:::Phùng Quán:::
Người Bạn Lính Cùng Một
Tiểu Đội
Trích hồi ký của PHÙNG QUÁN
LTS (D Ð-Paris) - Phùng Quán đã từ trần ngày 22 tháng
1 năm 1995. Nhân ngày giỗ lần thứ năm của nhà văn, chúng
tôi xin trích đăng phần đầu một chương hồi ký mà tác
giả viết khoảng 1991-92. Chương này kể lại những kỉ
niệm về Tuân Nguyễn, người bạn cùng tiểu đội của ông.
Phùng Quán bị đánh thời Nhân văn (56-58), Tuân Nguyễn
bị đánh năm 64, trước cả " vụ xét lại ". Ðây
vừa là một chứng từ chân thực, vừa là một áng văn đầy
ắp tình người. Cảm ơn Thông điệp xanh đã vui lòng cho
phép đăng lại chương hồi ký này.
Vào những năm đầu của thập kỷ sáu mươi (1960), trên
các mặt báo trung ương và địa phương các trang thơ tràn
ngập đề tài sản xuất, chiến đấu, ca ngợi các hợp tác
xã điển hình, các nông trường, các nhà máy, hầm mỏ tiên
tiến, nào " sóng Duyên Hải, gió Ðại Phong ",
nào gương người tốt việc tốt, tố cáo tội ác Mỹ Diệm...,
thôi thì đủ thứ.
Bỗng dưng, trên một trang thơ tuần báo Văn Nghệ của
Hội Nhà văn Việt Nam xuất hiện một bài thơ tứ tuyệt,
nhan đề : Nghe nhạc Strauss.Tên tác giả lạ hoắc : Tuân
Nguyễn.
Ðã hơn ba mươi năm trôi qua kể từ ngày ấy, nhưng bài
thơ nọ vẫn đọng lại tinh khôi trong trí nhớ của tôi.
Sóng sông Hồng bỗng xanh màu Danube
Nhạc bồng bềnh trôi tới các vì sao...
Trời lung linh khẽ chao mình theo nhịp
Những người nước lạ phải lòng nhau...
Ðề tài và nội dung bài thơ lạc lõng giữa biển thơ-hiện-thực
sục sôi, nóng bỏng, thơ-minh-họa cho cuộc đấu tranh
giai cấp " long trời lở đất ", khẳng định
con đường " ai thắng ai ".
Như thể tự thấy mình chẳng giống ai, bài thơ đã tứ tuyệt
rồi mà vẫn còn nép mình ở góc cuối trang báo, khiêm
nhường, nhỏ thó với vẻ ngơ ngác, lo lắng, nhìn lên những
bài thơ bốc lửa, hừng hực khí thế đấu tranh, sang sảng
lạc quan cách mạng của những tên tuổi thời thượng...
Có điều lạ là ngay sau khi xuất hiện, bài thơ nhỏ bé
nọ lập tức nổi tiếng, được nhiều độc giả mến mộ thơ
ngày đó nhắc nhở, truyền tụng ; nhiều đôi trai gái chép
vào sổ tay tặng nhau...
&
Mùa hè năm 1950. Trảng cát Phong Chương bắc Thừa Thiên
bị rang bỏng dưới cái nắng như dội lửa. Gió Lào khô
rát thổi tung cát thành những đám mây, phủ trùm lên
một vùng cỏ cây cằn cỗi, nhuộm màu cháy xém.
Tôi lúc đó là tiểu đội trưởng một tiểu đội mũi nhọn
trong đại đội chủ công trung đoàn quân chủ lực 101.
Tôi cùng tiểu đội dầm mình trong cát bỏng, gió Lào,
mải mê luyện tập môn đánh bộc phá, chuẩn bị cho chiến
dịch hè thu.
Tiểu đội tôi trẻ nhất đại đội, toàn những chàng trai
17, 18, 19... Tôi đang làm thị phạm động tác ôm thủ
pháo chuẩn bị lao lên đột phá khẩu thì cậu Tiệm, liên
lạc viên của đại đội, tay xách tiểu liên " Tuyn
", đầu đội mũ nan giắt đầy lá ngụy trang, chạy
như ngựa tế băng qua những động cát, nhảy phóc qua những
dãy xương rồng gai mặt nguyệt, chạy thẳng đến bãi tập.
Tiệm đứng nghiêm, đưa tay lên vành mũ chào, vừa nói,
vừa thở : " Báo cáo tiểu đội trưởng ! Ðại đội trưởng
triệu tập đồng chí về ngay đại đội bộ ! Hết ! "
Tôi giao tiểu đội lại cho tiểu đội phó tiếp tục khoa
mục tập. Khoác lên vai khẩu tiểu liên " Mát "
tôi hộc tốc chạy theo Tiệm về đại đội bộ. Tôi đoán chừng
đại đội trưởng điều động tiểu đội tôi đi phối hợp chiến
đấu với một đơn vị nào đó.
&
Ðại đội trưởng chỉ hơn tôi ba bốn tuổi, cũng trẻ măng,
nhưng đã được tặng thưởng huân chương Quân công. Anh
đang ngồi trước bộ tràng kỷ bằng tre. Trên bàn một siêu
nước lá vàng và mấy cái bát sành. Ngồi đối diện với
anh là một thanh niên trạc tuổi tôi, dáng dấp học trò,
tóc chải ốp, áo sơ mi màu trứng sáo, quần tây xám, chân
dận dép săng đan da. Anh ta đeo kính trắng, cái miệng
thật rộng và thật tươi.
- Báo cáo Ðại đội trưởng ! Tiểu đội trưởng Quán có mặt
!
Ðại đội trưởng chỉ chiếc ghế tre chỗ cạnh anh, nói :
- Quán ngồi xuống đây.
Anh rót cho tôi một bát nước lá vàng đắng ngắt vị bộc
phá.
Chờ tôi uống cạn bát nước và kéo vạt áo quân phục sũng
mồ hôi lau gương mặt sạm đen, đầy bụi cát, anh giới
thiệu một thanh niên lạ mặt ngồi đối diện :
- Ðồng chí Nguyễn Tuân đây hoạt động trong phong trào
học sinh kháng chiến nội thành. Tuân học trường Providence,
đỗ tú tài toán. Vừa rồi, sau vụ học sinh bãi khoá, Tuân
bị lộ. Thị ủy Huế bố trí cho Tuân theo đường dây lên
chiến khu. Nguyện vọng của Tuân là được gia nhập quân
đội. Trung đoàn tiếp nhận, bố trí đồng chí ấy làm việc
tại phòng Chính trị. Nhưng Tuân lại tha thiết muốn được
cầm súng chiến đấu. Trên cử đồng chí ấy về đại đội ta.
