THI CA TRàO PHÚNG VIỆT NAM

 

                                           Vọng Đông

 

         Văn chương phản kháng nói chung là khí giới của kẻ yếu

    chống kẻ mạnh, biểu lộ khí phách của những con người "khuyến

    thiện phạt ác" và làm cách mạng bằng tư tưởng. Thơ văn hài

    hước và trào phúng Việt Nam cũng là một loại văn chương phản

    kháng, chống lại mọi tệ đoan, bất công, áp bức trong xã hội,

    từ thời phong kiến, Pháp thuộc, đến thời kỳ Cộng Sản cai trị

    trên đất nước ta.

 

         Từ xưa, người bình dân Việt đã sử dụng ca dao để cất lên

    tiếng nói của họ trong nhiều trường hợp. Về mặt gây cười, họ

    đã nhắm vào các hiện tượng trong xã hội. Phong tục Việt Nam

    vốn trọng tiết hạnh của người phụ nữ. Những người đàn bà lẳng

    lơ, trắc nết, lấy nhiều chồng, không thủy chung với chồng

    hoặc không làm trọn đạo tòng phu, thường bị nhân dân chế

    giễu:

               - Gái chính chuyên lấy được chín chồng

                 Vê viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi

                 Ai ngờ quang đứt lọ rơi

                 Bò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng.

               - Gái đâu có gái lạ đời

                 Chỉ còn thiếu một ông Trời không chim

               - Sáng ngày đi chợ cầu Đông

                 Xem một quẻ bói lộn chồng được chăng

                 Thầy bói gieo quẻ nói rằng

                 Lộn thì lộn được nhưng năng phải đòn

                 Mồ cha đứa có sợ đòn

                 Miễn là lấy được chồng giòn thì thôi.

 

    Buồn cười nhất đối với nhân dân là những người đàn bà lớn

    tuổi mà không chịu được cảnh cô đơn :

 

                 - Bà già đi chợ cầu Đông

                   Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng

                   Thầy bói gieo quẻ nói rằng

                   Lợi thì có lợi nhưng răng không còn.

 

    Trái lại, người đàn ông đa thê là chuyện thường. Bị chê cười

    là những ông có tính sợ vợ :

 

                 - Làm trai rửa bát quét nhà

                   Vợ gọi thì dạ bẩm bà tôi đây.

           hay:

                 - Xưa kia có thế này đâu

                   Bởi vì sợ vợ nên râu quặp vào.

 

    Về mặt châm biếm, ca dao Việt Nam thường chỉa mũi dùi vào

    những hạng người này trong xã hội : thầy bói, thầy cúng, thầy

    địa lý, thầy tu, thầy lang băm... Họ là những hạng người dựa

    vào sự mê tín, dốt nát của dân chúng để kiếm ăn, làm tiền.

 

                 - Số cô chẳng giàu thì nghèo

                   Ba mươi tết có thịt treo trong nhà

                   Số cô có mẹ có cha

                   Mẹ cô đàn bà cha cô đàn ông

                   Số cô có vợ có chồng

                   Sinh con đầu lòng không gái thì trai

 

    Thầy bói như vậy thì quả thật là tài, không sai vào đâu được.

 

                 - Châp chập cheng cheng

                   Con gà trống thiến để riêng cho thầy

                   Đơm xôi thì đơm cho đầy

                   Đơm vơi thì thánh nhà thầy không thiêng.

 

    Gọi là thầy cúng, cầu thần ban phước cho bệnh nhân, nhưng đó

    chỉ là hạng kiếm xôi thịt, không hơn không kém. Cũng như nhân

    dân đã vạch mặt bọn thầy địa lý bịp bợm:

 

                 - Hòn đất mà biết nói năng

                   Thì thầy địa lý hàm răng không còn.

 

    Về hạng thầy tu bất chính, đã có những câu ca dao trào lộng:

 

                 - Ba cô đội gạo lên chùa

                   Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư

                   Sư về sư ốm tương tư

                   Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu.

 

    Các thầy lang băm, cũng không tránh khỏi búa rìu dư luận:

 

                 - Thầy khoe thầy cứu được người

                   Đến khi thầy ốm chẳng ai cứu thầy.

 

    Người dân Việt Nam còn chống cả giới làm "cha mẹ dân". Hạng

    quan lại tham nhũng được xem như là kẻ cướp:

 

                 - Con ơi nhớ lấy điều này

                   Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan.

