| Ngọc tỉnh liên phú
"Ngọc tỉnh liên" là "Hoa sen trong
giếng ngọc". Đây là bài phú của Mạc Đĩnh Chi.
Ông đỗ Trạng nguyên, khi vào bái yết nhà vua, Trần
Anh Tông thấy hình dung ông xấu xí quá, không muốn
cho đỗ. Ông liền làm bài phú "Ngọc tỉnh liên"
để tự ví mình. Vì hoa sen vốn có tiết tháo thanh
cao, không hoa nào sánh được, tuy gần bùn mà chẳng
hôi tanh mùi bùn; vả lại sen này lại trồng trong
giếng ngọc nữa thì sen càng cao quý biết bao. Ông
như sen, dù có phải ở vào hoàn cảnh ô trọc thế nào
thì cũng vẫn giữ khí tiết thanh cao, huống chi ở
phải vào một thời tốt đẹp, vua minh chánh thì người
ông càng cao quý biết mấy. Sen quý nhưng phải có
người sành mới biết thưởng thức.
Vua đọc bài phú của ông cho là kiệt tác nên mới
yêu dùng.
Dưới đây là bài phú "Ngọc tỉnh liên"
dịch ra văn nôm:
"Đương khi lửa hạ, khách cao trai thư thả,
lời dòng nước biếc, vịnh khúc phù dung; đến bến
ao trong, ngâm câu nhạc phủ. Bỗng bóng ai, áo trắng
mũ vàng, phất phơ điệu cốt xương tiên, hớn hở tinh
thần khác tục. Khách hỏi: từ đâu mà lại? Thưa rằng:
từ núi Hoa san. Khách kéo ghế mời ngồi vồn vã, này
dưa ngon quả quý bày ra. Chuyện gần thôi lại chuyện
xa, nói cười lơi lả, tiệc hoa tơi bời. Chuyện xong,
mới hỏi khách rằng: khách đây quân tử ái liên chăng
là? Tiện đây sẵn có giống nhà, vẫn từng gìn giữ
nâng niu hoa vàng. Nọ đào lý bỉ thô còn kém, kể
trúc mai đơn lạnh còn xa; nào phải giống tăng phòng
câu kỷ, nào phải phường lạc thổ mẫu đơn, cũng chẳng
phải đông ly đào cúc, mà cũng không cửu uyển linh
lan; chính là một giống sen thần, đầu non núi Họa
giếng vàng sinh ra. Khách nghe nói: khen thay quý
lạ! Phải chăng giống hoa cao mười trượng, ngó cong
như thuyền, lạnh giá như băng, ngọt ngon tựa mật,
xưa từng nghe tiếng, nay được thực trông. Nghe qua
đạo sĩ vui lòng, hoa trong tay áo giữ liền tặng
đưa. Khách trông thấy trong lòng hồi hộp, bút ngũ
lăng tay thảo nên ca. Ca rằng:
Thủy tinh làm mái cung đình,
Lưu ly lạc để nên hình cung môn,
Pha lê nát nhỏ làm bùn,
Minh châu làm nóc trên cành tưới cây.
Hương thơm bay thấu từng mây,
Bích thiên âu cũng mê say tấc lòng.
Quế xanh khóc vụng tủi thầm,
Tố Nga luống những mười phần giận thân.
Cỏ dao hái chốn Phương tân,
Sông Tương trông ngóng mỹ nhân dãi dầu.
Giữa dòng lơ lửng vì đâu?
Non sông đất cũ cớ sao chẳng về?
Đành nơi lưu lạc quản gì,
Thuyền quyên lỡ bước lắm bề gian truân.
Một lòng trung chính nghĩa nhân.
Lo chi mưa gió, phong trần, tuyết sương!
Chỉn e lạt phấn phai hương,
Tháng ngày thắm thoát, mỹ nhân ai hoài.
Nghe xong, đạo sĩ than rằng: nói chi ai oán thiết
tha! Kìa chẳng xem đóa tử vi nở trên ao phượng,
hoa thược dược mọc trước bệ vàng, cũng là địa vị
thanh cao, thanh danh hiển hách, ơn trên thánh chúa,
mưa móc dồi dào. Vội chi tủi phận hờn duyên, nước
non lẩn thẩn toan bề đi đâu? Khách nghe nói như
tình, như cảm, đem lòng kính mộ xiết bao. Khúc trai
đình tay tiên đề vịnh, thơ phong đầu giọng ngọc
ngâm nga. Nỗi lòng xin giải gần xa, kính dâng một
phú hải hà xét xoi. (Bản dịch của C... Đ...)
