| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Nhân
ngày sinh cuả Nguyễn Bỉnh Khiêm ( 06- 4- 1491)
I
NGUYỄN BỈNH KHIÊM- CUỘC ÐỜI
VÀ THƠ VĂN
II
Sấm
Trạng Trình --- Mỗi một câu là một lời tiên tri
....
III Giai
thoại về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
IV.
Đền thờ Trạng Trình Nguyễn
Bỉnh Khiêm (Vĩnh Bảo, Hải Phòng)
V.
Danh nhân thời Lê - Mạc Trình
quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm
1491, mất năm 1585, người làng Trung Am, huyện Vĩnh
Lại (nay là xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành
Hải Phòng). Sinh trưởng trong một gia đình vọng
tộc (cháu ngoại quan thượng thư Nhữ Văn Lan) có
học vấn, cả hai thân mẫu đều là những người có văn
tài học hạnh nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã hấp
thụ truyền thống gia giáo kỷ cương. Nhất là phụ
mẫu của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tương truyền bà là người
giỏi giang văn tài và tinh thông địa lý, tướng số.
Ngay từ khi Nguyễn Bỉnh Khiêm cất tiếng khóc chào
đời, thấy con mình có tướng mạo khác thường, bà
đã dốc lòng đào tạo con trai thành một tài năng
giúp nước, cứu đời. Niềm thôi thúc đó khiến Nguyễn
Bỉnh Khiêm sớm tìm được thầy học có đạo cao đức
cả là cụ bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Với trí tuệ mẫn
tiệp, thông minh từ nhỏ, lại gặp thầy giỏi khác
nào như rồng gặp mây. Nguyễn Bỉnh Khiêm sớm thành
tài năng kiệt xuất nổi tiếng. Và sau này, tài học
vấn uyên thâm của ông đã vượt xa thầy. Tương truyền
Lương Đắc Bằng là người giỏi lý học, đã đem sách
Thái ất thần kinh ra dạy cho học trò, nhưng có những
điều trong sách ấy Lương Đắc Bằng cũng không hiểu
được mà chỉ có Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này mới tinh
thông.
Lớn lên trong một giai đoạn lịch sử nhà Lê suy
thoái, các phe phái trong triều đố kỵ, chém giết
lẫn nhau. Năm 1572, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà
Lê lập ra một triều đại mới. Thế là suốt cuộc đời
thanh niên trai trẻ, Nguyễn Bỉnh Khiêm phải sống
trong ẩn dật, không thi thố được tài năng. Mãi tới
năm 1535. Lúc này đã 45 tuổi, ông mới đi thi. Ba
lần thi Hương, thi Hội, thi Đình ông đều đỗ đầu
và đỗ Trạng nguyên. Từ đấy, ông làm quan với tân
triều, nhà Mạc phong chức Tả thị lang (chức đứng
hàng thứ ba trong bộ Hình). Triều đình nhà Mạc rất
trân trọng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông hy vọng triều
đại nhà Mạc có thể xây dựng lại đất nước. Lúc này,
Mạc Đăng Dung đã nhường ngôi cho con là Mạc Đăng
Doanh và rút về làm Thái thượng hoàng. Doanh là
người tỏ ra có chí khí đảm lược. Nguyễn Bỉnh Khiêm,
một nhà học giả uyên thâm, một trí thức dân tộc
đã nhìn thấy điều đó. Và ông hy vọng: với nhân vật
này, triều đại mới có thể đưa đất nước thoát khỏi
tình trạng rối ren mà vua tôi nhà Lê và các tập
đoàn phong kiến trước đó gây ra.
Nhưng niềm tin đó bị thất vọng. Là một học giả,
học rộng biết nhiều, trong thơ ông hay nhắc tới
sự thăng trầm "thương hải biến vi tang điền"
(biển xanh biến thành nương dâu) của trời đất, tạo
vật và cuộc đời trôi nổi như "phù vân".