Tôi đã trao đổi với chính trị viên. Chúng tôi quyết
định : Tuân sẽ về tiểu đội của Quán. Qua thư giới thiệu
của Phòng chính trị trung đoàn, thì Tuân giỏi tiếng
Pháp, tiếng Anh, biết cả chữ Hán, lại có khả năng sáng
tác văn thơ... Chúng tôi nghĩ hai đồng chí cùng trạc
lứa tuổi, lại cùng thích văn thơ, chắc sẽ hợp nhau...
&
Tôi đăm đăm nhìn người đội viên mới của tiểu đội mình.
ý nghĩ đầu tiên là cậu ta quá thư sinh, đã thế dáng
dấp lại còm nhom, hai cánh trần nom như hai ống quyển,
và hai cẳng chân chắc cũng không to hơn. Thế mà hành
trang một người lính trận thì nào súng, cơ số đạn, lựu
đạn, bộc phá, ruột tượng gạo, ống muối, ba lô... Khi
cần tuýt một tiếng còi chỉ huy, tất cả phải nằm gọn
trên lưng, trên vai, quanh thắt lưng chỉ trong vòng
ba phút. Và phải lên đường hành quân bất kể ngày đêm,
bất kể sấm chớp, mưa bão, lửa đạn...Tự nhiên tôi đâm
giận hắn. Chắc khi ngồi mài đũng quần trên ghế nhà trường,
cậu ta say sưa đọc câu thơ " Bụi trường chinh phai
bạc áo hào hoa ", mơ mộng thấy đời lính trận mê
ly lắm. Chỉ cần mấy hôm thôi, cậu ta sẽ thấm đòn thế
nào là " phai bạc áo hào hoa ". Sao hắn ta
không ở lại trung đoàn bộ làm lính văn phòng có hơn
không ?
" Ðồng chí Quán vào Vệ Quốc Ðoàn từ trước ngày
Huế nổ súng - lời giới thiệu của Ðại đội trưởng về tôi
cho Tuân nghe cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi - Quán
đã tham gia chiến đấu ở mặt trận Huế, rồi mặt trận phía
Nam, đèo Phát Tượng, Truồi, Nong... Tuy cùng trạc lứa
tuổi với đồng chí, nhưng Quán là cựu binh của Trung
đoàn, giãi dầu trận mạc không thua chúng tôi đâu. Quán
còn là cây văn nghệ quần chúng của đại đội. Chúng tôi
mong hai cậu sẽ thân thiết nhau.
Tôi và Tuân Nguyễn biết nhau từ đó.
&
Khi hai chúng tôi đã khá thân nhau, tôi thường đọc
cho Tuân nghe thơ tôi làm. Những bài thơ tràng giang
đại hải, sặc mùi lính tráng.
Một hôm, nhân bàn chuyện thơ, Tuân hỏi tôi :
- Này, cậu có biệt hiệu không ?
- Có chứ, tôi đáp. Lúc đầu mình lấy biệt hiệu là Lúa
Xanh. Nhưng sau đó nghe nó thối thối làm sao ấy, nên
bỏ. Ðang cố rặn ra một biệt hiệu khác, nghe đỡ nặng
mùi hơn, nhưng chưa ra... Khi mới tập tọng làm thơ,
người ta ai cũng nghĩ rằng việc quan trọng đầu tiên
là phải có một cái biệt hiệu thật kêu, kiểu như các
thi sĩ nổi danh : Tản Ðà, Kinh Kha, Xuân Diệu, Chế Lan
Viên, T.T.K.H., Hoàng Cầm...
Tuân nói :
- Mình cũng từng nghĩ vậy. Rồi thấy biệt hiệu, biệt
hiếc, vô duyên òm... Tên cha mẹ đặt cho thế nào cứ để
nguyên nó thế ấy. Khốn nỗi, tên mình lại trùng với ông
Nguyễn Tuân Vang bóng một thời quá nổi tiếng. Mình đành
xoay ngược nó thành Tuân Nguyễn. Tuân Nguyễn ! Nghe
cũng vô duyên, nhưng thôi, đành vậy.
- Cậu thấy thơ mình thế nào ? - tôi hồi hộp hỏi Tuân,
trong bụng chờ được Tuân khen. Cả đại đội khen thơ mình,
nhiều cậu còn chép để học thuộc đấy.
Tuân Nguyễn nhìn tôi qua tròng kính cận dầy cộp, chợt
mỉm cười. Cái miệng Tuân cười thật rộng, thật tươi...
- Thơ của cậu, hai mươi câu đầu để giữ gìn trật tự,
hai mươi câu cuối chuẩn bị cho người nghe vỗ tay, còn
đoạn giữa là vè !...
Tôi không ngờ thơ của mình bị ông bạn mới " mạt
sát " đến thế. Tôi đau quá, nổi sùng, chỉ muốn
đạp cho hắn một đạp ! Nhưng tôi đã ghìm được, vì nhớ
đến chức danh Tiểu đội trưởng của mình. Tiểu đội trưởng
mà đạp đội viên vì thơ bị chê thì ê quá.
Nhưng Tuân hình như không để ý gì đến thái độ giận dỗi
của tôi. Cậu ta đọc cho tôi nghe những bài thơ cậu ta
làm, đủ các thể loại : tứ tuyệt, ngũ ngôn, thất ngôn
bát cú, lục bát, những bài thơ mỗi đoạn bốn câu ba vần...
Mặc dầu tự ái một cây, tôi phải cay đắng nhận rằng bên
cạnh những bài thơ ý tứ hàm súc, đầy nhạc điệu của Tuân,
thơ tôi đúng là những bài vè tràng giang đại hải, không
chối vào đâu được.
Từ đó đến nay đã hơn bốn mươi năm trôi qua, mỗi lần
tôi đặt bút định viết một bài thơ, lời nhận xét vừa
nghiêm khắc, vừa giễu cợt của Tuân lại vang vọng bên
tai tôi, làm tôi chùn bút.
Một đêm ở chiến khu Câu Nhi, hai chúng tôi nằm trên
sạp nứa, gác vế lên nhau, Tuân khuyên tôi :
- Cậu phải học luật thơ Ðường làm cái vốn cơ bản, sau
đó phát huy thành các thể thơ tự do, mới hy vọng thơ
có thể khá lên được.