 

    Về mặt lịch sử, nhân dân từng đóng vai trò "kẻ phán xét" về

    cuộc hôn nhân Chiêm Việt, khi vua Trần Anh Tôn gả em gái là

    Huyền Trân cho Chế Mân:

 

                  Tiếc thay cây quế giữa rừng

                  Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo

 

    Khi Chế Mân chết, Trần Khắc Chung theo lệnh vua sang Chiêm

    mượn danh nghĩa phúng điếu lén đưa công chúa Huyền Trân về

    nước, để tránh bị hỏa thiêu theo tục lệ Chiêm, người ta nghi

    ngờ về mối tình thầm vụng giữa hai người, dù không có bằng

    chứng xác thực:

 

                  Tiếc thay hột gạo trắng ngần

                  Đã vò nước đục lại vần lửa rơm

 

    Quả dư luận của nhân dân đôi khi thực là ác nghiệt.

 

    Trong thâm cung các triều vua, thường có những bí sử, song

    không qua được mắt nhân dân ở khắp nơi:

 

                 Ba quân có mắt như mờ

                 Để cho Huy quận vào sờ chính cung

 

    Tức là ám chỉ việc Hoàng Đình Bảo (Quận Huy) có liên hệ bất

    chính với Đặng Thị Huệ (Bà Chúa Chè), ái phi của Tĩnh Đô

    Vương Trịnh Sâm.

 

    Đời vua Minh Mạng ban chiếu cấm đàn bà miền Bắc mặc váy. Đó

    là mỹ ý của nhà vua nhưng không thích hợp với thói quen của

    phụ nữ địa phương nên họ đã phản đối:

 

                 Tháng chạp có chiếu vua ra

                 Cấm quần không đáy người ta hãi hùng

                 Không đi thì chợ không đông

                 Đi thì phải lột quần chồng sao đang.

 

    Dưới triều vua Tự Đức cho xây Khiêm Lăng, tốn công của nhiều

    và đến cả mạng người, nên không tránh khỏi điều ta thán của

    nhân dân:

 

                 Vạn niên là Vạn niên nào

                 Thành xây xương lính hào đào máu dân

 

    Ngoài giới bình dân biểu lộ thái độ của mình đối với những

    cảnh huống chướng tai gai mắt trong xã hội bằng ca dao,

    giới sĩ phu, trí thức cũng đã mô tả những tấn tuồng bi hài

    của thời đại qua thi ca.

    Từ cuối thế kỷ 19, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã từng chế giễu hạng

    sư không chân tu:

 

                  Chẳng phải Ngô chẳng phải ta

                  Đầu thì trọc lóc áo không tà

                  Oản dâng trước mặt năm ba phẩm

                  Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà

                  Khi cảnh khi tiu khi chũm chọe

                  Giọng hì giọng hỉ giọng hi ha

                  Tu lâu có lẽ lên sư cụ

                  Ngất nghểu tòa sen nọ đó mà

                                          (VNH SƯ)

 

    Dân chúng vẫn có câu "ví von" về "gái không chồng mà có con":

 

                  Không chồng mà chửa mới ngoan

                  Có chồng mà chửa thế gian sự thường

 

    Hồ Xuân Hương lấy câu đó làm đề tài cho bài thơ của nữ sĩ:

 

                  Cả nể cho nên sự dở dang

                  Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng

                  Duyên thiên chưa bén nhô đầu dọc

                  Phận liễu sao đà nẩy nét ngang

                  Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa

                  Mảnh tình một khối thiếp xin mang

                  Quản bao miệng thế lời chênh lệch

                  Những kẻ không mà có mới ngoan

                                   (KHÔNG CHỒNG MÀ CHỬA)

 

    (Trong văn học Việt Nam chưa có bài thơ nào vận dụng ý nghĩa

    của ca dao và lối chơi chữ Hán-Nôm tài tình như vậy).

    Nữ sĩ họ Hồ còn làm thơ đùa cợt bà vợ một ông thầy thuốc qua

    đời:

                  Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì

                  Thương chồng nên nỗi khóc ti ti

                  Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo

                  Cay đắng chàng ơi vị quế chi

                  Thạch nhũ trần bì sao để lại

                  Qui thân liên nhục tẩm mang đi

                  Dao cầu thiếp biết trao ai nhỉ

                  Sinh ký chàng ơi tử tắc qui

                               (BỠN BÀ LANG KHÓC CHỒNG)

 

    (Chữ dùng trong bài thơ có tên các vị thuốc bắc: cam thảo,

    quế chi, thạch nhũ, trần bì, qui thân, liên nhục và nghề làm

    thuốc: sao, tẩm, dao cầu...).