Ông thương xót cho "vận mệnh" quốc gia
và cảm thông sâu sắc tình cảnh của "dân đen",
"con đỏ". Ông thật sự mong muốn đất nước
thịnh vượng, thái bình. Tương truyền, hình như để
tránh những cuộc binh đao khói lửa, tương tàn cho
chúng dân và nhìn thấy trước thời cuộc, "vận
mệnh" của đất nước trong hoàn cảnh ấy chưa
thể có những lực lượng đảm đương được việc thống
nhất, nên khi các tập đoàn phong kiến đến hỏi kế
sách, ông đều bày cho họ những phương sách khác
nhau để giữ thế "chân vạc". Năm 1568,
Nguyễn Hoàng thấy anh là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm
sát hại, lo cho "số phận" nên đã ngầm
cho người hỏi kế an thân, Nguyễn Bỉnh Khiêm nói:
"Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân"
(ngụ ý nói: Dựa vào một dải Hoành sơn có thể lập
nghiệp được lâu dài). Thế là Nguyễn Hoàng tức tốc
xin anh rể là Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận
Hóa (từ Đèo Ngang trở vào).
Tại Thăng Long, thời ấy chúa Trịnh cũng ra sức
ức hiếp vua Lê và muốn phế bỏ, liền cho người hỏi
ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không trả lời và lẳng
lặng dẫn sứ giả ra thăm chùa và nói với nhà sư:
"Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản", ngụ ý
muốn khuyên chúa Trịnh cứ tôn phò nhà Lê thì quyền
hành tất giữ được. Nếu tự ý phế lập sẽ dẫn đến binh
đao. Còn đối với nhà Mạc, sau những cuộc chiến tranh
liên miên, phải bỏ chạy lên Cao Bằng thế thủ, vua
Mạc cho người về hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông
đã trả lời: "Cao Bằng tuy thiển, khả diên sổ
thể" (Cao Bằng tuy đất hẹp, nhưng có thể giữ
được vài đời). Quả nhiên, mãi đến năm 1688, sau
ba đời giữ đất Cao Bằng, nhà Mạc mới bị diệt. Các
truyền thuyết trên đây muốn chứng tỏ rằng Nguyễn
Bỉnh Khiêm là người có tài tiên đoán, đo nắm được
bí truyền của sách Thái ất thần kinh. Vả lại còn
truyền thuyết nữa về Trạng Trình với tập Trình quốc
công sấm ký. Tương truyền trong tập sách đó, ông
đã tiên tri và biết trước các sự việc nhân tình
thế thái, thời cuộc xảy ra "năm trăm năm sau".
Thực, hư thế nào, còn là vấn đề cần phải nghiên
cứu khẳng định hay phủ định của các nhà học giả
Việt Nam sau này để trả lại giá trị xứng đáng cho
Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đương nhiên, một điều cần khẳng
định: Nguyễn Bỉnh Khiêm thật sự là nhà học giả "thượng
thông thiên văn, hạ tri địa lý, trung tri nhân sự"
(trên trời hiểu thiên văn, dưới đất tường địa lý,
ở giữa hiểu con người).
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho hậu thế những tác
phẩm văn thơ có giá trị như: Tập thơ Bạch Vân (gồm
hàng trăm bài thơ chữ Hán còn lưu lại) và hai tập:
Trình quốc công Bạch vân thi tập và Trình quốc công
Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập hay còn gọi là Bạch Vân
quốc ngữ thi (với hàng trăm bài thơ chữ Nôm). Thơ
Nguyễn Bỉnh Khiêm giàu chất liệu hiện thực, mang
tính triết lý sâu xa của thời cuộc. Ông phê phán
gay gắt bọn tham quan ô lại hút máu, hút mủ của
dân. Thơ ông còn truyền đạt cho đời một đạo lý đối
nhân xử thế, đạo vua tôi, cha con và quan hệ bầu
bạn, hàng xóm láng giềng. Đọc thơ ông là thấy cả
một tấm lòng lo cho nước, thương đời, thương dân,
và một tâm hồn suốt đời da diết với đạo lý: "Tiên
thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi
lạc" (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau
cái vui của thiên hạ). Vì thế khi về ở ẩn, ông vẫn
mở trường dạy học, mong đào tạo cho đời những tài
năng "kinh bang tế thế". Học trò của ông
cũng có người trở thành danh tướng, Trạng nguyên
như: Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Quyền...
Có thể nói ở thế kỷ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà
triết học lớn của Việt Nam. Tư tưởng triết học của
ông "không bận tâm đi vào xu hướng duy lý...
đi tìm khái niệm bản thể luận như Lão Tử, như triết
học Phật giáo hay cái phóng nhiệm nhiều lúc đến
ngụy biện của Trang Tử. Ông hiểu sâu sắc triết học
Tống Nho nhưng không đi vào sự câu nệ vụn vặt, không
lý giải quá sâu cái lý, có khi rắc rối, hoặc chẻ
sợi tóc làm tư để tìm hiểu, biện giải nhiều thứ
mơ hồ rối rắm trong những khái niệm hỗn tạp đó.