Tôi mộng ước được làm nhà thơ, tôi chấp nhận lời khuyên
của Tuân. Tôi hạ quyết tâm phải học thành thục luật
thơ Ðường. Ban ngày tôi dạy Tuân các môn xạ kích, ném
lựu đạn, đâm lê, đánh bộc phá... Ðêm đến, bên bếp lửa
bập bùng chiến khu, Tuân giảng dạy tôi luật bằng trắc,
luật các vế đối, luật cấu trúc các thể loại thơ Ðường
: tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, ngũ ngôn... Tôi dùng mũi
đinh nhọn ghi lời giảng dạy lên báng súng để lúc nào
cũng có thể ôn lại được. Tôi tập làm thử một số bài
thơ theo cách Tuân dạy. Nhưng làm xong tôi phải vo viên
liệng ngay vô bếp, không dám đọc cho ai nghe. Trong
nghề thơ, tôi tự ví mình như anh chàng ham trò đánh
nhau nhưng chỉ quen dùng độc một môn " võ dân gian
" là " đá củ đậu ", ba năm võ tàu không
bằng một chầu đá củ đậu. Bây giờ tôi phải học đâm lê
theo đúng quy tắc, một bước tiến, hai bước lùi... gạt
trái, đâm phải... làm sao tiếp thu nổi.
Mỗi lần nghĩ về người đội viên mới của mình, lòng tôi
lại thấy buồn vì ghen tài và đố kỵ : " Hắn mới
là người được trời sinh ra để làm thi sĩ. Tên tuổi hắn
nay mai sẽ lẫy lừng trên thi đàn đất nước. Còn mình
dù cố gắng đến hết đời cũng chỉ là một anh ỏvăn nghệ
quần chúngõ, ca dao, hò, vè...". Ðể dịu bớt đau
khổ, tôi tự an ủi : " Nhưng về mặt binh nghiệp
mình sẽ hơn hắn. Khi hắn nổi danh về văn thơ, thì mình
sẽ lên đến chức Sư đoàn trưởng. Vậy là huề "!
&
Những năm 1950, 1951, 1952 là những năm gian lao nhất
của chiến trường Thừa Thiên. Những trận lụt bão chưa
từng thấy cuốn phăng cả một làng ở bên Phá Tam Giang.
Biển Thuận An nổi sóng thần, ném những thuyền đánh cá
lớn lên bãi cát như ném cái vỏ trứng. Giặc Pháp hùa
với thiên tai tổ chức những trận càn lớn, phối hợp cả
thuỷ lục không quân, tăng pháo ; quyết xoá sổ trung
đoàn 101 chúng tôi. Chúng tôi phải đánh những trận đẫm
máu và tổn thất khá nặng nề.
Nhưng nỗi gian lao thường trực của chúng tôi chưa phải
là lụt bão, bom đạn, mà là đói. Ðói lả người. Ðói mờ
mắt. Có đận sáu tháng liền, chúng tôi phải ăn thứ gạo
chôn dưới đất lâu ngày bị ngập lụt. Gạo mục, mũn, có
mùi hôi thối như phân người ôi, mà muốn có thứ gạo mục
thối đó, chúng tôi phải vượt qua những hệ thống đồn
bót dày đặc, luồn sâu vào hậu địch, rình rập hàng trăm
họng súng phục kích... Nhiều anh em chúng tôi bị giặc
bắn gục trên đường đi lấy gạo. Nhiều ruột tượng gạo
mang về đến đơn vị, xổ ra, đỏ lòm những máu, nhưng không
thể bỏ đi. Chúng tôi tìm đủ cách để vuốt gạo cho sạch
máu. Những hạt gạo mục xốp hút máu như giấy thấm. Chúng
tôi ngâm gạo xuống suối, nhờ nước rửa máu. Ngâm suốt
đêm, sáng vớt gạo lên vẫn có màu hồng hồng. Chúng tôi
bưng bát cơm chan máu đồng đội, nhắm mắt nhắm mũi lùa
vào miệng thật nhanh và nuốt chửng... Mỗi chén cơm chúng
tôi trộn một phần tư chén ớt bột, loại ớt hiểm, cho
dịu bớt vị tanh của máu...
&
Từ ghế nhà trường, Tuân Nguyễn nhảy thẳng vào đơn vị
tôi đúng thời điểm khốc liệt đó. Hôm đầu tiên, tôi còn
nhớ như in, Tuân bưng bát cơm chan máu đồng đội lên
ăn, mới và được hai miếng, anh nôn thốc nôn tháo. Tôi
nói với Tuân : " Cứ trộn thật nhiều ớt vô lùa thật
nhanh, không nên chần chừ ". Tuân ứa nước mắt nói
: " Nhưng mình không quen ăn vậy... Mình chỉ sợ
anh em cho mình là học sinh tiểu tư sản, không chịu
được gian khổ... Cậu nói giúp với anh em thông cảm cho
mình... lần sau mình sẽ cố gắng không như thế nữa..."
Ðêm đó, họp tiểu đội, Tuân đứng lên xin lỗi, đã làm
cho bữa ăn của anh em mất ngon. Tuân còn nói thêm :
" Ngay cả trong thiên anh hùng ca bất hủ Odyssée
của Homère, cũng không có hình ảnh nào dữ dội và bi
tráng như bát cơm thấm máu mà chúng ta ăn... Tôi sẽ
ghi khắc nó vào ký ức ; và nếu qua cuộc chiến tranh
mà tôi còn sống, nhất định tôi sẽ đặt nó vào trong tác
phẩm của tôi ". Anh em trong tiểu đội chẳng hiểu
Tuân muốn nói gì, nhưng vẻ mặt và giọng nói của cậu
ta làm họ cảm động. Họ còn xúm lại an ủi, động viên
: " Ðồng chí cứ ăn năm, bảy lần rồi sẽ quen thôi.