 

    Ở đời, con người thường bạc bẽo, chỉ biết đến đồng tiền mà

    quên tình nghĩa. Nguyễn Công Trứ đã căm ghét thói đời:

 

                  Thế thái nhân tình gớm chết thay

                  Nhạt nồng trông chiếc túi vơi đầy

                  Hễ không điều lợi khôn thành dại

                  Đã có đồng tiền dở hóa hay

                  Khôn khéo chẳng qua ba tấc lưỡi

                  Hẳn hoi không hết một bàn tay

                  Suy ra cho kỹ chi hơn nữa

                  Bạc quá vôi mà mỏng quá mây

                                      (THẾ THÁI NHÂN TÌNH)

 

 

         Thời kỳ Pháp thuộc là thời kỳ mà thi ca trào phúng phát

    triển rất mạnh. Cuộc chống đối bằng vũ khí vật chất của các

    nhóm Văn Thân, Cần Vương thất bại thì kẻ sĩ Việt Nam lại sử

    dụng một vũ khí tinh thần là văn chương, một phần là châm

    biếm, để bày tỏ ý chí bất khuất của mình trước kẻ địch.

 

         Khi quân Pháp đánh chiếm Hà Nội, Tổng Đốc Hoàng Diệu

    không giữ nổi thành phải tử tiết, Ba Giai (Nguyễn Văn Giai)

    đã ca ngợi hành vi đó qua tập "Hà Thành Chính Khí Ca". Nhưng

    có một số người đã tỏ thái độ hèn nhát, như viên án sát bỏ

    trốn, viên đề đốc bỏ chạy theo, ông Ba đã không quên làm thơ

    mỉa mai:

 

                  Nhắc cân Thái lĩnh với Hồng mao

                  Chí khí quan Đề khẳng khái sao

                  Thắt cổ chân lê buông xuống đất

                  Trầm mình đầu ngóc nghểnh lên cao

                  Sờ lưng thuốc độc rơi đâu mất

                  Lấy hốt làm gươm thích chẳng vào

                  Tứ bất tử rồi ngơ ngẩn mãi

                  Hỏi thăm quan án chạy nơi nao ?

                                     (GIỄU QUAN ĐỀ)

 

         Buồn vì cảnh nước mất nhà tan, ông còn có giọng cay chua

    mô tả cảnh Hà Thành:

 

                  Bốn bên hàng phố tiếng xôn xao

                  Trở dậy mà xem những thế nào

                  Lục sở bày trò trong rạp tối

                  Tam tài cờ cắm ngọn thành cao

                  Giày tàu bịt gót Ngô đi bãi

                  Váy lĩnh phơi trôn đĩ rửa hào

                  Nhuộm vện khuênh vằn vô số chó

                  Ra tuồng đắc ý chạy nhôn nhao

                                     (HÀ THÀNH HIỂU VỌNG)

 

         Sau khi chiến thắng ở Hà Nội, tướng Pháp Francis Garnier

    đắc chí nghênh ngang, nhưng lại bị quân Cờ Đen phục kích giết

    chết. Nguyễn Khuyến đã làm bài văn tế với lời lẽ nhạo báng

    như sau:

                   Nhớ ông xưa :

                   Cái mắt ông xanh

                   Cái da ông đỏ

                   Cái tóc ông quăn

                   Cái mũi ông lõ

                   Đít ông cưỡi lừa

                   Miệng ông huýt chó

                   Lưng ông đeo súng lục liên

                   Chân ông đi giày có mỏ

                   Ông ở bên Tây

                   Ông sang bảo hộ

                   Ông dẹp Cờ Đen

                   Để yên con đỏ

                   Nào ngờ:

                   Nó bắt được ông

                   Nó chặt mất sỏ

                   Cái đầu ông kia

                   Cái mình ông đó

                   Khốn khổ thân ông

                   Đù mẹ cha nó

                   Tôi:

                   Vâng lệnh quan trên

                   Cúng ông một cổ

                   Này chuối một buồng

                   Này rượu một hũ

                   Này xôi một mâm

                   Này trứng một rổ

                   Ông có linh thiêng

                   Mời ông xơi hộ

                   Ăn uống no say

                   Nằm cho yên chỗ

                   Ối ông Ngạc Nhi ơi

                   Nói càng thêm khổ!