Với sự uyên thâm vốn có, ông được triều đình nhà
Mạc và sĩ phu đương thời phong là Trình tuyền hầu,
tức là một vị Hầu tước khơi nguồn dòng suối triết
học của họ Trình (tức Trình Di, Trình Hiện - hai
nhà triết học khai phá ra phái Lạc Dương của Tống
Nho), hoặc đời còn gọi ông là cụ Trạng Trình. Tuy
vậy, triết học của ông là triết học đã được sống
dậy, biểu hiện trong thơ như sự gợi ý mách bảo của
cuộc sống thực tiễn. Ông chắt lọc từ trong nhận
thức triết học mà mình thu lượm được, phép biện
chứng nhìn bên ngoài có vẻ như thô sơ để giải đáp
nhiều hiện tượng tự nhiên và xã hội nảy sinh ở quanh
mình. Trong thơ ông, ngoài mặt triết lý nhân sinh,
nổi bật lên những suy ngẫm chiêm nghiệm, đúc kết
như muốn vươn lên khái quát "luật" đời
bằng những phạm trù triết học. Vì lẽ đó, ông rất
hay dùng đến những cặp phạm trù đối lập như: đen
- trắng, tốt - xấu, đầy - vơi, sinh - diệt, vuông
- tròn, để giãi bày quan niệm triết lý nhân sinh
của mình.
Tuy nhiên, "một hạn chế dễ nhận thấy trong
tư tưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm là tuy
nắm được phép biện chứng, nhưng vẫn nặng về duy
tâm. Quan niệm về sự phát triển của ông còn nằm
trong khung tròn khép kín chứ chưa phải là vòng
tròn xoáy ốc. Đó là sự phát triển tuần hoàn, là
cái phép biện chứng của Chu dịch... ông đã nhận
được trong nền giáo dục Nho học đương thời, cộng
với phép biện chứng thô sơ của Lão Tử trong Đạo
đức kinh. Đó cũng là những hạn chế đương nhiên của
rất nhiều nhà triết học cổ đại" (Đào Thái Tôn).
Nhìn lại toàn bộ tiến trình lịch sử và con người
thế kỷ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm(1) xứng đáng là "cây
đại thụ", nhà học giả, nhà triết gia của thế
kỷ.
Giai
thoại về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
Năm 1991, kỷ niệm 500 năm,
năm sinh của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà
lý học nổi tiếng của Việt Nam, người mà sau này
Phan Huy Chú trong bộ sách lớn Lịch triều hiến chương
loại chí đã nhận xét là: "Một bậc kỳ tài, hiển
danh muôn thuở". Đây là một Trạng Nguyên có
nhiều giai thoại rất phong phú của nước ta và được
bao phủ một lớp màn thật là bí ẩn. Dưới dây xin
lược kể một vài giai thoại ấy.
Cậu bé thần đồng họ Nguyễn này khi chưa đầy tuổi,
một hôm đã chỉ vào mặt trời đang mọc mà nói "Ô!
Mặt trời mọc đằng Đông!".
Tại quê nội và ngoại của Trạng, khách đi thăm còn
được nghe một giai thoại về những lời tiên tri của
Nguyễn Bỉnh Khiêm mà các vị cao niên coi là rất
đúng như câu:
Bao giờ Tiên Lãng chia đôi,
Sông Hàn nối lại thì tôi lại về.
Quả là Tiên Lãng có con sông đào cắt đôi huyện
mới được khơi lại, và năm 1985 cũng là năm kỷ niệm
400 năm ngày mất của Nguyễn Bỉnh Khiêm, cầu phao
được bắc qua sông Hàn để các đại biểu toàn quốc
về thăm quê hương Trạng. Khi đó, đền Nguyễn Bỉnh
Khiêm được trùng tu, một hội nghị khoa học lớn về
Nguyễn Bỉnh Khiêm được tổ chức. Tên tuổi Nguyễn
Bỉnh Khiêm được đánh giá lại (Tôi lại về!).
Nhiều cụ rất thích và tin những câu sau đây mà các
cụ cho là nói về việc giải phóng Thủ đô năm 1954,
sau 80 năm Hà Nội bị đặt dưới sự đô hộ của Pháp
theo Điều ước Giáp Tuất 1874:
Cửu cửu kiền khôn dĩ định,
Thanh minh thời tiết hoa tàn.
