể lại thì
bài Văn Tế Ngạc Nhi là của cụ Tam nguyên Nguyễn
Khuyến, người làng Yên Đỗ, huyện Bình Lục tỉnh Hà
Nam. Sau khi ký hoà ước Việt Pháp các quan ta tại
Hà Thành tổ chức lễ truy điệu Francis Garnier để
lấy lòng người Pháp . Quan tổng đốc Hà Nội là Trần
Đình Túc, người sợ Tây khét tiếng, cử cụ Nguyễn
Khuyến làm một bài Văn Tế. Cụ đành nghe lời, vì
đây là lệnh cửu trùng qua miệng quan tổng đốc.
Bài Văn Tế rất ngắn, nhưng rất lạ , nhất là thoát
hẳn với các thể tài Văn Tế khác xưa nay, kể cả nội
dung lẫn hình thức, và rất sát với thực tế, với
những nét đặc biệt của một tên thực dân. Lời văn
bình dị và mỉa mai, toàn bài không có một điển tích
hay sáo ngữ nào.
Bảo rằng tế nhưng thực ra là chửi. Nhất là lại bảo
"ăn no uống say" để rồi "nằm cho
yên ổ" thì khác nào như bảo lũ chó chết. Meta
chịu khó gõ cho các bạn xem, không phải Văn Tế nào
cũng cầu kỳ rắc rối như đã kể trên đâu. Trong này
có câu : "Đù cha mẹ nó" mà kẻ không biết
gì về văn học như Karma, cho là tục tĩu. Có những
con người thích nói những gì mình không biết.
Văn Tế Ngạc-Nhi
Than ôi !
Một phút sa cơ
Ra người thiên cổ
Nhớ ông xưa:
Cái mắt ông xanh,
Cái da ông đỏ,
Cái tóc ông quăn,
Cái mũi ông lõ,
Đít ông cưỡi lừa,
Miệng ông huýt chó .
Lưng ông đeo súng lục liên,
Chân ông đi giầy có mỏ .
Ông ở bên Tây,
Ông sang đô hộ .
Đánh giặc Cờ Đen,
Để yên con đỏ .
Nào ngờ:
Nó bắt được ông,
Nó chặt mất sỏ .
Cái đầu ông đây
Cái mình ông đó .
Khốn nạn thân ông,
Đù cha mẹ nó !
Tôi :
Vâng lệnh quan trên,
Cúng ông một cỗ,
Này chuối một buồng
Này rượu một hũ,
Này xôi một mâm,
Này trứng một rổ,
Ông có linh thiêng,
Mời ông xơi hộ,
Ăn uống no say,
Nằm yên một chỗ .
Ối ông Ngạc Nhi ôi !
Nói càng thêm khổ .
Nguyễn Khuyến .
_________________________________
4 - PHẦN ỨNG DỤNG :
Thưa các bạn một bài biên khảo chỉ có sao chép,
cắt xén tư liệu gộp lại thì không mấy giá trị mà
cũng khó lãnh hội . Theo tôi, muốn viết một bài
biên khảo, người viết ít nhất phải sáng tạo ra cách
trình bày mới, dễ hiểu hơn, dẫn chứng nhiều thí
dụ chính mình sáng tác, bởi bài sáng tác trong tiết
đoạn đó có ý hướng làm sáng tỏ thêm vấn đề mình
đang nói tới . Đọc một bài lượng giác học mà không
nêu vài ứng dụng, lắm khi con trẻ chẳng biết sin,
cosin ngoài việc làm bài tập chẳng biết dùng vào
việc gì ngoài đời . Trong mọi biên khảo của tôi,
sau khi trình bày tường tận vấn đề, đều có phần
ứng dụng . Gần đây một thi gia Cộng Sản sau khi
dành trọn một đời cho Bác và Đảng, từng ca ngợi
Staline, 1 lão già Cộng Sản khát máu người Nga,
giết hại hàng chục triệu dân Nga trong các Gulag,
1 loại nhà tù khổ sai, mà Cộng Sản Việt Nam rập
khuôn, đặt mỹ hiệu là cải tạo, Cộng Sản Tàu gọi
là lao cải . Nhà thơ Tố Hữu được Đảng ca ngợi không
tiếc lời vì câu thơ bất hủ : "thương cha mẹ
một, thương ông thương mười", nhân dịp Staline
chết, đã được nhà nước Cộng Sản Việt Nam tôn vinh
là nhà thơ của nhân loại, đúng ra nên gọi là nhà
thơ của đồng loại . Vì như tôi đã nói, trong đẳng
cấp tiến hoá giữa thú vật và người có một loại động
vật trung gian, động vật Cộng Sản . Loài người không
đấu tố cha mẹ . Đầu năm 2003, Tố Hữu cũng nhắm mắt
xuôi tay theo bác Hồ xuống âm ty . Khắp nước chẳng
động tĩnh gì cả . Các tên Cộng Sản khác đứa nào
cũng được đặt tên vài con đường, các nguồn thông
tin văn hoá còn ghi công nghiệp, tiểu sử . Riêng
tên gian nịnh này, chẳng ai thèm để ý . Nhật báo
Nhân Dân, cơ quan tuyên truyền độc nhất của đảng
(hiện nay còn là báo biếu, tất cả các báo chí khác
đều phải mua) chỉ dành cho vài hàng nói về đại gian
nịnh Tố Hữu . Tờ Tuổi Trẻ, Công An chẳng tờ nào
nói đến hắn cả .
Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4/10/1920
tại làng Phù Lai, huyện Quảng Ðiền, tỉnh Thừa Thiên
(nay là Thừa Thiên Huế). Năm lên 12 tuổi, mẹ mất.
Năm 13 tuổi, vào trường Quốc học (Huế). Tại đây,
được trực tiếp tiếp xúc với tư tưởng Cộng sản qua
sách báo tiến bộ của Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí
Minh, Goocki... kết hợp với sự vận động, giác ngộ
của các Ðảng viên ưu tú bấy giờ (Lê Duẩn, Phan Ðăng
Lưu, Nguyễn Chí Diểu), người thanh niên Nguyễn Kim
Thành sớm nhận ra lý tưởng. Gia nhập Ðoàn thanh
niên, hăng hái hoạt động, được kết nạp Ðảng năm
1938. Cuối 1941, vượt ngục (về hoạt động bí mật
ở Hậu Lộc - Thanh Hóa). Khi Cách mạng tháng Tám
bùng nổ, là Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa của thành
phố Huế. Năm 1946, là bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa.
Cuối 1947, lên Việt Bắc làm công tác văn nghệ, tuyên
huấn. Từ đó, luôn giữ những trọng trách trong công
tác văn nghệ, trong bộ máy lãnh đạo Ðảng và nhà
nước (1948 : Phó tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam
; 1963 : Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ
thuật Việt Nam ; tại đại hội Ðảng lần II/02-1951
: Ủy viên dự khuyết Trung ương ; 1955 : Ủy viên
chính thức ; tại đại hội Ðảng lần III/9-1960 : vào
Ban Bí thư ; tại đại hội Ðảng lần IV/1976 : Ủy viên
dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Ban chấp hành Trung
ương, Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương, Phó Ban
Nông nghiệp Trung ương ; từ 1980 : Ủy viên chính
thức Bộ Chính trị; 1981 : Phó Chủ Tịch Hội đồng
Bộ Trưởng).
NGÀY 9/12/2002, nhà thơ Tố Hữu qua đời. Trong vòng
2 ngày ngắn ngủi, các cơ quan thông tấn đều đăng
tải tin này đồng thời có trích đăng vài tác phẩm
tiêu biểu. Tuy nhiên trong "70 năm lao động
thơ" với trên dưới 300 bài thơ lớn nhỏ, có
nhiều bài mà rất ít người biết. Rất ít vì không
được phổ biến, nhưng phải nói đúng hơn là nhà nước
cũng không muốn nhắc tới và muốn cho nó đi vào quên
lãng.
Ngày 13/12/2002, tang lễ Tố Hữu được cử hành trọng
thể tại Hà Nội. Ðông đủ các lãnh đạo đến dự. Nghiêm
trang và long trọng lắm. Tuy nhiên mờ mờ qua những
hình thức ấy người ta thấy có một cái gì là lạ.
Ngày Tố Hữu mất, không một tờ báo nào đăng hình
trên trang bìa, kể cả báo Nhân Dân - trong chế độ
cộng sản, đây là một trong những cái tiêu chuẩn,
cái "thước đo" sự thăng hoa hay thất sủng
của một nhân vật. Các báo chỉ tóm tắt vài hàng tiểu
sử, một vài bài viết về kỷ niệm xưa của các bè bạn
trong chiến tranh và chỉ đăng ở trang trong - mà
đôi khi lại đăng sai. Chôn xong, mọi chuyện đều
chấm dứt. Người ta có cảm tưởng như nhà nước không
chỉ chôn cái xác Tố Hữu mà còn vĩnh viễn chôn cả
"70 năm lao động thơ" vào hố sâu quên
lãng.
Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.
Gian nịnh và hàng thần xưa nay có ai được trọng
vọng đâu . Hàng thần như chuẩn tướng Nguyễn Ngọc
Hạnh, trung tướng Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Cao Kỳ rồi
gian nịnh như Tố Hữu dần dần cũng chết dấm dúi trong
thờ ơ lãnh đạm của người đời . Xót thương cho thân
phận khuyển phệ nhà đại thi hào, tôi viết một bài
văn tế gọi là tiễn đưa người quá cố .
Lưu ý một lần nữa. Văn tế gồm những cặp câu đối
nhau rất chặt chẽ được Meta phân ra bằng dấu chấm
phẩy. Ví dụ : Câu thượng của cặp 1 ; Câu hạ của
cặp 1.
Câu thượng đối chặt chẽ với câu hạ.
Văn tế ông Tố Hữu.
Ối giời cao đất dầy ơi!
