 VƯỜN
HỒNG
Tạp văn
NGÂM
THƠ 
VỀ
THĂM VƯỜN CŨ
Trang
Học Làm Thơ
TRÁI TIM HỒNG

Vũ
Đình Liên và Ông Đồ
Vũ
Đình Liên sinh ngày 12 tháng 11 năm 1913 tại Hà
Nội nhưng chính quê ở huyện Bình Giang , tỉnh Hải
Dương. Sau khi đỗ tú tài , họ Vũ trở thành nhà giáo
tại nhiều tư thục ở Hà Nội và hoạt động văn nghệ
, từng viết cho các tờ Phong Hóa của Tự lực văn
đoàn và tờ Tinh Hoa của nhóm Đoàn Phú Tứ. Sau năm
45 ông tiếp tục dạy học và dịch thơ Baudelaire và
biên khảo về Nguyễn Đình Chiểu.
Vũ Đình Liên làm thơ khá sớm từ 1932 , nhưng trước
1945 chưa xuất bản thi tập nào cả. Ông qua đời ngày
18 tháng 01 năm 1996 tại Hà Nội. Cuộc đời của họ
Vũ gắn liền với Hà Nội nên bức tranh ông đồ tiêu
biểu cho lớp sóng phế hưng đã diễn ra nơi ngàn năm
văn vật. Ông đồ là một nhà nho trong thời nho học
mạt vận. Thăng Long từng là cái nôi của nền văn
hóa cũ trong các triều đại Lý , Trần , Lê và Nguyễn.
Khi văn hóa Tây Phương tràn vào , khao cử bãi bỏ
vào năm 1918 , mộ số kẻ sĩ như Phan Kế Bính , Tản
Đà , Ngô Tất Tố , Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng
có thể đổi bút lông thành bút sắt , trở thành những
cây bút tiên phong trên chiến trường ngôn luận nhưng
đa số lâm vào cảnh :
Nào có ra gì cái chữ nho
Ông nghè , ông cống cũng nằm co
Chi bằng đi học làm thầy phán
Tối rượu sâm banh , sáng sữa bò !
Vì sinh kế , họ đành bương chải kiếm sống. Chính
Tản Đà khi làm báo thất bại , đã từng mở lớp dạy
thơ không thành , nên đành phải mở quán " hà
lạc " để xem số cho thiên hạ với quảng cáo
đăng trên báo Ngày nay số 140 ngày 10 tháng 12 năm
1938 trước khi ông mất không lâu :
Nguyễn Khắc Hiếu , Tản Đà
Nay mai sắp ở Hà
Hà lạc đoán lý số
Đàn ông và đàn bà
Còn như tiền đặt quẻ
Nhiều năm ít có ba
Nhiều ít tùy ở khách
Hậu bạc kể chi mà !
Nếu không kịp xoay sang làm thầy phán , thầy thông
hay thầy ký , thì kẻ sĩ lỡ thời có thể bước sang
nghề y , nghề lý số và nếu lại không may mắn trong
hai nghề đó mà viết chữ đẹp , thì có thể bán chữ
kiếm tiền trong dịp Tết.
Thời xưa , nước ta dùng chữ Hán làm văn tự chính
trong mọi sinh hoạt. Thế mà mỗi chữ Hán trong mắt
những tay thư pháp là một bức họa đủ kiểu chân ,
thảo , triện , lệ và phối hợp chúng lại thành một
bài thơ , một câu đối , một lời chúc mừng dưới nét
bút của một đại gia , một nhà khoa bảng thì trở
thành một tác phẩm nghệ thuật , nhiều khi bất hủ
và vô giá. Cao bá Quát nổi tiếng viết chữ đẹp và
Nguyễn Tuân trong " Vang bóng một thời "
đã từng ca tụng thú chơi chữ , dù chữ đó do bút
pháp của người tử tù tạo ra.
