THI CA TRàO PHÚNG VIỆT NAM
Vọng Đông
Văn chương phản kháng nói chung là khí giới của kẻ
yếu
chống kẻ mạnh, biểu lộ khí
phách của những con người "khuyến
thiện phạt ác" và làm cách
mạng bằng tư tưởng. Thơ văn hài
hước và trào phúng Việt Nam
cũng là một loại văn chương phản
kháng, chống lại mọi tệ
đoan, bất công, áp bức trong xã hội,
từ thời phong kiến, Pháp
thuộc, đến thời kỳ Cộng Sản cai trị
trên đất nước
ta.
Từ xưa, người bình dân Việt đã sử dụng ca dao để cất
lên
tiếng nói của họ trong nhiều
trường hợp. Về mặt gây cười, họ
đã nhắm vào các hiện tượng
trong xã hội. Phong tục Việt Nam
vốn trọng tiết hạnh của
người phụ nữ. Những người đàn bà lẳng
lơ, trắc nết, lấy nhiều
chồng, không thủy chung với chồng
hoặc không làm trọn đạo tòng
phu, thường bị nhân dân chế
giễu:
- Gái chính chuyên lấy được chín chồng
Vê viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi
Ai ngờ quang đứt lọ rơi
Bò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng.
- Gái đâu có gái lạ đời
Chỉ còn thiếu một ông Trời không chim
- Sáng ngày đi chợ cầu Đông
Xem một quẻ bói lộn chồng được chăng
Thầy bói gieo quẻ nói rằng
Lộn
thì lộn được nhưng năng phải đòn
Mồ cha đứa có sợ đòn
Miễn là lấy được chồng giòn thì thôi.
Buồn cười nhất đối với nhân
dân là những người đàn bà lớn
tuổi mà không chịu được cảnh
cô đơn :
- Bà già đi chợ cầu Đông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng
Thầy bói gieo quẻ nói rằng
Lợi thì có lợi nhưng răng không còn.
Trái lại, người đàn ông đa
thê là chuyện thường. Bị chê cười
là những ông có tính sợ vợ
:
- Làm trai rửa bát quét nhà
Vợ gọi thì dạ bẩm bà tôi đây.
hay:
- Xưa kia có thế này đâu
Bởi vì sợ vợ nên râu quặp vào.
Về mặt châm biếm, ca dao
Việt Nam thường chỉa mũi dùi vào
những hạng người này trong
xã hội : thầy bói, thầy cúng, thầy
địa lý, thầy tu, thầy lang
băm... Họ là những hạng người dựa
vào sự mê tín, dốt nát của
dân chúng để kiếm ăn, làm tiền.
- Số cô chẳng giàu thì nghèo
Ba mươi tết có thịt treo trong nhà
Số cô có mẹ có cha
Mẹ cô đàn bà cha cô đàn ông
Số cô có vợ có chồng
Sinh con đầu lòng không gái thì trai
Thầy bói như vậy thì quả
thật là tài, không sai vào đâu được.
- Châp chập cheng cheng
Con gà trống thiến để riêng cho thầy
Đơm xôi thì đơm cho đầy
Đơm vơi thì thánh nhà thầy không thiêng.
Gọi là thầy cúng, cầu thần
ban phước cho bệnh nhân, nhưng đó
chỉ là hạng kiếm xôi thịt,
không hơn không kém. Cũng như nhân
dân đã vạch mặt bọn thầy địa
lý bịp bợm:
- Hòn đất mà biết nói năng
Thì thầy địa lý hàm răng không còn.
Về hạng thầy tu bất chính,
đã có những câu ca dao trào lộng:
- Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về sư ốm tương tư
Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu.
Các thầy lang băm, cũng
không tránh khỏi búa rìu dư luận:
- Thầy khoe thầy cứu được người
Đến khi thầy ốm chẳng ai cứu thầy.
Người dân Việt Nam còn chống
cả giới làm "cha mẹ dân". Hạng
quan lại tham nhũng được xem
như là kẻ cướp:
- Con ơi nhớ lấy điều này
Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan.