"
Ðiều làm tôi lo lắng băn khoăn hơn cả là chuyện cử Tuân
đi lấy gạo, Tuân chưa quen chiến trận, vừa chậm, vừa
yếu, lại cận thị. Nếu cử cậu ta vào địch hậu lấy gạo,
chết dễ như chơi. Nhưng tôi là tiểu đội trưởng, việc
phân công anh em mình vào địch hậu lấy gạo, phải hết
sức công bằng. Mỗi lần họp tiểu đội phân công, tôi phải
tìm đủ cách để tránh cho Tuân công việc nguy hiểm này
: " Ðồng chí Tuân ở nhà làm bích báo cho đại đội
". " Ðồng chí phải viết xong cho cả tiểu đội
khẩu hiệu : ỏRèn cán chỉnh quânõ để cài lên mũ trong
đợt tổng diễn tập sắp đến ". " Ðồng chí phải
hoàn thành bài thơ nói lên lòng quyết tâm, tinh thần
hăng say luyện tập trong thời gian qua của tiểu đội
ta, để đọc vào dịp liên hoan văn nghệ kết thúc đợt luyện
tập ! "
Tuy vậy, cứ làm mãi cách đó, anh em bắt đầu xì xào phản
ứng. Họp tiểu đội, anh em phê bình tôi hết sức gay gắt
: " Ðồng chí tiểu đội trưởng thiên vị đồng chí
Tuân ! ". Có anh còn chua chát hơn : " Dù
đồng chí Tuân có đậu tú tài, có văn hay chữ tốt, nhưng
đã ăn thì cũng phải đi lấy gạo như anh em." Tuân
đứng bật ngay dậy, yêu cầu được phân công đi lấy gạo,
nhưng tôi cương quyết gạt đi. Tôi đanh giọng, nói :
" Tôi không thiên vị ai hết ! Làm bích báo, viết
khẩu hiệu, làm thơ cũng cần thiết như việc đi lấy gạo.
Tôi sẽ phân công đồng chí Tuân đi lấy gạo tối nay. Nhưng
hiện đồng chí phải dịch truyền đơn địch vận ra tiếng
Tây, do phòng Chính trị trung đoàn yêu cầu, mà phải
dịch gấp. Ðây, truyền đơn địch vận trung đoàn mới giao
về hôm qua đây. Giấy bút đây ! Ðồng chí nào có thể đảm
nhiệm công việc này thay đồng chí Tuân, xin giơ tay
cho biết ! " Thế là cả tiểu đội ngồi ngay như phỗng.
Quá nửa tiểu đội tôi trình độ văn hóa lớp một, lớp hai,
số còn lại vừa đọc vừa đánh vần.
Trong cuộc đời chiến sĩ của tôi, nếu có một niềm tự
hào nào đó đáng ghi nhớ, thì đó chính là niềm tự hào
: trong những năm gian truân nhất của cuộc kháng chiến
chín năm, tôi đã tận dụng quyền lực tiểu đội trưởng
để bảo vệ một nhà thơ tương lai của đất nước.
&
Sang cuối năm 1953, hai chúng tôi phải xa nhau vì nhiệm
vụ của chiến trường. Tôi được cử đi học trường Quân
chính Bình Trị Thiên. Tuân Nguyễn được bổ sung vào đơn
vị tình nguyện quân mặt trận Trung Lào.
Mãi đến năm 1957 chúng tôi mới gặp lại nhau. Hòa bình
lập lại, Tuân ra khỏi quân ngũ, đi học tiếp và tốt nghiệp
Ðại Học Sư Phạm, làm thầy giáo. Sau đó được điều về
Ðài phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Lương của Tuân Nguyễn
năm đó là 93 đồng. Còn tôi, lâm vào cảnh khổ nạn văn
chương Nhân Văn Giai Phẩm phải về tá túc bên bờ hồ Tây,
nhập phường câu cá trộm...
Trong khi bạn bè thân thích, kể cả máu mủ ruột thịt,
người yêu, đều xa lánh tôi, thì Tuân Nguyễn vẫn gắn
bó, cưu mang tôi. Mặc dầu lúc này anh là người có chức
danh của một cơ quan quan trọng, bắt đầu có tiếng tăm
trên thi đàn. Tuân mò tìm được nơi tôi tá túc, thường
xuyên mang cho tôi áo quần, tem gạo, phiếu thịt, kẹo,
thuốc lá căng tin... (kẹo, thuốc lá do cơ quan bán theo
tiêu chuẩn bậc lương). Mỗi lần đem cho như vậy, Tuân
rất sợ tôi mếch lòng, tủi thân, nên bao giờ cũng tìm
cách nói thác. " Có bộ áo quần mình thuê may hỏng,
mặc rộng thùng thình cứ như áo tế. Cậu đậm người hơn
mặc giúp mình cho đỡ phí ". " Một nhà báo
ngoại quốc có nhận xét người Việt Nam ta rất có đầu
óc hài hước. Hài hước ngay cả trong việc sản xuất bánh
kẹo. Ngoài bao bì đề kẹo cứng thành kẹo mềm muốn chảy
nước. Nếu đề kẹo mềm thì cắn muốn vỡ răng. Này, cậu
khoẻ răng ăn giúp mình hai gói kẹo mè này ".
Một lần, tôi hỏi Tuân : " Cậu hay gặp mình, thế
nào cơ quan họ cũng biết. Cậu không ngại à ? "
Tuân Nguyễn vốn là người ăn nói hết sức nhã nhặn, lịch
sự. ở cơ quan cấm ai thấy cậu ta văng tục. Nhưng chỉ
khi hai đứa với nhau, hoài niệm cuộc sống lính tráng,
cậu ta văng tục ào ào : " Có ngại cái con cặc !
Ðù mạ, mình căm ghét nhất là thói vô ơn ! Nếu ngày đó
cậu không chơi trò ỏNhân danh tiểu đội trưởngõ thì chắc
mình đã nằm mục xương giữa trảng cát Phong Chương, Thanh
Lam Bồ, Phú Ða, Hà Thanh... với một ruột tượng gạo thối
mục đầy máu... Cậu quên rồi à, đúng cái hôm cậu phịa
chuyện Phòng chính trị giao mình dịch truyền đơn địch
vận, bốn cậu được cử đi lấy gạo, tụi phục kích xơi tái
mất hai, cậu gì nhỉ, à cậu Lượng, cậu Vinh... Có đâu
mình còn sống đến bây giờ mà đại học đại hiếc, nhà thơ
nhà thiếc, phát thanh phát thiếc !... Cứt ! "
&
Năm 1963, vợ chồng tôi sinh con gái đầu lòng. Ðến đón
cháu ở nhà hộ sinh A, có bà ngoại cháu (bà đã mất năm
1986), tôi và Tuân Nguyễn.
Vợ tôi vui lắm, nói với hai người :
- Bà với chú Tuân thấy cháu có xinh không ?
