| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Tấm
chân tình đằng sau những tiếng cười
Nhà
thơ Tú Mỡ
- Ông thường sử dụng bút danh Bút chiến đấu, và
đã thực sự tuyên chiến với bao thói hư tật xấu,
nhưng trong tâm trí của những bạn đồng niên và nhiều
người khác, đằng sau ngòi bút hóm hỉnh này là cả
một tấm chân tình. Ông luôn muốn chia sẻ với mọi
người, dù chỉ bằng tiếng cười. Bài viết của Nguyễn
Tý nhân kỷ niệm 104 năm ngày sinh nhà thơ trào phúng
Tú Mỡ (14/3/1900).
Vài nét về nhà thơ Tú Mỡ
Tú Mỡ tên thật là Hồ Trọng Hiếu. Sinh ngày 14/3/1900
tại Hà Nội. Xuất thân trong một gia đình tiểu thủ
công.
Lúc nhỏ, được học chữ Hán và chữ Quốc ngữ. Thời
Pháp thuộc, sau khi đỗ bằng Thành chung, làm Thư
ký ở Sở Tài chính.
Tác phẩm chính: Giòng nước ngược (tập I, 1934;
tập II,1941); Ðịch vận diễn ca (1949); Nụ cười kháng
chiến (1952); Anh hùng vô tận (1952); Trung du cười
chiến thắng; Nhà sư giết giặc (chèo); Rồng nan xuống
nước (tuồng); Tấm Cám (1955); Nụ cười chính nghĩa
(1958); Bút chiến đấu (1960); Ðòn bút (1962); Ông
và cháu (tập thơ thiếu nhi - 1970); Thơ Tú Mỡ (thơ
tuyển -1971)...
Sở dĩ ông có bút danh Tú Mỡ là vì vào năm 1918,
ông bắt đầu mê thơ Tản Đà và ông mến tài thơ và
tính khí khái của Tú Xương, hầu như bài thơ nào
của cụ Tú Xương ông đều học thuộc cả, ông tự trào
rằng Tú Mỡ “Mỡ mà chẳng Mỡ”.
Năm 1915, Tú Mỡ vào học trường Bưởi. Đây là ngôi
trường có nhiều học trò sau này đã trở thành các
trí thức uyên bác, nhà thơ, nhà văn, nhà văn hóa
nổi tiếng như Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Ngụy
Như KonTum, Tôn Thất Tùng, Phan Anh, Từ Giấy, Hoàng
Ngọc Phách, Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu. Nguyễn
Đình Thi, Nam Trân, Bàng Bá Lân, Đoàn Phú Tứ, Huyền
Kiêu, Nguyễn Khắc Viện, Việt Phương...
Theo Hoài Anh, Chân dung Văn học, tập I, NXB Hội
Nhà văn 2001 thì: Khi ấy cậu Hiếu vốn thông minh
và ranh mãnh hay trêu chọc các thầy cô giáo là Tây,
đầm. Thầy Tây khi ấy không biết tiếng Việt gọi học
sinh Hàn Dụng Cư là “Hàn Rụng Cu” (mọi lần thì gọi
học trò bằng con số). Thầy ra khỏi, học trò cười
ầm. Hiếu đứng dậy nói to: "Đó là thầy ra cho
chúng ta một vế đối. Tôi xin tức cảnh đối Hàn Rụng
Cu với Đỗ Quẳng Giái!”. Hiếu muốn nói đến tên anh
Đỗ Quang Giai, ngồi cạnh anh Cư. Cả lớp lại phá
lên cười. Cũng vì nghịch ngợm nên chỉ trong một
năm, Hiếu bị mất học bổng. Hiếu còn làm nhiều thơ
châm biếm các ông thầy Tây như ông Roudet và đặc
cho biệt hiệu là “Rùa” rằng: "Bâng khuâng tôi
nhớ cụ Rùa/Cái cổ thì rụt, cái mu lặc lè”.
Về đời thường, Tú Mỡ ít quan tâm đến việc ăn uống,
chuyện kể rằng, cô con gái ông nấu cơm vừa bị nát
vừa bị khê bị mẹ la, ông liền ứng khẩu "bênh"
con gái rằng:
Sống - bùi, nát - dẻo, khê - thơm/Đố ai nấu được
nồi cơm ba mùi. Rồi vui vẻ bảo cô con gái rằng:
"Con nấu cơm thế này là chưa giỏi vì còn thiếu
vị bùi".
Trong tình bạn, ông đối xử rất mực thước và chân
tình. Ông chơi thân với Hoàng Ngọc Phách tác giả
của tiểu thuyết Tố Tâm thời đi học thường gọi ông
là thằng "Bố lếu". Năm 1973, Hoàng Ngọc
Phách mắc bệnh, ông đã làm thơ tặng: Mấy lời thăm
hỏi bác Song An/Có phải va li đã sẵn sàng?/ Đấy
thằng "bố lếu" thơ tinh ngịch/ Đây bạn
"cô le" nghĩa cũ càng/ Bác thượng thọ
rồi tôi cũng thượng/ Bác ra tàu trước đệ còn khoan".
Nghe xong, Hoàng Ngọc Phách cười và ít ngày sau,
Hoàng Ngọc Phách trút hơi thở cuối cùng.
Khi nhà văn Nguyễn Công Hoan vào bệnh viện chữa
mắt, ông làm thơ Tặng con mắt Bác Hoan và hỏi:
"Bác không tham sắc chẳng tham tài/Cái mắt
sao nhìn một hóa hai/Bác gái vào thăm duy có một/Con
ngươi nhìn chệch hóa thành đôi...". Và khi
Nguyễn Công Hoan vào bệnh viện nằm cùng ông, hai
ông đã làm thơ xướng họa với nhau, mãi đến khi Nguyễn
Công Hoan mất.
Có lần Hội Nhà văn Việt Nam đã lập Ban tang lễ,
nhưng lại là lễ tang hụt vì Tú Mỡ vẫn sống, ông
gửi tiếng cười cảm ơn đồng nghiệp và nhắn rằng:
"Lần sau có định làm tang lễ/Thì xin tổ chức
đám ma vui".
Nguyễn Tý ( VNNET)

|