Về mặt lịch sử, nhân dân
từng đóng vai trò "kẻ phán xét" về
cuộc hôn nhân Chiêm Việt,
khi vua Trần Anh Tôn gả em gái là
Huyền Trân cho Chế
Mân:
Tiếc thay cây quế giữa rừng
Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo
Khi Chế Mân chết, Trần Khắc
Chung theo lệnh vua sang Chiêm
mượn danh nghĩa phúng điếu
lén đưa công chúa Huyền Trân về
nước, để tránh bị hỏa thiêu
theo tục lệ Chiêm, người ta nghi
ngờ về mối tình thầm vụng
giữa hai người, dù không có bằng
chứng xác
thực:
Tiếc thay hột gạo trắng ngần
Đã vò nước đục lại vần lửa rơm
Quả dư luận của nhân dân đôi
khi thực là ác nghiệt.
Trong thâm cung các triều
vua, thường có những bí sử, song
không qua được mắt nhân dân
ở khắp nơi:
Ba quân có mắt như mờ
Để cho Huy quận vào sờ chính cung
Tức là ám chỉ việc Hoàng
Đình Bảo (Quận Huy) có liên hệ bất
chính với Đặng Thị Huệ (Bà
Chúa Chè), ái phi của Tĩnh Đô
Vương Trịnh
Sâm.
Đời vua Minh Mạng ban chiếu
cấm đàn bà miền Bắc mặc váy. Đó
là mỹ ý của nhà vua nhưng
không thích hợp với thói quen của
phụ nữ địa phương nên họ đã
phản đối:
Tháng chạp có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Đi thì phải lột quần chồng sao đang.
Dưới triều vua Tự Đức cho
xây Khiêm Lăng, tốn công của nhiều
và đến cả mạng người, nên
không tránh khỏi điều ta thán của
nhân
dân:
Vạn niên là Vạn niên nào
Thành xây xương lính hào đào máu dân
Ngoài giới bình dân biểu lộ
thái độ của mình đối với những
cảnh huống chướng tai gai
mắt trong xã hội bằng ca dao,
giới sĩ phu, trí thức cũng
đã mô tả những tấn tuồng bi hài
của thời đại qua thi
ca.
Từ cuối thế kỷ 19, nữ sĩ Hồ
Xuân Hương đã từng chế giễu hạng
sư không chân
tu:
Chẳng phải Ngô chẳng phải ta
Đầu thì trọc lóc áo không tà
Oản dâng trước mặt năm ba phẩm
Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà
Khi cảnh
khi tiu khi chũm chọe
Giọng hì giọng hỉ giọng hi ha
Tu lâu có lẽ lên sư cụ
Ngất nghểu tòa sen nọ đó mà
(VNH SƯ)
Dân chúng vẫn có câu "ví
von" về "gái không chồng mà có con":
Không chồng mà chửa mới ngoan
Có chồng mà chửa thế gian sự thường
Hồ Xuân Hương lấy câu đó làm
đề tài cho bài thơ của nữ sĩ:
Cả nể cho nên sự dở dang
Nỗi niềm
chàng có biết chăng chàng
Duyên thiên chưa bén nhô đầu dọc
Phận liễu sao đà nẩy nét ngang
Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa
Mảnh tình một khối thiếp xin mang
Quản bao miệng thế lời chênh lệch
Những kẻ không mà có mới ngoan
(KHÔNG CHỒNG MÀ CHỬA)
(Trong văn học Việt Nam chưa
có bài thơ nào vận dụng ý nghĩa
của ca dao và lối chơi chữ
Hán-Nôm tài tình như vậy).