Tuân cúi xuống nhìn gương mặt nhỏ xíu còn đỏ hỏn của
cháu, cười cười. Bà ngoại cháu vốn suốt đời chỉ biết
công việc nội trợ, và gần như không biết chữ, buột miệng
nói :
- Bây giờ thì mẹ mừng mừng rỡ rỡ thế đấy, không biết
đời con rồi có ngóc đầu dậy được không !...
Bà ngoại và hai mẹ con đi xích lô về nhà. Tôi và Tuân
lững thững đi bộ dọc đường Ngô Quyền. Dáng vẻ cậu ta
trở nên trầm ngâm và lặng lẽ. Im lặng một lúc khá lâu,
Tuân chợt nói :
- Bà cụ nói thật khủng khiếp ! Ðó là lời tiên đoán về
số phận những nghệ sĩ quyết định " Yêu ai cứ bảo
là yêu. Ghét ai cứ bảo là ghét. Dù ai ngon ngọt nuông
chiều. Cũng không nói yêu thành ghét. Dù ai cầm dao
doạ giết. Cũng không nói ghét thành yêu...".
Lời nhận xét bất ngờ của Tuân làm tôi bất giác rùng
mình. Một câu Kiều chợt ập đến trong đầu : " Ðường
xa nghĩ đến đoạn trường mà kinh ! "
Tuân bảo tôi :
- Bắt đầu từ hôm nay, mỗi tháng mình gửi cậu 5 đồng
mua sữa cho cháu. Hàng tháng cứ đến ngày mùng ba - ngày
mình lĩnh lương - cậu chịu khó đến chỗ mình. Sợ có khi
mình mắc việc, không xuống chỗ cậu được. Nếu mình đi
công tác vắng, mình sẽ gởi lại chỗ cậu V. ở tổ thơ.
Ngày đó, 5 đồng mua được ba hộp sữa Ba Vì. Lúc chia
tay, Tuân còn dặn thêm :
- Lỡ khi nào câu kéo không được gì, nếu tiện đường tạt
vào chỗ mình mà ăn cơm. Cơm tập thể chỗ mình khá lắm...
Từ đấy, hôm nào cạn túi, tôi lại đạp xe lên 20 phố Tràng
Tiền, bếp ăn tập thể của cơ quan Ðài phát thanh tiếng
nói Việt Nam. May mắn được gặp Tuân là no bụng.
&
Tuân Nguyễn sống trong một gian buồng nhỏ, rộng chừng
8 mét vuông, ở tầng gác hai, ngay đằng sau gian nhà
ăn tập thể. Buồng kê một giường cá nhân, một giá sách
lớn che kín mặt tường chiều ngang. Cạnh giá sách là
bàn viết. Ðối diện cửa ra vào treo chân dung Dostoievsky
lồng khung kính trên tường, phía đầu giường treo ảnh
của cậu ta, phóng to, cũng lồng khung kính. Ðó là hai
vật trang trí độc nhất trong gian buồng.
Trên giá sách, có khoảng vài chục cuốn sách tiếng Việt.
Còn lại là sách tiếng Pháp, tiếng Anh. Tiền lương tháng,
ngoài tiền ăn, một ít dùng may mặc, tiền cho tôi, Tuân
dồn hết vào việc mua sách. Tuân là khách quen của cửa
hàng sách ngoại văn. Toàn tập Dostoievsky, toàn tập
Chekhov, toàn tập Brecht, Maxim Gorki, Jack London...
Tôi đến, hầu như lúc nào cũng bắt gặp Tuân hí hoáy trước
bàn viết. Trước mặt, hai ba cuốn sách mới... Tôi biết
lúc này cậu ta hoàn toàn đắm mình trong suy tưởng, mộng
mơ.
Ðã từ lâu, Tuân chuẩn bị viết tác phẩm văn xuôi quan
trọng của đời mình, anh tâm sự. Chủ đề tác phẩm là một
thanh niên trí thức say mê cách mạng, lúc nào cũng sống
trong mộng tưởng san phẳng hết mọi điều phi lý xúc phạm
con người, và xây dựng một cõi địa đàng nhân loại. Kết
cục con người cách mạng mộng mơ đó đã bị thực tế trần
trụi, nghiệt ngã đè bẹp.
Tuân Nguyễn đọc đến nát nhừ toàn tập Dostoievsky. Cậu
ta đọc Ðốt đến rạc cả người. Nhà văn mà Tuân đặt thành
tích để vươn tới là Ðốt.
Tuân nói với tôi :
- Ðiều này mình chỉ nói riêng với cậu thôi. Nhiều đêm
mình nằm mơ, cuốn sách của mình được in ra, và được
những người sành văn đánh giá là sấp sỉ với Ðốt...
Bạn hữu chúng tôi không ai bảo ai cùng gọi đùa Tuân
là cụ Ðốt. " Ta đến chơi cụ Ðốt đi. Cụ Ðốt vừa
có thơ được in trên báo Văn Nghệ, ta đến bắt cụ khao
một chầu thịt chó ".
&
Một bữa, tôi và một người bạn đến chơi, bắt gặp cụ
Ðốt trong tình trạng bứt rứt, buồn bã. Tôi hỏi : "
Có chuyện gì thế, Tuân ? Hay tại chúng mình đến chơi
hơi nhiều, quấy rầy cậu ? " Và chúng tôi nháy nhau,
dợm đứng lên, định chào ra về. Tuân vội đưa tay ngăn
lại : " Các cậu chẳng có liên quan gì hết, Tuân
nhìn đồng hồ đeo tay, nhà ăn sắp mở cửa rồi, đợi tý
ta xuống ăn cơm ".
Tôi thầm đoán cậu ta chắc gặp chuyện gì rắc rối ở cơ
quan. Nghe nói, trong đợt học tập Nghị quyết 9, cậu
ta xin bảo lưu ý kiến, bị cơ quan đưa ra kiểm điểm vì
những luận điệu ủng hộ chủ nghĩa xét lại Liên Xô. Cậu
ta làm thơ ca ngợi Khrusov, đả kích Mao và Stalin...
Tuân lấy sách đỏ của Mao làm giấy lau bàn, có người
trong cơ quan trông thấy, hớt lẻo với trên. Nói chung,
vào thời gian ấy, những chuyện như thế là chuyện chết
người cả.