                            (VĂN TẾ NG[1]C NHI)

 

         Kỷ niệm ngày 14-7, Pháp mở hội trên đất Việt. Nguyễn

    Khuyến lên tiếng cảnh cáo đồng bào:

 

                   Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo

                   Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo

                   Bà quan tênh nghếch xem bơi trải

                   Thằng bé lom khom nghé hát chèo

                   Cậy sức cây đu nhiều chị bám

                   Tham tiền cột mỡ lắm anh leo

                   Khen ai khéo vẽ trò vui thế

                   Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu

                                               (HỘI TÂY)

 

         Thời kỳ Pháp chiếm Nam Kỳ, có kẻ ra hợp tác với Pháp như

    Tôn Thọ Tường, đã bị nhóm nhân sĩ chống đối như Phan Văn Trị,

    Huỳnh Mẫn Đạt dùng lối bút chiến (qua các bài thơ xướng họa)

    để đả kích.

 

         Khi Khâm sai Lê Hoan, một tay sai của Pháp, tổ chức tao

    đàn mời các danh sĩ đến dự thi vịnh truyện Kiều, Nguyễn

    Khuyến đã làm bài thơ vịnh Kiều để ám chỉ hạng quan lại tham

    nhũng thời đó:

 

                    Thằng bán tơ kia giở giói ra

                    Làm cho bận đến cụ Viên già

                    Muốn xong phải kiếm ba trăm lạng

                    Khéo xếp nên liều một chiếc thoa

                    Đón khách mượn màu son phấn mụ

                    Bán mình chuộc lấy tội tình cha

                    Có tiền việc ấy mà xong nhỉ

                    Đời trước làm quan cũng thế a?

                                         (THƠ VNH KIỀU)

 

         Khi chính quyền bảo hộ Pháp đã đặt nền móng vững vàng

    trên đất Việt, một số người tìm cách tiến thủ theo thời, Tú

    Xương đã chua chát:

 

                     Nào có ra gì cái chữ Nho

                     Ông Nghè ông Cống cũng nằm co

                     Chi bằng đi học làm ông Phán

                     Tối rượu sâm banh sáng sữa bò

                                            (CÁI CH NHO)

 

         Khoa thi của Nam triều vẫn được mở ra, có sự chứng kiến

    của quan chức Pháp, ông cho đó là điều nhục nhã cho những

    người đeo đuổi công danh:

 

                     Nhà nước ba năm mở một khoa

                     Trường Nam thi lẫn với trường Hà

                     Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

                    


m ọe quan trường miệng thét loa

                     Xe kéo rợp trời quan sứ đến

                     Váy lê phết đất mụ đầm ra

                     Sao không nghĩ đến điều tu sỉ

                     Ngảnh cổ mà xem lại nước nhà

                                            (KHOA THI)

         Nhất là khi công bố kết quả kỳ thi, cũng dưới sự chủ tọa

    của "ông tây bà đầm":

 

                      Trên bệ bà đầm ngoi đít vịt

                      Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng...

 

          Trong buổi giao thời, Tây Nam hỗn độn, ông bất mãn cho

     thân phận mình:

 

                      Vợ lăm le ở vú

                      Con tấp tễnh đi bồi...

 

     và cười nhạo những phần tử "hãnh tiến" trong xã hội:

 

                     - Khăn là bác nọ to tày rế

                       Váy lĩnh cô kia quét sạch hè

                       Công đức tu hành sư có lọng

                       Xu hào rủng rỉnh mán ngồi xe...