Nữ sĩ họ Hồ còn làm thơ đùa
cợt bà vợ một ông thầy thuốc qua
đời:
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì
Thương chồng nên nỗi khóc ti ti
Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo
Cay đắng chàng ơi vị quế chi
Thạch nhũ trần bì sao để lại
Qui thân liên nhục tẩm mang đi
Dao cầu thiếp biết trao ai nhỉ
Sinh ký chàng ơi tử tắc qui
(BỠN BÀ LANG KHÓC CHỒNG)
(Chữ dùng trong bài thơ có
tên các vị thuốc bắc: cam thảo,
quế chi, thạch nhũ, trần bì,
qui thân, liên nhục và nghề làm
thuốc: sao, tẩm, dao
cầu...).
Ở đời, con người thường bạc
bẽo, chỉ biết đến đồng tiền mà
quên tình nghĩa. Nguyễn Công
Trứ đã căm ghét thói đời:
Thế thái nhân tình gớm chết thay
Nhạt nồng trông chiếc túi vơi đầy
Hễ không điều lợi khôn thành dại
Đã có đồng tiền dở hóa hay
Khôn
khéo chẳng qua ba tấc lưỡi
Hẳn hoi không hết một bàn tay
Suy ra cho kỹ chi hơn nữa
Bạc quá vôi mà mỏng quá mây
(THẾ THÁI NHÂN TÌNH)
Thời kỳ Pháp thuộc là thời kỳ mà thi ca trào phúng
phát
triển rất mạnh. Cuộc chống
đối bằng vũ khí vật chất của các
nhóm Văn Thân, Cần Vương
thất bại thì kẻ sĩ Việt Nam lại sử
dụng một vũ khí tinh thần là
văn chương, một phần là châm
biếm, để bày tỏ ý chí bất
khuất của mình trước kẻ địch.
Khi quân Pháp đánh chiếm Hà Nội, Tổng Đốc Hoàng
Diệu
không giữ nổi thành phải tử
tiết, Ba Giai (Nguyễn Văn Giai)
đã ca ngợi hành vi đó qua
tập "Hà Thành Chính Khí Ca". Nhưng
có một số người đã tỏ thái
độ hèn nhát, như viên án sát bỏ
trốn, viên đề đốc bỏ chạy
theo, ông Ba đã không quên làm thơ
mỉa
mai:
Nhắc cân Thái lĩnh với Hồng mao
Chí khí quan Đề khẳng khái sao
Thắt cổ chân lê buông xuống đất
Trầm mình đầu ngóc nghểnh lên cao
Sờ lưng thuốc độc rơi đâu mất
Lấy hốt làm gươm thích chẳng vào
Tứ bất tử rồi ngơ ngẩn mãi
Hỏi thăm quan án chạy nơi nao ?
(GIỄU QUAN ĐỀ)
Buồn vì cảnh nước mất nhà tan, ông còn có giọng cay
chua
mô tả cảnh Hà
Thành:
Bốn bên hàng phố tiếng xôn xao
Trở dậy mà xem những thế nào
Lục
sở bày trò trong rạp tối
Tam tài cờ cắm ngọn thành cao
Giày tàu bịt gót Ngô đi bãi
Váy lĩnh phơi trôn đĩ rửa hào
Nhuộm vện khuênh vằn vô số chó
Ra tuồng đắc ý chạy nhôn nhao
(HÀ THÀNH HIỂU VỌNG)
Sau khi chiến thắng ở Hà Nội, tướng Pháp Francis
Garnier
đắc chí nghênh ngang, nhưng
lại bị quân Cờ Đen phục kích giết
chết. Nguyễn Khuyến đã làm
bài văn tế với lời lẽ nhạo báng
như
sau:
Nhớ ông xưa :
Cái mắt ông xanh
Cái da ông đỏ
Cái tóc ông quăn
Cái mũi ông lõ
Đít ông cưỡi lừa
Miệng ông huýt chó
Lưng ông đeo súng lục liên
Chân ông đi giày có mỏ
Ông ở bên Tây
Ông sang bảo hộ
Ông dẹp Cờ Đen
Để yên con đỏ
Nào
ngờ:
Nó bắt được ông
Nó chặt mất sỏ
Cái đầu ông kia
Cái mình ông đó
Khốn khổ thân ông
Đù mẹ cha nó
Tôi:
Vâng lệnh quan trên
Cúng ông một cổ
Này chuối một buồng
Này rượu một hũ
Này xôi một mâm
Này trứng một rổ
Ông có linh thiêng
Mời
ông xơi hộ
Ăn uống no say
Nằm cho yên chỗ
Ối ông Ngạc Nhi ơi
Nói càng thêm khổ!