Như đoán biết chúng tôi đang nghĩ gì, Tuân giải thích
:
- Cách đây hai hôm, mình dọn dẹp lại gian buồng, quét
tước mạng nhện... Mình gỡ chân dung Dostoievsky và bức
ảnh của mình xuống, lau sạch bụi rồi treo lại. Vừa dọn
dẹp xong thì có mấy cô sinh viên văn khoa đến chơi.
Một cô nhìn lên giá sách, hỏi mình : " Anh đọc
nhiều sách, thế theo anh nhà văn nào lớn nhất, anh khâm
phục nhất ? ". Lúc đó mình đang ngồi gần cửa ra
vào. Theo thói quen, mình đưa thẳng tay chỉ lên chỗ
treo chân dung Dostoievsky : " Ông này, chỉ một
mình ông này thôi ! Ðó là thiên tài của các thiên tài
! ". Các cô nhìn theo tay chỗ mình chỉ, không nói
gì, nhưng đều quay lại nhìn mình với ánh mắt rất lạ,
lúc đó mình không để ý...
Các cô về rồi, mình nhìn lên tường, thấy chân dung Dostoievsky
treo hơi bị lệch. Mới bắc ghế đứng lên sửa lại. Nhìn
gần mới biết té ra đó là ảnh của mình, chứ không phải
chân dung Ðốt. Thì ra, mình treo nhầm chỗ, do cận thị
nên không nhận ra. Thế có chết người không chứ ? Thảo
nào, mấy cô đều quay lại nhìn mình với ánh mắt rất lạ,
mà lúc đó mình không hiểu tại sao. Không nói ra miệng,
nhưng chắc chắn trong bụng các cô phải cho mình là một
thằng cha kiêu căng đến ngu xuẩn !
Kể đến đó, nét mặt Tuân càng rầu rĩ, ủ rũ hơn.
Tôi không sao nhịn được cười, tôi ôm bụng mà cười, tôi
cười lăn lộn, cười chảy nước mắt nước mũi !
- Thì đã sao ! Thì đã sao !... - tôi nói, càng cười
dữ hơn - Cậu cũng là một cụ Ðốt thứ hai đấy chứ ! Nga
thì Ðốt Tôi, Việt Nam thì Ðốt Tuân ! Ha ! Ha ha ! Ha
ha ha ! Ðó là một lầm lẫn vĩ đại !
Tuân nổi quạu, giận dữ nói :
- Cậu thì chuyện chi cũng tếu được !
Tôi cố nhịn cơn cười, đưa ống tay áo quệt nước mắt nước
mũi, lấy giọng nghiêm túc nói :
- Theo mình, biết đâu chính sự lầm lẫn này là cái điều
báo hiệu xuất hiện một tài năng lớn. Có lần cậu đã kể
với mình, nhà thơ Nekrasov sau khi đọc tác phẩm đầu
tay của Ðốt, đã đội tuyết Petersburg đến nhà Belinsky
lúc một giờ sáng, mà reo lên : " Tôi đến báo với
anh một tin vui : Nước Nga xuất hiện một Gogol mới !
Belinsky càu nhàu : các anh làm như Gogol là nấm không
bằng ! Quả nhiên, sau này Ðốt còn vượt cả Gogol. Cũng
có thể cậu rơi vào đúng trường hợp này. Mình biết cậu
từ thuở 18, 19 tuổi. Mình không có cái tài tiên tri
thấu thị của Nekrasov, nhưng mình có cái trực giác của
người lính dãi dầu trận mạc. Mình đã tiên cảm trong
tương lai, cậu sẽ là nhà văn làm sáng danh đất nước.
Bởi vậy mà mình mới quyết định chơi trò " Nhân
danh Tiểu đội trưởng ".
Cung cách Tuân Nguyễn trợ cấp tiền cho tôi hàng tháng
mua sữa nuôi con, cũng rất... Tuân Nguyễn. Mỗi lần đưa
tiền cho tôi, Tuân đều có vẻ ngượng nghịu, xấu hổ như
anh đang làm một điều gì không phải với bạn. Tiền cậu
ta bỏ sẵn trong phong bì dán kín - thứ phong bì vẫn
dùng để viết thư trả lời các cộng tác viên của Ðài.
Tuân dúi phong bì vào túi áo tôi, mắt tránh không nhìn
tôi. Dúi xong, cậu ta nói lảng ngay sang chuyện khác,
thường là lấy cớ phải đến ngay cơ quan có cuộc họp quan
trọng gì đó. Vừa bước vội xuống cầu thang Tuân vừa bắt
tay tôi : " Hôm nào rỗi đến chơi. Bữa nay mình
có chút việc bận, không vắng mặt ở cơ quan được ".
Tôi biết Tuân không muốn ngồi lại với tôi, khi số tiền
cậu ta cho vẫn còn nằm cộm trong túi áo tôi. Con gái
tôi uống sữa của chú Tuân chu cấp cho đến lúc cháu bập
bẹ biết nói. Rồi chú Tuân bị bỏ tù cho đến lúc cháu
học hết cấp I, mới được gặp lại chú.
&
Tuân Nguyễn là người vỡ lòng cho tôi về Dostoievsky,
cũng như hơn mười năm trước đó đã vỡ lòng cho tôi về
niêm luật Ðường thi. Nhờ cậu ta mà từ những năm 1961,
1962, tôi được biết nội dung tóm tắt những tác phẩm
quan trọng nhất của Ðốt. Từ tác phẩm đầu tay Những người
cùng khốn đến các tác phẩm viết sau khi bị lưu đày ở
Tây Bá Lợi á mười năm : Kỷ niệm ngôi nhà những người
chết, Những người bị lăng nhục và bị xúc phạm, Tội ác
và hình phạt, Con bạc, Thằng ngốc, Ðầu xanh tuổi trẻ,
Lũ người quỷ ám, Anh em nhà Karamazov... Những câu văn
của Ðốt Tuân trích dẫn đã in khắc vào trí nhớ tôi cho
mãi đến hôm nay : " Ðịa ngục nằm trong lòng những
con người không còn biết yêu thương ", " Liệu
chúng ta có quyền xây dựng lâu đài hạnh phúc cho nhân
loại trên một giọt nước mắt của trẻ con ? ". "
Những con người đơn giản là những con người hết sức
nguy hiểm ", " Cái đẹp sẽ cứu chuộc nhân loại
", v.v... và v.v...
Về sau này, tôi được đọc khá nhiều những tác phẩm nghiên
cứu về Ðốt của các chuyên gia nổi tiếng, cả xã hội chủ
nghĩa lẫn phương Tây, nhưng chưa một tác giả nào gây
nên trong lòng tôi một ấn tượng kinh hoàng về thiên
tài vô song, phong phú và phức tạp của Ðốt, như Tuân
Nguyễn.