Trực đáo dương đầu, mã vĩ,
Hồ binh bát vận nhập Tràng An.
(Đạo càn khôn đã định rằng 9 lần 9 là 81 năm âm
lịch.
Từ tiết Thanh minh, sau khi chiến dịch Điện Biên
Phủ mở màn, quân Pháp bước vào thời kỳ tàn lụi.
Kịp đến đầu năm Mùi 1955, cuối năm Ngựa 1954.
Tám vạn quân cụ Hồ (8 sư đoàn) kéo về tiếp quản
Thủ đô).
Những câu trên có in trong các sách viết về Nguyễn
Bỉnh Khiêm từ trước 1945 (Nhà xuất bản Đại La),
cũng như có trong các bản Hán - Nôm ở Viện Viễn
đông Bác cổ trước đây (chẳng hạn các bản AB444,
AB345, v.v...), nên có nhiều người tin đó là lời
dự báo. Điều đó cũng ngụ vào trong một vế câu đối
trước đền mà nhân dân muốn nói về tài biết trước
của Trạng: Lý học thâm nguyên Trình tiên giác (Trạng
Trình thâm nguyên lý học biết trước các việc).
Chúng ta cũng biết thêm rằng nơi đây khi xưa, La
Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, người mà vua Quang Trung
tôn làm bậc thầy, đã từng về thăm, và trong bài
thơ Quá Trình tuyền mục tự (Qua thăm đền cũ Trạng
Trình) đã xem Trạng là người có tài "Huyền
cơ tham tạo hóa" (Nắm được máy huyền vi, xen
vào công việc của tạo hóa). Còn Vũ Khâm Lân, tiến
sĩ đời Hậu Lê, đã làm bia ở đền Trạng và nói rằng
danh tiếng Trạng "như núi Thái Sơn, sao Bắc
Đẩu, nghìn năm sau như vẫn một ngày". (HỒNG
NHẬT )
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Cuộc đời, bối cảnh lịch sử
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585)
người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại (nay là xã Cổ
Am, huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng) có trí
tuệ thông minh mẫn tiệp từ nhỏ. Ông để lại cho hậu
thế nhiều tác phẩm thơ văn có giá trị, mang tính
triết học cao, xứng đáng là "cây đại thụ",
nhà học giả, triết gia của thế kỷ 16.
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491, mất năm 1585,
người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại (nay là xã Cổ
Am, huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng). Sinh
trưởng trong một gia đình vọng tộc (cháu ngoại quan
thượng thư Nhữ Văn Lan) có học vấn, cả hai thân
mẫu đều là những người có văn tài học hạnh nên Nguyễn
Bỉnh Khiêm từ sớm đã hấp thụ truyền thống gia giáo
kỷ cương. Nhất là phụ mẫu của Nguyễn Bỉnh Khiêm,
tương truyền bà là người giỏi giang văn tài và tinh
thông địa lý, tướng số. Ngay từ khi Nguyễn Bỉnh
Khiêm cất tiếng khóc chào đời, thấy con mình có
tướng mạo khác thường, bà đã dốc lòng đào tạo con
trai thành một tài năng giúp nước, cứu đời. Niềm
thôi thúc đó khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm sớm tìm được
thầy học có đạo cao đức cả là cụ bảng nhãn Lương
Đắc Bằng. Với trí tuệ mẫn tiệp, thông minh từ nhỏ,
lại gặp thầy giỏi khác nào như rồng gặp mây. Nguyễn
Bỉnh Khiêm sớm thành tài năng kiệt xuất nổi tiếng.
Và sau này, tài học vấn uyên thâm của ông đã vượt
xa thầy. Tương truyền Lương Đắc Bằng là người giỏi
lý học, đã đem sách Thái ất thần kinh ra dạy cho
học trò, nhưng có những điều trong sách ấy Lương
Đắc Bằng cũng không hiểu được mà chỉ có Nguyễn Bỉnh
Khiêm sau này mới tinh thông.