(VĂN TẾ NG[1]C
NHI)
Kỷ niệm ngày 14-7, Pháp mở hội trên đất Việt.
Nguyễn
Khuyến lên tiếng cảnh cáo
đồng bào:
Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo
Bà quan tênh nghếch xem bơi trải
Thằng bé lom khom nghé hát chèo
Cậy sức cây đu nhiều chị bám
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo
Khen ai khéo vẽ trò vui thế
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu
(HỘI TÂY)
Thời kỳ Pháp chiếm Nam Kỳ, có kẻ ra hợp tác với Pháp
như
Tôn Thọ Tường, đã bị nhóm
nhân sĩ chống đối như Phan Văn Trị,
Huỳnh Mẫn Đạt dùng lối bút
chiến (qua các bài thơ xướng họa)
để đả
kích.
Khi Khâm sai Lê Hoan, một tay sai của Pháp, tổ chức
tao
đàn mời các danh sĩ đến dự
thi vịnh truyện Kiều, Nguyễn
Khuyến đã làm bài thơ vịnh
Kiều để ám chỉ hạng quan lại tham
nhũng thời
đó:
Thằng bán tơ kia giở giói ra
Làm cho bận đến cụ Viên già
Muốn xong phải kiếm ba trăm lạng
Khéo xếp nên liều một chiếc thoa
Đón khách mượn màu son phấn mụ
Bán mình chuộc lấy tội tình cha
Có tiền việc ấy mà xong nhỉ
Đời trước làm quan cũng thế a?
(THƠ VNH KIỀU)
Khi chính quyền bảo hộ Pháp đã đặt nền móng vững
vàng
trên đất Việt, một số người
tìm cách tiến thủ theo thời, Tú
Xương đã chua
chát:
Nào có ra gì cái chữ Nho
Ông Nghè ông Cống cũng nằm co
Chi bằng đi học làm ông Phán
Tối rượu sâm banh sáng sữa bò
(CÁI
CH NHO)
Khoa thi của Nam triều vẫn được mở ra, có sự chứng
kiến
của quan chức Pháp, ông cho
đó là điều nhục nhã cho những
người đeo đuổi công
danh:
Nhà nước ba năm mở một khoa
Trường Nam thi lẫn với trường Hà
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ
m ọe quan trường miệng thét loa
Xe kéo rợp trời quan sứ đến
Váy lê phết đất mụ đầm ra
Sao không nghĩ đến điều tu sỉ
Ngảnh cổ mà xem lại nước nhà
(KHOA THI)
Nhất là khi công bố kết quả kỳ thi, cũng dưới sự chủ
tọa
của "ông tây bà
đầm":
Trên bệ bà đầm ngoi đít vịt
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng...
Trong buổi giao thời, Tây Nam hỗn độn, ông bất mãn
cho
thân phận
mình:
Vợ lăm le ở vú
Con tấp tễnh đi bồi...
và cười nhạo những
phần tử "hãnh tiến" trong xã hội:
- Khăn là bác nọ to tày rế
Váy lĩnh cô kia quét sạch hè
Công đức tu hành sư có lọng
Xu hào rủng rỉnh mán ngồi xe...