                                              (NĂM MỚI)

 

                     - Chí cha chí chát khua giày dép

                       Đen thủi đen thui cũng lượt là

                                         (XUÂN NH


T NGU HNG)

 

          Là nho sinh giữa buổi giao thời, ông than cho cái học và

     cái đạo của làng ông:

 

                      Cái học nhà nho đã hỏng rồi

                      Mười người đi học chín người thôi

                      Cô hàng bán sách lim dim ngủ

                      Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi

                      Sĩ khí rụt rè gà phải cáo

                      Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi

                      Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ

                      Trình có quan trên thứ chỉ tôi

                                          (CÁI HỌC NHÀ NHO)

 

          Nhưng rồi lối học cũ với lớp nhà nho cũng suy tàn theo

     đà tiến hóa của lịch sử. Chữ quốc ngữ được thay thế và báo

     chí bằng tiếng Việt được xuất bản ngày càng nhiều. Những tạp

     chí nổi tiếng trong thời kỳ Việt ngữ phôi thai là Nam Phong

     Tạp Chí do Phạm Quỳnh chủ trương và Đông Dương Tạp Chí do

     Nguyễn Văn Vĩnh sáng lập. Hai ông chủ báo này đều có khuynh

     hướng thân Pháp. Chủ trương chính trị của ông Quỳnh là xây

     dựng nền quân chủ lập hiến và ông Vĩnh thì chủ trương trực

     trị theo kiểu Pháp thuộc ở Nam Kỳ.

 

          Tú Mỡ, nhà thơ trào phúng thuộc nhóm Tự Lực Văn Đoàn -

     bất hợp tác với Pháp - đã làm thơ giễu các ông Quỳnh, Vĩnh,

     cho là hai dị nhân đất Việt:

 

                  Nước Nam có hai người tài

              Thứ nhất xừ Vĩnh thứ hai xừ Quỳnh

                  Một xừ béo múp rung rinh

              Một xừ lếu đếu như hình cò hương

                  Không vốn liếng chẳng ruộng nương

              Chỉ đem dư luận bán buôn làm giàu

                  Bây giờ đang xỉa xói nhau

              Người câu lập hiến kẻ câu trực quyền...

                                    (NAM HẢI D NHÂN)

 

     Ông Quỳnh từng bị một nhà thơ coi rẻ, ví như vua bếp...

 

                    Cục đất ngày xưa nó thế nào

                    Nay làm ông Táo chức quyền cao

                    Khéo đeo mặt lọ vênh vang thế

                    Chẳng hổ lưng khom khúm núm sao

                    Ngày những giữ nồi cho địa chủ

                    Quanh năm kiếm chuyện mách thiên tào

                    Một mai đất lại thành ra đất

                    Cái đãy chè xôi đáng giá bao

                                  (VNH ÔNG TÁO- Khuyết danh)

 

     Và cũng vì ham chút công danh mà bị đời châm chích:

 

                    Tin mới đâu vang khắp lưỡng kỳ

                    Thượng Chi rày đã hóa tham tri

                    Rõ nhà họ Phạm dư hồng phúc

                    Thật mệnh anh Quỳnh có tử vi

                    Kính trắng sẽ ra hàng báo chí

                    Bài vàng nay dựa đám quyền uy

                    Công gào lập hiến ừ không uổng

                    Trực trị như ai có ích gì

                          (PH[1]M QUỲNH LÀM QUAN - Khuyết danh)

     (Thượng Chi: bút hiệu của Phạm Quỳnh. Kính trắng: P.Q.

     thường đeo kính trắng. Bài vàng: thẻ bài bằng vàng ám chỉ

     P.Q. làm quan).

 

          Trong thời Pháp thuộc, còn biết bao nhiêu thơ văn trào

     phúng, như những viên đạn bắn vào các "quái thai thời đại"

     trong xã hội như hạng "me tây", "bồi tây", những "văn vật"

     đất Thăng Long:

 

                     Nghìn năm văn vật đất Thăng Long

                     Văn vật ngày nay mới lạ lùng

                     Tham biện tham buôn tham cán sự

                     Đốc người đốc chó đốc canh nông

                     Du côn mật thám đầy sông Nhị

                     Giăng-há ma-cô chật núi Nùng

                     Còn nữa xin ngưng không dám kể

                     Nghìn năm văn vật đất Thăng Long

                                    (NNVVĐTL - Khuyết danh)

 

          Lại có hạng trí thức vong bản, theo đòi Pháp học mà

     quên nguồn Việt, bị Tú Mỡ nêu đích danh chế giễu:

 

                        An Nam kể bọn nhân tài

                  Ông Khiêm thạc sĩ là người lừng danh

                        Đi Tây du học du hành

                   Học thi thi đỗ đã đành phục thay

                        Chiếm bằng trạng mẹo Âu Tây

                   Giỏi ghê giỏi gớm xưa nay mấy người...