Lớn lên trong một giai đoạn lịch sử nhà Lê suy
thoái, các phe phái trong triều đố kỵ, chém giết
lẫn nhau. Năm 1572, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà
Lê lập ra một triều đại mới. Thế là suốt cuộc đời
thanh niên trai trẻ, Nguyễn Bỉnh Khiêm phải sống
trong ẩn dật, không thi thố được tài năng. Mãi tới
năm 1535. Lúc này đã 45 tuổi, ông mới đi thi. Ba
lần thi Hương, thi Hội, thi Đình ông đều đỗ đầu
và đỗ Trạng nguyên. Từ đấy, ông làm quan với tân
triều, nhà Mạc phong chức Tả thị lang (chức đứng
hàng thứ ba trong bộ Hình). Triều đình nhà Mạc rất
trân trọng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông hy vọng triều
đại nhà Mạc có thể xây dựng lại đất nước. Lúc này,
Mạc Đăng Dung đã nhường ngôi cho con là Mạc Đăng
Doanh và rút về làm Thái thượng hoàng. Doanh là
người tỏ ra có chí khí đảm lược. Nguyễn Bỉnh Khiêm,
một nhà học giả uyên thâm, một trí thức dân tộc
đã nhìn thấy điều đó. Và ông hy vọng: với nhân vật
này, triều đại mới có thể đưa đất nước thoát khỏi
tình trạng rối ren mà vua tôi nhà Lê và các tập
đoàn phong kiến trước đó gây ra.
Nhưng niềm tin đó bị thất vọng. Là một học giả,
học rộng biết nhiều, trong thơ ông hay nhắc tới
sự thăng trầm "thương hải biến vi tang điền"
(biển xanh biến thành nương dâu) của trời đất, tạo
vật và cuộc đời trôi nổi như "phù vân".
Ông thương xót cho "vận mệnh" quốc gia
và cảm thông sâu sắc tình cảnh của "dân đen",
"con đỏ". Ông thật sự mong muốn đất nước
thịnh vượng, thái bình. Tương truyền, hình như để
tránh những cuộc binh đao khói lửa, tương tàn cho
chúng dân và nhìn thấy trước thời cuộc, "vận
mệnh" của đất nước trong hoàn cảnh ấy chưa
thể có những lực lượng đảm đương được việc thống
nhất, nên khi các tập đoàn phong kiến đến hỏi kế
sách, ông đều bày cho họ những phương sách khác
nhau để giữ thế "chân vạc". Năm 1568,
Nguyễn Hoàng thấy anh là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm
sát hại, lo cho "số phận" nên đã ngầm
cho người hỏi kế an thân, Nguyễn Bỉnh Khiêm nói:
"Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân"
(ngụ ý nói: Dựa vào một dải Hoành sơn có thể lập
nghiệp được lâu dài). Thế là Nguyễn Hoàng tức tốc
xin anh rể là Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận
Hóa (từ Đèo Ngang trở vào).
Tại Thăng Long, thời ấy chúa Trịnh cũng ra sức
ức hiếp vua Lê và muốn phế bỏ, liền cho người hỏi
ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không trả lời và lẳng
lặng dẫn sứ giả ra thăm chùa và nói với nhà sư:
"Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản", ngụ ý
muốn khuyên chúa Trịnh cứ tôn phò nhà Lê thì quyền
hành tất giữ được. Nếu tự ý phế lập sẽ dẫn đến binh
đao. Còn đối với nhà Mạc, sau những cuộc chiến tranh
liên miên, phải bỏ chạy lên Cao Bằng thế thủ, vua
Mạc cho người về hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông
đã trả lời: "Cao Bằng tuy thiển, khả diên sổ
thể" (Cao Bằng tuy đất hẹp, nhưng có thể giữ
được vài đời). Quả nhiên, mãi đến năm 1688, sau
ba đời giữ đất Cao Bằng, nhà Mạc mới bị diệt. Các
truyền thuyết trên đây muốn chứng tỏ rằng Nguyễn
Bỉnh Khiêm là người có tài tiên đoán, đo nắm được
bí truyền của sách Thái ất thần kinh. Vả lại còn
truyền thuyết nữa về Trạng Trình với tập Trình quốc
công sấm ký. Tương truyền trong tập sách đó, ông
đã tiên tri và biết trước các sự việc nhân tình
thế thái, thời cuộc xảy ra "năm trăm năm sau".
Thực, hư thế nào, còn là vấn đề cần phải nghiên
cứu khẳng định hay phủ định của các nhà học giả
Việt Nam sau này để trả lại giá trị xứng đáng cho
Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đương nhiên, một điều cần khẳng
định: Nguyễn Bỉnh Khiêm thật sự là nhà học giả "thượng
thông thiên văn, hạ tri địa lý, trung tri nhân sự"
(trên trời hiểu thiên văn, dưới đất tường địa lý,
ở giữa hiểu con người).
