|  VƯỜN
HỒNG

Nhà
Thơ Thâm Tâm
Tên thật là Nguyễn Tuấn Trình. Sinh 12-5-1917 tại
Hải Dương. Mất ở Cao Bằng năm 1950. Thâm Tâm viết
không nhiều, ông mất sớm, cả đời thơ chưa được hai
mươi bài. Nhưng nếu chọn mười bài tiêu biểu của
thời kỳ Thơ mới, chắc chắn có Tống biệt hành. Trong
kháng chiến chống Pháp, khi nền thơ còn nhiều chập
chững, bài thơ Chiều mưa đường số năm đã là bài
thơ hay, vững vàng về cốt cách lẫn tình cảm.
Thơ
Thâm Tâm mang cốt cách cổ điển, đẫm khí vị bi phẫn
giang hồ của một thời đã xa trong lịch sử ở ta hay
ở một chân trời khơi gợi những Tần Hán xa vời. Giọng
thơ rắn rỏi, tức tưởi. Ông có ba bài viết theo thể
hành bộc lộ rõ nhất giọng thơ này Can trường hành,
Tống biệt hành, Vọng nhân hành. Hãy xem nhà thơ
lãng mạn Việt Nam thời Thơ mới múa bút bên sông
Hồng kiểu Kinh Kha múa gươm bên sông Dịch:
Sông
Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta
ghét hoài câu "nhất khứ hề"
Ngoài
phố mưa bay: xuân bốc rượu
Tấc
lòng mong mỏi cháy tê tê
Trong
tình cảnh người mất nước, mất luôn tự do của chí
làm trai, Thâm Tâm thường trực một ý chí phá bỏ
thực tại bằng mộng giang hồ:
Đất
trời rộng quá. Tôi không chịu
Cắm
chặt sông đây một cánh bè,
Bằng
cơn phẫn chí:
Đau
tình không xót bằng đau nghĩa
Tay
gầy cũng ném chén vô tri.
Khá
nhiều lần Thâm Tâm ném chén trong tiệc rượu. Phẫn
chí trong cơn say vì đã cố nén một cơn òa khóc trong
lúc tỉnh.
Cuối
thu mưa nát lòng dâu bể
Ngày
muộn chuông đau chuyện đá vàng.
Thân
kiếp chơi vơi trong cõi phi thời gian, dĩ vãng không
có, hiện tại cũng không mà tương lai thì mịt mù
sương khói.
Hôm
qua không có, hôm nay mất
Ai
rú trong trời tám hướng sương
Những
câu thơ bi phẫn của Thâm Tâm hay lắm vì đó là tình
cảm chín nhất của hồn ông. Bi phẫn một chủ thể tài
tử:
Múa
lưỡi đánh tan ba kẻ sỹ
Mềm
môi nốc cạn một vò men
Bi
phẫn nhiều khách thể xót đau:
Chim
nhạn chim hồng rét mướt bay
Vuốt
cọp chân voi còn lận đận
Thằng
thí cho nhàm sức võ sinh
Thằng
bó văn chương đôi gối hận
Thằng
thư trói buộc, thằng giã quê
Thằng
phấn son nhơ... chửa một về.
Rồi
cả chủ thể lẫn khách thể đều bi phẫn, ấy là Tống
biệt hành:
Người
đi, ừ nhỉ người đi thực
Mẹ
thà coi như chiếc lá bay
Chị
thà coi như là hạt bụi
Em
thà coi như hơi rượu say.
Trong
cả nền thơ thời ấy không ai có giọng bi phẫn "chín"
như Thâm Tâm, kể cả Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân,
hai bạn thơ "áo bào gốc liễu" đồng điệu
với ông. Cái "chín" ấy trước hết là ở
cái giọng, gồm cả âm lẫn điệu của câu thơ, sau nữa
là ở một loạt hình ảnh, hình ảnh thường có tính
biểu tượng cao, gợi nhiều liên tưởng lãng mạn, và
cuối cùng là ở ngôn ngữ, ngôn ngữ có hơi cổ xưa
và nhiều tương phản, cực đoan. Hãy nghe:
Ngậm
lời tráng khí, chim bằng ốm
Chuyện
lúc thương tâm, gái điếm già
Gió
thốc hàng hiên, lười viễn mộng
Mưa
rào mặt cát, gợi ly ca
Phiếm
du mấy chốc đời như mộng
Ném
chén cười cho đã mắt ta
Nhiều
lần Thâm Tâm cười ngạo "cái chí lớn" của
mình Chí lớn không đầy một tấc gang. Cười ngạo để
giấu nỗi sầu thất bại:
Say
ngùi ta đốt tương tư thảo
Bóng
khói qua mây lại nhớ mình
Ngay
cái mộng ra đi vào năm 1944, thì chí dù đã quyết
mà lòng cứ lạnh tê. Ước ao trận gió nổi lên để giũ
đi tất cả, nhưng vẫn phải mượn hơi rượu cho khí
thế. Khoan nói đến nhận thức chính trị và tình hình
thời cuộc, chỉ biết cái tạng cảm xúc của Thâm Tâm
là vậy. Nó là cảm xúc lãng mạn. Nó có nguồn gốc
từ hiện thực đời sống nhưng khi phát triển nó tựa
nhiều lên tưởng tượng, nó cần hư ảo và hoang đường.
Đọc loại thơ này đừng sóng nó vào hiện thực sự kiện,
đừng lấy sự kiện cụ thể để cắt nghĩa cảm xúc. Làm
thế là chặt cánh bay của thơ, hơn thế lại là thơ
lãng mạn.
Phải
chăng vì tính chất bi phẫn khao khát đổi thay, khao
khát cất cánh ấy mà gặp cách mạng, Thâm Tâm sớm
đứng vào hàng ngũ, thơ ông từ lãng mạn chuyển sang
cách mạng khá êm thấm. Bài thơ Chiều mưa đường số
Năm là một ví dụ. Vẫn một giọng thơ nội tâm đắm
đuối, bài thơ mưa nhưng gợi được cảm giác ấm trong
lòng người, giọng bi phẫn đã thành giọng yêu thương.
Bài thơ viết năm 1946, năm 1950, Thâm Tâm mắc bệnh
trên đường đi chiến dịch rồi mất. Người đọc không
được thấy hết sự phong phú của hồn thơ ông trong
chặng mới. Ở giai đoạn trước, ông nhập cuộc muộn,
ở giai đoạn sau, ông lại ra đi quá sớm.
Ngót
hai chục bài thơ cho một đời thơ tài năng như vậy,
có một chất cảm xúc lạ, và riêng như vậy, quả chưa
phát tiết được bao nhiêu. Phần tiềm lực còn nhiều
quá, thật tiếc!
18-1-2001
VŨ
QUẦN PHƯƠNG

Trở về vuon

|