                        Tiếng Tây ông nói làu làu

                   Hỏi vần quốc ngữ lắc đầu rằng "noong"!

                           ÔNG TR[1]NG MO PH[1]M DUY KHIÊM)

 

 

          Khi Việt Minh lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp kéo

     dài trong nhiều năm, nhân dân đã có thơ nhạo:

 

                   Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi

                   Chiến khu để của chú khiêng rồi

                   Thi đua kháng chiến thua đi mãi

                   Kháng chiến lâu dài khiến chán thôi

 

 

          Đến thời kỳ Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam, thống nhất

     đất nước, người dân Việt không được tự do ngôn luận trên báo

     chí, vì ngoài báo Đảng hoặc chịu sự chỉ đạo của Đảng, thì

     không có tờ báo hoặc tạp chí nào được tự do xuất bản. Nhưng

     dù kiểm soát cách nào, chính quyền Cộng Sản cũng không chận

     đứng được phản ứng của người dân, qua "bia miệng", bày tỏ

     những điều chế nhạo của họ.

 

          Dưới triều Ngô, khi hạn chế lưu thông ở các đường Tự Do

     và Công Lý, dân chúng đã có thơ giễu, ám chỉ nền tự do và

     công lý của triều này:

 

                    Tự Do có số, Công Lý một chiều

 

     (Xe có bảng số mới chạy được ở đường Tự Do; Công Lý là đường

     một chiều)

 

          Dưới chế độ Cộng Sản, đường Tự Do được đổi lại là đường

     Đồng Khởi, đường Công Lý đổi là Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Nhân dân

     cũng thấy tự do và công lý dưới chế độ này mất hết cả ý

     nghĩa, qua hai câu:

 

                   Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu Công Lý

                   Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do

 

         Khi người Cộng Sản vào miền Nam, họ tuyên bố sẽ hòa giải

    dân tộc, nhưng sau một thời gian lại đưa nhiều thành phần

    công chức, quân đội, đảng phái đi tù, dưới hình thức học tập

    cải tạo. Trong các trại giam, các tù nhân thường bị thiếu ăn,

    họ cám cảnh này bằng hai câu thơ:

 

                   Bát hồ bát cháo bát cơm

                Bát cơm bát cháo còn hơn bát hồ

 

         Lẽ dĩ nhiên, chữ "bát hồ" ở đây còn có ý nghĩa khác, nếu

    viết lại là: "bác Hồ".

 

          Còn biết bao nhiêu là "ca dao mới" của nhân dân được

     sáng tạo với ý nghĩa trào phúng để mô tả nhiều hiện tượng

     trong xã hội Cộng Sản, chẳng hạn, đảng viên ưa hưởng lạc rồi

     bỏ Đảng:

 

                      Sao vàng bảng đỏ

 

          (Nói lái theo giọng Nam: sang giàu bỏ Đảng)

 

     hay cán bộ tham nhũng:

 

                       Ba số 5 vừa năm vừa ký

 

          (Khi xin việc gì, người dân hối lộ cho cán bộ bao thuốc

     lá ba số 5, thì dễ được chấp thuận)

 

          Hoặc nói về sinh hoạt khó khăn của dân chúng sau năm

     1975:

 

          bốn chữ XHCN (Xã Hội Chủ Nghĩa) được diễn ra là: Xếp

     Hàng Cả Ngày (dân chúng phải mất nhiều thì giờ xếp hàng ở

     Mậu Dịch Quốc Doanh để mua hàng), hoặc Xạo Hết Chỗ Nói

     (đường lối tuyên truyền của Cộng Sản) v...v...

 

                                  *

                                 *  *

 

          Thi ca hài hước và trào phúng Việt Nam rất phong phú qua

     các thời kỳ trong lịch sử. Xã hội càng có nhiều hiện tượng

     xấu xa, nhiều cảnh huống gai chướng, nhiều bất công áp bức

     thì loại thơ này càng có đất nẩy nở và phát triển. Và khi tư

     tưởng của người dân không được tự do phát biểu thì tiếng nói

     châm biếm, trào phúng của họ càng thêm sôi nổi, mãnh liệt và

     sâu sắc, tồn tại với thời gian, để cảnh cáo người đời. Đó

     cũng là:

 

                       Trăm năm bia đá thì mòn

                  Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

 

 

                                                  VỌNG ĐÔNG

 

                         ***********************