&
Một lần tôi đến chơi, đúng vào chiều ngày mồng ba...
Bước vào buồng, tôi thấy Tuân đang tiếp ba cô gái, nữ
sinh hay sinh viên gì đó. Cửa buồng mở rộng cả hai cánh,và
ngọn đèn trên trần bật sáng chói.
Tôi đứng khựng lại một chút ở ngưỡng cửa, liếc nhìn
ba cô. Cô nào cũng đẹp ngời ngời. Tôi định chào xin
lỗi bước ra, nhưng hai chân cứ như bị trói, không bước
ra nổi. Tôi chưa bao giờ được nói chuyện với một, chứ
đừng nói đến ba cô gái đẹp đến thế. Một ý nghĩ ganh
tỵ chợt ập đến trong đầu : " Hắn với mình cùng
lứa mà mình sao kém thế, còn hắn sao mà ngon thế ! "
Tuân Nguyễn thì hình như chẳng chú ý gì đến sắc đẹp
ba cô gái. Cậu ta mời ba cô ăn bánh, chuối, kẹo, và...
rao giảng Ðốt. Bao giờ " bập " vào Ðốt - mà
bập thường xuyên - gương mặt Tuân cũng sáng lên một
cách khác thường. Ðó là gương mặt của những nhà truyền
giáo lớn - tôi nghĩ. Cậu ta rao giảng Ðốt như các nhà
truyền giáo rao giảng Thánh Kinh. Có một khác biệt là
Tuân rao giảng Ðốt, không cần quan tâm người nghe có
nghe và có hiểu hay không. Tôi thường nói đùa : "
Tuân Nguyễn đang nhập đồng Ðốt ".
Chốc chốc Tuân ngừng lời, đưa tay lên giá sách, không
cần nhìn, mà rút rất trúng tác phẩm nào đó của Ðốt mà
cậu ta cần dẫn chứng. Cậu ta lật lật rất nhanh những
trang sách, đọc lên cái đoạn cần trích dẫn bằng tiếng
Pháp rồi dịch miệng rất lưu loát.
Ðể khỏi quấy rầy " cụ Ðốt ", tôi ngồi nép
mình ở góc buồng, chốc chốc lại ngước mắt nhìn những
cái miệng xinh đẹp như bông hồng hàm tiếu, những hàng
răng trắng như ngọc trai nhỏ nhẻ cắn bánh, nhai kẹo...
những cặp mắt long lanh như mắt trẻ nít chăm chú nhìn
" cụ Ðốt " nhập đồng...
Tôi thì hầu như chẳng nghe thấy gì. Ðốt điếc với tôi
lúc này trở thành vô nghĩa. Tôi chỉ thèm rộn rực được
hôn lên một trong ba cái miệng hé hé mở có mùi thơm
trái chín cây kia, chỉ một lần thôi, rồi nằm lăn ra
chết thẳng cẳng cũng đáng đời !
" Các cô ăn chuối, ăn bánh đi... ", Tuân đưa
tay lịch sự mời, cốt để lấy hơi rao giảng tiếp. Cậu
ta đang giới thiệu với ba cô chương Ngài Ðại pháp quan
trong Anh em nhà Karamazov mà theo cậu ta, là khúc giao
hưởng văn xuôi sáng giá nhất trong nền văn xuôi cổ kim
của nhân loại. Cậu ta đọc một mạch cuộc đối thoại dữ
dằn và hài hước giữa ngài Ðại pháp quan đại diện của
quyền lực vô song của Giáo Hội và Pháp Ðình tôn giáo
ở Y Pha Nho thế kỷ 15, với Chúa Trời giáng thế lần thứ
hai : " Ông đấy à ? ". Ông già Ðại pháp quan
gằn giọng hỏi. Chúa không trả lời. Ông ta nói tiếp :
" Ông đừng nói gì mà lại hơn ! Vả chăng ông biết
nói gì bây giờ ? Ông đã trao tất cả quyền năng cho Giáo
hội chúng tôi. Chúng tôi đã mất 15 thế kỷ mới thiết
lập được một trật tự như hiện nay, thiết lập nhân danh
ông ! Bởi vậy ông không có quyền xuất hiện lần thứ hai,
và nói thêm bất cứ điều gì trước đây ông đã nói. Tại
sao ông còn xuống đây gây rắc rối cho chúng tôi ? Ông
có biết ngày mai sẽ xảy ra chuyện gì không ? Tôi chỉ
cần chỉ vào mặt ông, lên án ông : Ðây là một tên tà
giáo ! Và tôi chỉ cần phẩy tay ra hiệu, là đám quần
chúng hôm qua cuồng nhiệt hôn dấu chân ông, sẽ trói
nghiến ông lại, ném ông vào giàn hoả !..."
Gương mặt, giọng nói của Tuân sáng rực niềm cảm xúc
do đoạn văn tác động. Nom cậu ta lúc này thật quyết
liệt, thật dữ dội. Cậu ta im lặng trân trân nhìn ba
cô gái, như muốn ba cô chia sẻ niềm cảm xúc lớn lao
đang rần rần trong huyết quản mình...
Một trong ba cô, cô xinh nhất, đã chia sẻ niềm cảm xúc
của cậu ta. Cô ngừng cắn trái chuối tiêu trứng cuốc,
hỏi :
- Anh đã đọc cuốn Nam Tước Phôn Gôn Rinh chưa ? Cũng
chuyện của Liên Xô. Sách dày ba tập mà em chỉ đọc có
một đêm !
Cô ngồi cạnh liền đặt miếng bánh xuống, góp chuyện :
- Theo mình thì tác phẩm Chiếc khuy đồng còn hay hơn.
Ðọc mà tim cứ giật thon thót !
Mặt Tuân Nguyễn tự nhiên nghệch ra. Miệng hơi hé mở
mà không nói được, như bị cấm khẩu. Cậu ta đỏ bừng mặt,
nhìn ba cô như những sinh vật kỳ dị lạc vào buồng mình.
Tôi thì sướng tỉnh cả người, nhảy vào chuyện luôn :
- Các cô đã đọc Chiến dịch Phượng Hoàng chưa ? Sách
vừa xuất bản, mới toanh ! Nam Tước Phôn Phôn Gôn Rinh
và Chiếc khuy đồng còn phải gọi bằng cụ !