Mạc Đĩnh Chi người làng Lũng Động, huyện Chí Linh
(nay thuộc phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương), thông
minh tuyệt vời, diện mạo rất xấu xí. Vì cái xấu
xí đó mà xuýt chút con đường hoạn lộ của ông bị
bế tắc; tuy vậy mà cũng nhờ đó, trên đài văn học,
ông để lại cho đời một bài phú "Ngọc tỉnh liên"
có giá trị.
Ông tài giỏi quá nên đời ông có nhiều giai thoại
ngộ nghĩnh nửa thực nửa hư. Ông được người tôn sùng
là "Lưỡng quốc Trạng nguyên". Vì ông đỗ
Trạng nguyên ở nước nhà, rồi đi sứ sang Tàu, ông
lại được vua Tàu sau khi xem văn ông lại cầm viết
phê là Trạng nguyên nữa.
Thật là chuyện nửa tin nửa ngờ.
Nguyên ông đi sứ sang Tàu đời nhà Nguyên. Khi vào
triều, vừa gặp người ngoại quốc dâng nhà vua một
cây quạt. Vua bảo ông làm một bài minh (một thể
văn ngày xưa) để đề vào quạt. Ông cầm bút viết ngay:
Lưu kim thước thạch, thiên địa vi lô
Nhĩ ư tư thời hề, Y, Chu cự nho.
Bắc phong kỳ lương, vũ tuyết tái đồ,
Nhĩ ư tư thời hề, Di, Tề ngã phu,
Y! Dụng chi tắc hành, xã chi tắc tàng
Duy ngã dữ nhĩ hữu thị phù!
Nghĩa là:
"Vàng chảy đá tan, trời đất như lò lửa, lúc
ấy ngươi được như Y Doãn, Chu công là bực cự nho.
Gió bấc lạnh lùng mưa tuyết đầy đường, lúc ấy ngươi
phải như Bá Di, Thúc Tề là kẻ bị đói.
Ôi! Dùng thì làm, bỏ thì cất,
Ta cùng ngươi cũng giống nhau chăng?"
Quần thần nhà Nguyên thấy bài minh cho là hay,
cực kỳ khen ngợi. Có truyện chép: từ chữ "Y"
trở xuống, vua Nguyên phê 4 chữ "Lưỡng quốc
Trạng nguyên".
Ông đi sứ tàu, vì trời mưa gió nên đến cửa ải trễ.
Lính đã đóng cửa. Nhưng muốn thử tài sứ Việt, quan
Tàu đưa một vế câu đối xuống để ông đối. Vế rằng:
"Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách
quá quan"
Nghĩa: "Qua ải chậm, cửa ải đóng, xin khách
qua qua ải".
Ông liền đối:
"Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh
trên đối"
Nghĩa: "Ra đối dễ, đối lại, khó, xin mời tiên
sinh đối trước".
Người Tàu phục tài mở cửa quan cho qua.
Một quan Tể tướng nhà Nguyên mời ông vào phủ, cùng
ngồi đàm luận. Trong phủ có treo một bức trướng
thêu con chim sẻ vàng (hoàng tước) đậu trên cành
trúc. Thêu khéo đẹp quá, ông tưởng là chim thật,
bước đến đưa tay bắt. Người Nguyên cười ầm lên.
Ông liền kéo ngay bức trướng xé toang ra. Chúng
lấy làm lạ hỏi. Ông nói:
- Tôi nghe người ta họa bức mai tước (cây mai và
chim sẻ) thì có, chớ chưa thấy họa bức trúc tước
(cây trúc và chim sẻ) bao giờ. Vả chăng trúc là
quân tử, tước là tiểu nhân, nay bức trướng thêu
trúc tước, ấy là cho tiểu nhân đứng trên quân tử.
Tôi sợ e quân tử đạo tiêu, tiểu nhân đạo trưởng,
nghĩa là quân tử suy mà tiểu nhân thịnh, cho nên
tôi vì Thánh triều mà trừ đi đó. Chúng nghe rất
lấy làm phục.
Nhưng cũng rất vô lý.
Ai đời sứ thần một nước dù là nước nhỏ đi nữa cũng
là sứ thần, lỡ đi trễ mà chúng đóng cửa ải quan
không cho vào, rồi ra câu đối\ ... Ông Trạng của
một nước dù là nước nhỏ nhưng nước ấy đã từng phá
Tống, bình Chiêm, vậy mà nhìn tranh thêu lại tưởng
là thật; rồi giữa lúc đàm luận với vị Tể tướng cùng
quan khách lại bỏ chạy chụp chim, thì thật là ngớ
ngẩn hết chỗ nói.
Họa chăng, ông Trạng Việt Nam thẳng thắn phê bình
tranh Tàu trước vị Tể tướng nước Tàu, rồi người
sau thêm nhưn nhị vào cho vui câu truyện có tính
cách khôi hài chăng?

|