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho hậu thế những tác
phẩm văn thơ có giá trị như: Tập thơ Bạch Vân (gồm
hàng trăm bài thơ chữ Hán còn lưu lại) và hai tập:
Trình quốc công Bạch vân thi tập và Trình quốc công
Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập hay còn gọi là Bạch Vân
quốc ngữ thi (với hàng trăm bài thơ chữ Nôm). Thơ
Nguyễn Bỉnh Khiêm giàu chất liệu hiện thực, mang
tính triết lý sâu xa của thời cuộc. Ông phê phán
gay gắt bọn tham quan ô lại hút máu, hút mủ của
dân. Thơ ông còn truyền đạt cho đời một đạo lý đối
nhân xử thế, đạo vua tôi, cha con và quan hệ bầu
bạn, hàng xóm láng giềng. Đọc thơ ông là thấy cả
một tấm lòng lo cho nước, thương đời, thương dân,
và một tâm hồn suốt đời da diết với đạo lý: "Tiên
thiên hạ chi ưu phi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi
lạc" (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau
cái vui của thiên hạ). Vì thế khi về ở ẩn, ông vẫn
mở trường dạy học, mong đào tạo cho đời những tài
năng "kinh bang tế thế". Học trò của ông
cũng có người trở thành danh tướng, Trạng nguyên
như: Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Quyền...
Có thể nói ở thế kỷ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà
triết học lớn của Việt Nam. Tư tưởng triết học của
ông "không bận tâm đi vào xu hướng duy lý..."
đi tìm khái niệm bản thể luận như Lão Tử, như triết
học Phật giáo hay cái phóng nhiệm nhiều lúc đến
ngụy biện của Trang Tử. Ông hiểu sâu sắc triết học
Tống Nho nhưng không đi vào sự câu nệ vụn vặt, không
lý giải quá sâu cái lý, có khi rắc rối, hoặc chẻ
sợi tóc làm tư để tìm hiểu, biện giải nhiều thứ
mơ hồ rối rắm trong những khái niệm hỗn tạp đó.
Với sự uyên thâm vốn có, ông được triều đình nhà
Mạc và sĩ phu đương thời phong là Trình tuyền hầu,
tức là một vị Hầu tước khơi nguồn dòng suối triết
học của họ Trình (tức Trình Di, Trình Hiện - hai
nhà triết học khai phá ra phái Lạc Dương của Tống
Nho), hoặc đời còn gọi ông là cụ Trạng Trình. Tuy
vậy, triết học của ông là triết học đã được sống
dậy, biểu hiện trong thơ như sự gợi ý mách bảo của
cuộc sống thực tiễn. Ông chắt lọc từ trong nhận
thức triết học mà mình thu lượm được, phép biện
chứng nhìn bên ngoài có vẻ như thô sơ để giải đáp
nhiều hiện tượng tự nhiên và xã hội nảy sinh ở quanh
mình. Trong thơ ông, ngoài mặt triết lý nhân sinh,
nổi bật lên những suy ngẫm chiêm nghiệm, đúc kết
như muốn vươn lên khái quát "luật" đời
bằng những phạm trù triết học. Vì lẽ đó, ông rất
hay dùng đến những cặp phạm trù đối lập như: đen
- trắng, tốt - xấu, đầy - vơi, sinh - diệt, vuông
- tròn, để giãi bày quan niệm triết lý nhân sinh
của mình.
Tuy nhiên, "một hạn chế dễ nhận thấy trong
tư tưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm là tuy
nắm được phép biện chứng, nhưng vẫn nặng về duy
tâm. Quan niệm về sự phát triển của ông còn nằm
trong khung tròn khép kín chứ chưa phải là vòng
tròn xoáy ốc. Đó là sự phát triển tuần hoàn, là
cái phép biện chứng của Chu dịch... ông đã nhận
được trong nền giáo dục Nho học đương thời, cộng
với phép biện chứng thô sơ của Lão Tử trong Đạo
đức kinh. Đó cũng là những hạn chế đương nhiên của
rất nhiều nhà triết học cổ đại" (Đào Thái Tôn).
Nhìn lại toàn bộ tiến trình lịch sử và con người
thế kỷ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm(1) xứng đáng là "cây
đại thụ", nhà học giả, nhà triết gia của thế
kỷ. ( N.D)

|