Thuở kháng chiến Tây đi Mỹ đến, cơm hẩm gạo thiu
ông tồm tộp, một nồi to ông hốc phưỡn dạ dày;
Thời mở cửa Tàu nháo Nga nhào, rượu thơm thịt béo
ông ỉm im, ba tấm ván ông nằm ngay cán cuốc.
Kém một ngày chẳng đi, hơn một ngày chẳng ở. Nghĩ
rằng : hồi xuân chi lão, tốt củ mà xấu dây, ngữ
ấy thánh đâm chẳng chịu chết, đỉa chịu thua răng
ấy dái này;
Sống mỗi người mỗi nết, chết mỗi kẻ một mồ. Ai ngờ
: đòi nọc lợn choai, đẹp lòng thêm đẹp mặt, giống
này giời đánh vẫn đi tơ, thuốc hết chữa mỏ xuôi
cẳng ngược .
Ông với lợn tôi, chẳng xóm giềng xóm tỏi, đường
gió mây sao khéo rủ rê;
Mác với Hồ già, ấy đứa tớ đứa thầy, lối địa ngục
cùng nhau lần lượt.
Nhớ ông xưa!
Thương bác Sì mười;
Thương cha mẹ một.
Lọt lòng mẹ ông khóc giọng Liên Xô;
Bước vào đời ông ngâm thơ Trung Quốc.
Tim ông có ba lỗ, đựng tình yêu một lỗ, chẳng chỗ
nào ông chứa đựng mẹ cha;
Ruột ông cuộn tám khoanh, lưng chữ nghĩa nửa khoanh,
còn tất cả ông dồn cho nhà nước.
Nức tiếng văn hay;
Lừng danh chữ tốt.
Thời giặc giã hôm xưa từng bỏ bẫng thê noa;
Dạo đấu tố năm nào chửa giết xong dòng tộc.
Khi dưới thác trên ghềnh, phen đầu non cuối bãi,
chữ trung trinh Bác Đảng sắt son;
Lúc chân mây góc bể, dạo cữ gió tuần mưa, bài nghĩa
bộc Nga Hoa làu thuộc.
Hết khóc Sì Ta Lin, Sì Ta Lỉn lại khóc bác Mảo,
bác Mao;
Vừa than vãn bác Hổ bác Hồ, chưa kịp điếu chú Pôn,
chú Pốt.
Khá thương thay !
Dịch thổ tả năm kia ông vẫn sống trơ trơ;
Thượng mã phong phút nọ ông đành dông tuốt luốt.
Giận cho lão Trời già;
Căm thay ông thầy thuốc.
Bẽ bàng sao hoa liễu trụ sinh;
Trơ trẽn bấy xuyên tâm liên thần dược.
Tài như ông chạy mặt Nguyễn Du;
Dũng như ông đứng tim Thái Học.
Già tám mươi cật dai bụng dẻo, thú trần ai sao vội
buông xuôi ;
Non nửa tá vợ dại con thơ, mắt lợn luộc thôi đành
trợn ngược.
Tôi nay!
Giận thì giận mà thương thì vẫn thương;
Cười chẳng cười mà khóc không ra khóc.
Bó hành đưa lợn xa chơi;
Nắm nhang kính ông thẳng bước.
Đừng tính thiệt ra hơn, bước chân đi cấm kỳ giở
lại, nẻo âm dương quay lộn tới lui;
Chớ nghĩ khôn hoá dại, vụng nước cờ hạ thủ bất hườn,
thế chiếu bí phản hồi sau trước.
Khổ cho tôi mà cũng nhục cho ông;
Tủi thằng dân mà cũng đau cho nước.
Thôi thì :
Bát cơm hẩm, thịt ôi cúng các đảng, cho chó chó
chê;
Đĩa muối dưa, cà khú thí cô hồn, kính ông ông đớp
.
Tố Hữu sống khôn thác thiêng ra mà hốc .
Thượng hưởng !
ooOoo
Đến đây tạm chấm dứt bài khảo luận về Phú và Văn
Tế . Nhằm mục đích bảo tồn nền cổ học Việt Nam đang
trên đường mai một, Meta cũng mong các bạn cầm bút,
nhất là các nhà văn thơ hải ngoại, lâu lâu nên dùng
loại văn này cho con cháu học hỏi. Mặc cho người
đời mải mê chạy theo xa hoa phù phiếm thời mở cửa,
khinh rẻ những giá trị cổ truyền, cái đạo đức, cái
văn hóa thay đổi ngày càng thay đổi sao cho "tiến
bộ". Đã có ngày chúng ta tiến bộ đến mức lôi
cổ 2 tên ác ôn sinh thành ra mình ra đấu tố và xử
tử, sẽ có ngày chúng ta thờ lạy những tên sâu dân
mọt nước, tham nhũng, ăn cắp, hiếp dâm... là anh
hùng dân tộc chỉ vì chúng ta quá "tiến bộ".
Xin nhớ một điều, chính thể nào cũng mất đi nhưng
tinh hoa dân tộc thì bền vững muôn đời theo sơn
hà xã tắc. Đó là chân lý.
Kim Đao Metamorph .

|