Ông Đồ của Vũ Đình Liên cũng là một tay thư pháp
có hạng và dân cố đô có tập tục xin câu đối đón
xuân vì tin rằng có nó mới điểm thêm màu sắc cho
buổi xuân về " thịt mỡ , dưa hành , câu đối
đỏ ". Người sành câu đối rất chuộng người viết
, mấy chữ " xuân mãn càn khôn , phúc mãn đường
" mà được tay có thư pháp cao siêu , những
danh nho , những bậc khoa bảng như Nguyễn Khuyến
, Trần Bích San... viết sẽ làm cho căn phòng ngày
tết thêm trang trọng và ngoạn mục , vì thế ông đồ
tài hoa mới được người đời khen ngợi và tìm đến
xin chữ :
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
" Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay ! "
Nhưng rồi thế hệ cũ tàn dần , thế hệ mới trưởng
thành và nhu cầu thời đại thay đổi , khuynh hướng
thẩm mỹ cũng khác xưa. Điều đó thường tình nhưng
những người cũ còn sót lại mới rơi vào cảnh cô đơn
, đó là những kẻ sĩ như ông đồ ở phố Hàng Bạc ,
nơi Vũ Đình Liên ra đời.
Ông đồ còn đó , cảnh cũ còn đó , hoa đào vẫn nở
đỏ phòng khách nhiều nhà , nhưng thiên hạ thờ ơ
, xuân về vẫn cần hoa đào từ Ngọc Hạ mang vào nhưng
phải bày bên cạnh rượu Tây , trà Tàu , kẹo Nhật
, chứ câu đối đỏ ai mà đọc , ai hiểu và ai biết
thưởng thức nên treo trong nhà làm gì? Trong cái
không khí tấp nập chuẩn bị lễ hội ở Hàng Đào , Hàng
Ngang , Hàng Bông và Phố Huế , ông đồ ngồi âm thầm
, lạnh lẽo trong mưa bụi và lá vàng bay :
Nhưng mỗi năm một vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiêng sầu
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Ngoài đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay
Cái cảnh nho học trong buổi hoàng hôn dưới ngòi
bút của Vũ Đình Liên thực buồn và ảm đạm. Nhà thơ
dùng những nét đáng lẽ tươi như hoa đào mùa Xuân
như " giấy đỏ " " mực kim bất hoán
"... nhưng để làm nổi bật sự tàn tạ ông nhấn
mạnh bên cạnh mưa bụi và lá vàng là :
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu
Qua những nét tạo cái hồn cho bức tranh thuộc loại
hoài cổ đẹp nhất trong văn học Việt Nam , vũ Đình
Liên gợi lại mùa bông đào về lại Hà Nội , đồng thời
khắc sâu thêm tâm trạng của mình : Đào phơi phới
ở Ngọc Hạ , Nghi Tàm , Nghĩa Đô... Hà Nội đón mừng
xuân trong tiết trời lành lạnh , nhưng có ai biết
, ngoài những kẻ có lòng tiếc thương dĩ vãng cà
dễ xúc động trước cảnh " lối xưa xe ngựa hồn
thu thảo , nền cũ lâu đài bóng tịch dương "
, phố cũ đã thiếu vắng một người và có kẻ chợt bâng
khuâng phải chứng kiến một nền văn hóa đã qua :
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Vũ Đình Liên là một chứng nhân của sự thay đổi
ở Thăng Long ngày cũ và bằng cảm xúc thật , bút
pháp trong sáng mà hoa mỹ , với bố cục hội họa của
cổ điển , đã tạo nên một bức tranh hoài cổ khó tìm
bài thứ hai trong văn học cận đại và đương đại của
ta.
Họ Vũ làm thơ không nhiều , nhưng ông còn vài bài
mang phong vị hoài cổ khác như hai bài " Lòng
ta là những hàng thành quách cũ " và "
Hỡi những chiến binh từ muôn năm cũ " , tuy
không bằng bài Ông Đồ nhưng cũng đã được nhiều người
thưởng thức.
Thơ hay không cần phải làm nhiều. Vũ Đình Liên
có khoảng trên hai chục bài thơ bị lãng quên , nhưng
đời không bao giờ quên bài Ông Đồ của ông

|