(NĂM MỚI)
- Chí cha chí chát khua giày dép
Đen thủi đen thui cũng lượt là
(XUÂN NH
T NGU HNG)
Là nho sinh giữa buổi giao thời, ông than cho cái học
và
cái đạo của làng
ông:
Cái học nhà nho đã hỏng rồi
Mười người đi học chín người thôi
Cô hàng bán sách lim dim ngủ
Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi
Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ
Trình có quan trên thứ chỉ tôi
(CÁI
HỌC NHÀ NHO)
Nhưng rồi lối học cũ với lớp nhà nho cũng suy tàn
theo
đà tiến hóa của lịch
sử. Chữ quốc ngữ được thay thế và báo
chí bằng tiếng Việt
được xuất bản ngày càng nhiều. Những tạp
chí nổi tiếng trong
thời kỳ Việt ngữ phôi thai là Nam Phong
Tạp Chí do Phạm Quỳnh
chủ trương và Đông Dương Tạp Chí do
Nguyễn Văn Vĩnh sáng
lập. Hai ông chủ báo này đều có khuynh
hướng thân Pháp. Chủ
trương chính trị của ông Quỳnh là xây
dựng nền quân chủ lập
hiến và ông Vĩnh thì chủ trương trực
trị theo kiểu Pháp
thuộc ở Nam Kỳ.
Tú Mỡ, nhà thơ trào phúng thuộc nhóm Tự Lực Văn Đoàn
-
bất hợp tác với Pháp -
đã làm thơ giễu các ông Quỳnh, Vĩnh,
cho là hai dị nhân đất
Việt:
Nước Nam có hai người tài
Thứ nhất xừ Vĩnh thứ hai xừ Quỳnh
Một xừ béo múp rung rinh
Một xừ lếu đếu như hình cò hương
Không vốn liếng chẳng ruộng nương
Chỉ đem dư luận bán buôn làm giàu
Bây giờ đang xỉa xói nhau
Người câu lập hiến kẻ câu trực quyền...
(NAM HẢI D NHÂN)
Ông Quỳnh từng bị một
nhà thơ coi rẻ, ví như vua bếp...
Cục đất ngày xưa nó thế nào
Nay làm ông Táo chức quyền cao
Khéo đeo mặt lọ vênh vang thế
Chẳng hổ lưng khom khúm núm sao
Ngày những giữ nồi cho địa chủ
Quanh năm kiếm chuyện mách thiên tào
Một mai đất lại thành ra đất
Cái đãy chè xôi đáng giá bao
(VNH ÔNG TÁO- Khuyết danh)
Và cũng vì ham chút
công danh mà bị đời châm chích:
Tin mới đâu vang khắp lưỡng kỳ
Thượng Chi rày đã hóa tham tri
Rõ nhà họ Phạm dư hồng phúc
Thật mệnh anh Quỳnh có tử vi
Kính trắng sẽ ra hàng báo chí
Bài vàng
nay dựa đám quyền uy
Công gào lập hiến ừ không uổng
Trực trị như ai có ích gì
(PH[1]M
QUỲNH LÀM QUAN - Khuyết danh)
(Thượng Chi: bút hiệu
của Phạm Quỳnh. Kính trắng: P.Q.
thường đeo kính trắng.
Bài vàng: thẻ bài bằng vàng ám chỉ
P.Q. làm
quan).
Trong thời Pháp thuộc, còn biết bao nhiêu thơ văn
trào
phúng, như những viên
đạn bắn vào các "quái thai thời đại"
trong xã hội như hạng
"me tây", "bồi tây", những "văn vật"
đất Thăng
Long:
Nghìn năm văn vật đất Thăng Long
Văn vật ngày nay mới lạ lùng
Tham biện tham buôn tham cán sự
Đốc người đốc chó đốc canh nông
Du côn mật thám đầy sông Nhị
Giăng-há ma-cô chật núi Nùng
Còn nữa xin ngưng không dám kể
Nghìn năm văn vật đất Thăng Long
(NNVVĐTL - Khuyết danh)
Lại có hạng trí thức vong bản, theo đòi Pháp học mà
quên nguồn Việt, bị Tú
Mỡ nêu đích danh chế giễu:
An Nam kể bọn nhân tài
Ông Khiêm thạc sĩ là người lừng danh
Đi Tây du học du hành
Học thi thi đỗ đã đành phục thay
Chiếm bằng trạng mẹo Âu Tây
Giỏi ghê giỏi gớm xưa nay mấy người...
