Phú,
Hịch & Văn Tế

Phú
kiếm chém rắn
Xe sau cá thối (2), thành dải máu tanh (3)
Rồng
bay đất Bái (4), hươu chạy Hàm kinh (5)
Tuốt
cây kiếm sắc Thanh bình (6), chém loài âm tinh Bạch
Đế (7). Quét gió bụi sạch sau phương, rạng thế gian
trong một vẻ. Đó là vật thần của nhà Hán.
Thanh
kiếm này, họp đức trinh chính của hàoLúc quẻ Khôn,
đủ khí kiên cường của hào Cửu quả Kiên (1). Do cái
khéo của tạo hoá làm ra, nhờ chất tinh của âm dương
rèn được. Lưỡi gươm sáng như nước thu, mũi gươm
quắc tựa băng giá. Ngày đeo thì mặt trời mờ ánh,
đêm cất thì vầng trăng loé vàng. Sao Chổi cũng vì
nó lùi xa, yên ma cũng vì nó ẩn náu. Đồ bạch bích
minh châu, sáng chưa tầy giá; Kiếm Ngô câu, Cự khuyết
(2), chẳng dám so ngang.
Nhớ
xưa: Hán Cao Tổ dắt phu đến Ly Sơn, (3) giữa đêm
kéo qua bờ đầm thấy rắn lớn nằm ngang đường, bọn
đi đầu sợ mà lùi bước. Cao Tổ nổ cơn sấm sét, tỏ
chí anh hùng, tuốt kiếm mà chén, rắn đứt làm đôi.
Tinh Bạch Đế do đó mà khóc thầm, ngôi nhà Hán vì
vậy mà đấy lên. Đất. Mang, Dãng (4) điềm lành hiển
hiện, đình Chỉ Dạo (5) ấn quy đem dâng. Diệt tên
hầm hè đất Cai Hạ (6) trừ kẻ phản bạn hạt Hoài Âm
(7); người là thanh kiếm thần rất sác rất bén vậy.
Song
ta thường nghe rằng: vật sở sĩ quý là do ở người.
Kýa gươm Cao tương Mạc da (8) dẫu có linh thiêng,
nhưng nếu không gặp chúa anh minh, vua thật võ,
thì cũng đến như kiếm Long tuyền, Thái a (9) chôn
vùi ở ngục Phong Thành (10), bến Long Tân (1) mà
thô. Sao bằng thanh kiếm này được vào tay Hán Cao
Tổ, tiếng tăm không bị mai một, danh thơm lưu lại
ngàn thu.
Bài
phù này chưa làm xong, có người đến chất vấn rằng:
“Sinh thời văn minh không nên bàn chuyện uy võ,
ở đời tịnh trị chớ nên nói chuyện chiến tranh. Hiện
nay triều thánh ta đương lúc thăng bình cực trị,
thu bốn bế lại làm mái nhà, bánh xe cùng một cỡ,
chữ viết cùng một lối, bọc giáo gươm trong da hùm.
Rèn binh khí làm công cụ, Khí hoà đầy cả chín châu,
gió nhân hun khắp trời đất. Người phải như con chim
phượng đẹp nhảy múa hoà theo khúc nhạc. Thiều (1),
cớ sao lại bo bo cái nghề nhỏ mọn dẽo gọt con sâu
(2), tán tụng sự tích của bọn tạp bá, làm mờ tối
đức tốt của bậc đế vương, không am hiểu thời thế,
khiến kẻ thức giả coi kinh”.
Kẻ
làm bài phú này vui mừng làm bài cao rằng:
Kiếm
này ! Kiếm này ! là vật chẳng lành !
Bậc
thánh tùng kế mới dùng mi, phải đâu vật quý.
Ôi
! Thánh triều ta, đời tịnh chuộng vân tự.
Thiên
hạ nhặt thống, thái bình thịnh trị.
Dẫu
có kiếm này, dùng đến làm chi !
Nguyễn
Ngọc San (dịch)
Ghi chú
(1) Lưu Bang tức Hán Cao Tổ, lúc còn hàn vi, một
đêm qua chừm thấy con rắn lớn nằm ngang đường, ông
tuốt kiếm chém chết. Bài phú lấy đề tài từ câu chuyện
này.
(2)
Tần Thuỷ Hoàng chế ở Sa Khâu, gian thần là Triệu
Cao đầu không phát tang, bỏ xác Thuỷ Hoàng vào xe
mà chở, đồng thời cho xe mang nhiều cá thổi đi sau
để át mùi xác chết.