Tiếng Tây ông nói làu làu
Hỏi vần quốc ngữ lắc đầu rằng "noong"!
ÔNG TR[1]NG
MO PH[1]M
DUY KHIÊM)
Khi Việt Minh lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp
kéo
dài trong nhiều năm,
nhân dân đã có thơ nhạo:
Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi
Chiến khu để của chú khiêng rồi
Thi đua kháng chiến thua đi mãi
Kháng chiến lâu dài khiến chán thôi
Đến thời kỳ Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam, thống
nhất
đất nước, người dân
Việt không được tự do ngôn luận trên báo
chí, vì ngoài báo Đảng
hoặc chịu sự chỉ đạo của Đảng, thì
không có tờ báo hoặc
tạp chí nào được tự do xuất bản. Nhưng
dù kiểm soát cách nào,
chính quyền Cộng Sản cũng không chận
đứng được phản ứng của
người dân, qua "bia miệng", bày tỏ
những điều chế nhạo
của họ.
Dưới triều Ngô, khi hạn chế lưu thông ở các đường Tự
Do
và Công Lý, dân chúng
đã có thơ giễu, ám chỉ nền tự do và
công lý của triều
này:
Tự Do có số, Công Lý một chiều
(Xe có bảng số mới
chạy được ở đường Tự Do; Công Lý là đường
một
chiều)
Dưới chế độ Cộng Sản, đường Tự Do được đổi lại là
đường
Đồng Khởi, đường Công
Lý đổi là Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Nhân dân
cũng thấy tự do và
công lý dưới chế độ này mất hết cả ý
nghĩa, qua hai
câu:
Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do
Khi người Cộng Sản vào miền Nam, họ tuyên bố sẽ hòa
giải
dân tộc, nhưng sau một thời
gian lại đưa nhiều thành phần
công chức, quân đội, đảng
phái đi tù, dưới hình thức học tập
cải tạo. Trong các trại
giam, các tù nhân thường bị thiếu ăn,
họ cám cảnh này bằng hai câu
thơ:
Bát hồ bát cháo bát cơm
Bát cơm bát cháo còn hơn bát hồ
Lẽ dĩ nhiên, chữ "bát hồ" ở đây còn có ý nghĩa khác,
nếu
viết lại là: "bác
Hồ".
Còn biết bao nhiêu là "ca dao mới" của nhân dân
được
sáng tạo với ý nghĩa
trào phúng để mô tả nhiều hiện tượng
trong xã hội Cộng Sản,
chẳng hạn, đảng viên ưa hưởng lạc rồi
bỏ
Đảng:
Sao vàng bảng đỏ
(Nói lái theo giọng Nam: sang giàu bỏ Đảng)
hay cán bộ tham
nhũng:
Ba số 5 vừa năm vừa ký
(Khi xin việc gì, người dân hối lộ cho cán bộ bao
thuốc
lá ba số 5, thì dễ
được chấp thuận)
Hoặc nói về sinh hoạt khó khăn của dân chúng sau
năm
1975:
bốn chữ XHCN (Xã Hội Chủ Nghĩa) được diễn ra là:
Xếp
Hàng Cả Ngày (dân
chúng phải mất nhiều thì giờ xếp hàng ở
Mậu Dịch Quốc Doanh để
mua hàng), hoặc Xạo Hết Chỗ Nói
(đường lối tuyên
truyền của Cộng Sản) v...v...
*
* *
Thi ca hài hước và trào phúng Việt Nam rất phong phú
qua
các thời kỳ trong lịch
sử. Xã hội càng có nhiều hiện tượng
xấu xa, nhiều cảnh
huống gai chướng, nhiều bất công áp bức
thì loại thơ này càng
có đất nẩy nở và phát triển. Và khi tư
tưởng của người dân
không được tự do phát biểu thì tiếng nói
châm biếm, trào phúng
của họ càng thêm sôi nổi, mãnh liệt và
sâu sắc, tồn tại với
thời gian, để cảnh cáo người đời. Đó
cũng
là:
Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.
VỌNG ĐÔNG
***********************