(3)
TầnThuỷ Hoàng bắt dân tu sửa Vạn Lý Trường Thành,
dân phu làm việc cực nhọc, chết nhiều vô kể. Câu
này nói về tội ác của nhà Tần.
(4)
Dãi Bái (Bái ấp): nơi Hán Cao Tổ đẩy nghiệp.
(5)
Hán Kinh: tức kinh đô Hàm Dương của nhà Tần để mất
thiên hạ như để sổng con hươu.
(6)
Kiếm Thanh bình: một thanh kiếm quý. Sách Văn tuyến,
bài Đáp Đông án Vương tiên của Trần Lâm có câu:
“Quân hầu là bậc cao hơn người tục, cầm vũ khi như
gươm Thanh bình, Can tương”.
(7)
Bạch Để: nhà Nho quan niệm rằng nhà Tần ở phương
Tây, đối với Ngũ hành thì thuộc Kim, Kim sắc trắng,
nên gọi Tần Thuỷ Hoàng là Bạch Đế.
(1) Quẻ Khôn, quẻ Kiền: hai quê trong kinh Dịch:
Không chỉ về đất, kiền chỉ về trời
(2)
Ngô câu, Cự khuyết: tên hai thanh kiếm quý. Theo
sánh Ngô Việt xuân thu thì //// Lư sau khi được
kiếm Mạc da, cho người rèn kiếm Ngô câu (cũng gọi
là Kim câu). Sau Việt tuyệt như chép Việt Vương
có bảo kiểm Cự khuyết, chém sắt như bùn.
(3)
Ly Sơn: tên một địa phương
(4)
Đất Mang Dãng: nơi Hán Cao tổ ẩn náu
(5)
Dinh Chỉ Dao: Nơi vua Tần là Tử Anh ra hàng Hán
Cao Tổ, dâng ấn tín
(6)
Dãi Cai Hạ: nơi Hạng Vũ bị Hán Cao Tổ tiêu diệt
(7)
Hoài Âm: nơi Hán Tín được phong hầu, sau Tín phản,
bị giết
(8)
Can Tương: Mạc da: tên hai thanh kiếm quý, theo
sách ngô Việt Xuân thu thi ??// Tương, người nước
Ngô, rèn kiếm quý,vợ là Mạc da cắt tóc, cắt móng
tay nhẩy vào lòng làm cho thép chảy, rèn được song
kiếm quý dâng Ngô Vương. Thanh kiếm đương gọi Can
tương, thanh kiếm âm gọi là Mạc da.
(9,
10) Long tuyền, Thái a: tên hai thanh kiếm quý,
Tương truyền thời Tần Huệ Quảng vũ hầu Trương Hoa
thấy giữa sao Ngưu, sao đẩu có khí màu tím, sai
đón /// Hoán, người Dự Chương đến hỏi, Lôi nói đó
là di tinh kiếm ở phong thành chiếu //// Trương
bèn cho Lôi đến làm huyện lệnh Phong Thành (tỉnh
Chiết Giang). Đến Phong Thành, Lôi cho đào nên nhà
ngục, tìm được một hòm đá đựng hai thanh kiếm, một
kho chữ Long tuyền,một khắc chữ Thái ạ. Lôi bèn
dâng cho Trương một thanh, còn một thanh để dùng.
Trương Hoa được kiếm, viết thư cho Lôi Hoán bảo:
“xem kỹ hoa thanh kiếm này, biết đây là kiếm Can
tương, vậy còn thành Mạc da sao không đưa đến ?.
Sau khi Trương chết, thanh kiếm kia cũng không biết
ở đâu. Lôi Hoán chế, con Trương Hán mang kiếm qua
bến Diên Bình Tân, hốt nhiên kiếm vuột rơi xuống
nước, thấy dưới nước có hai con rồng lớn cuộc sóng
ầm ầm, kiểm mất. Người sau cho rằng con rồng đó
là hai thanh kiếm Can tương, Mạc da hiện ra. Nơi
kiếm hiện được gọi huyện Long Tuy (tỉnh Chiết Giang).
(11)
Bến Long Tân có lẽ là bến Diên Bình Tân
(1)
Nhạc Thiều: Tên một khúc nhạc hay, tương truyền
khúc nhạc này có từ đời vua Thuần, mỗi lần tấu nhạc,
chim phương hoàng đến múa.
(2)
Dẽo gọt con sâu (diều trùng): dẽo gọt tỉ mỉ từng
con sâu, ở đây ý tác gải muốn nói cái tài nhỏ mọn
về văn chương.

|