Cả ba cô lập tức quay sang tôi, như bất ngờ vớ được
người cùng hội, cùng thuyền. Nét mặt ba cô vụt trở nên
nhẹ nhõm, rạng rỡ như vừa trút được gánh nặng kinh người.
Cả ba cô lúc này nom lại càng đẹp. Cả ba cô tranh nhau
thuật lại những chi tiết giật gân của mấy anh chàng
tình báo vườn. Còn tôi thì tranh thủ bồi dưỡng cặp mắt
mà hàng ngày không nhìn thấy gì khác ngoài mặt hồ rong
rêu, tăm cá và khuôn mặt dữ dằn của mấy tay tuần hồ,
chuyên rình rập tóm cổ bọn câu cá trộm chúng tôi. Tuân
Nguyễn nổi quạu thật sự, đút Ðốt vào giá sách, lẳng
lặng ngồi vào bàn viết chúi đầu xuống cuốn sách đọc
dở. Chốc chốc cậu ta quay lại hết nhìn các cô lại nhìn
tôi như nhìn mấy con ruồi con muỗi cứ vo ve bên tai.
Tôi cứ tảng lờ như không hay biết, cười nói hể hả góp
chuyện với ba cô.
Tuân Nguyễn tiễn các cô về với vẻ lạnh nhạt cố ý. Còn
tôi thì xăng xái theo các cô xuống hết các bậc cầu thang,
tranh thủ ngắm các cô đàng sau. Eo, lưng, mông - lưng
mềm như ngọn lửa - mông tròn như trứng chim - và những
cặp đùi, nói theo kiểu trường ca Tây Nguyên - nếu gió
thổi tung váy sẽ sáng chói như tia chớp !...
Lúc tôi trở lên, Tuân Nguyễn quạu cọ nói :
- Những chuyện bá láp như thế mà cậu cũng rỗi hơi bàn
luận !
Tôi cười tràn :
- Cậu vẫn rao giảng cho mình điều rao giảng của Ðốt
: " Cái đẹp sẽ cứu chuộc nhân loại ! " Theo
mình thì chỉ với ba cô này thôi cũng đủ cứu chuộc cho
cả nhân loại rồi !
&
Sau cái đận " Cứu chuộc nhân loại " kể trên,
có đến hơn nửa tháng tôi mới đến thăm Tuân. Cậu ta bước
ra hành lang đón tôi, gương mặt hốc hác, phờ phạc, hai
mắt thâm quầng. Tôi lo lắng hỏi :
- Cậu ốm hay làm sao thế ?
Tuân vuốt mớ tóc rũ xuống trán, nói :
- Dostoievsky thì năm đêm trắng, mình thì mười đêm trắng
cậu ạ !
- Nhưng đầu đuôi thế nào ?
Tôi đăm đăm nhìn người chiến hữu cùng tiểu đội năm nào,
tên một tác phẩm của Ðốt chợt hiện ra trong đầu : Những
người bị quỷ ám. Tôi nghĩ cậu ta bị Ðốt ám. Cái ma lực
văn chương của thiên tài này thật kinh dị ! Hai chúng
tôi ngồi xuống mép giường còn buông màn, Tuân rầu rĩ
kể :
- Thế này, mình gọi nhầm tên người và bị tát !... Mà
là gọi nhầm tên người yêu mới chết chứ ! Cách đây đúng
mười hôm, mình mời cô ta đến chơi... Mình có ý định
cầu hôn với cô ấy... Mình đang bối rối chưa biết mở
đầu thế nào, thì nghe tiếng trẻ con reo hò dưới sân.
Mình mới bước ra hành lang để nhìn xuống xem có chuyện
gì. Mấy đứa trẻ trong khu tập thể đang vây quanh hai
con gà trống xù lông, vươn cổ chọi nhau rất hăng. Mình
vốn mê xem gà chọi từ nhỏ, thích quá liền ngoái đầu
gọi cô ta cùng ra xem. Nhưng đáng lẽ gọi A ơi, ra xem
hai con gà chọi nhau hay lắm ! Mình lại nhịu ra thành
B ơi !... B. là tên một cô gái cũng có cảm tình với
mình, cô A của mình cũng biết, hai cô này không ưa nhau...
Thế là cô ta bước ngay ra, mắt nảy lửa, rít lên : "
Anh là thằng đểu ! Anh đang ngồi với tôi, nhưng đầu
óc anh vẫn nghĩ đến con B., nên anh mới gọi nhầm ra
thế ! " Mình chưa kịp phân trần thì đã bị ngay
một cái tát. Rồi cô ta đùng đùng bỏ về... Suốt mười
đêm nay mình thức trắng vì chuyện đó...
- Nhưng cô ta tên là gì mà cậu gọi nhầm là gì ? - tôi
thắc mắc hỏi.
Tôi là đứa ham cười. Nghe những chuyện như thế là tôi
không sao nhịn được cười. Nhưng tôi sợ Tuân giận nên
cũng cố làm bộ mặt đưa đám để chia sẻ nỗi khổ tâm của
bạn.
Tuân lắc đầu, phẩy tay :
- Cậu không cần đi vào chi tiết làm gì. Chỉ cần biết
đáng lẽ gọi là A., thì mình gọi là B.
Chúng tôi ngồi với nhau khoảng tiếng đồng hồ, nói đủ
chuyện linh tinh. Nhưng tôi không sao tập trung được
tư tuởng. Tôi quá tò mò muốn biết tên của cô gái bị
gọi nhầm tên. Chọn đúng vào lúc cậu ta bất ngờ nhất,
tôi làm như vô tình buông một câu :
- Nếu cô ta tên An mà gọi nhầm thành Lan, thì cũng dễ
thanh minh thôi ! Người ta lỡ miệng là thường...
Tuân buột miệng :
- Không, cô ta tên Nguyệt, mà mình lại gọi là Huệ, thanh
minh thế nào được !
Ðến đây thì tôi không sao nín nhịn được nữa. Tôi cười
đến nỗi phải ôm chặt lấy bụng sợ lỡ đứt ruột như Trình
Giảo Kim ba búa. " Ðúng !... Ðúng ! ", vừa
nói tôi vừa nấc, " nhầm thế thì đến thánh cũng
không thể thanh minh được ! Nguyệt - Huệ ! Hai vần tréo
trẹo hẳn nhau ! ".
(còn tiếp)
II
Lâu lâu không thấy Tuân xuống Nghi Tàm chơi. Sợ cậu
ta ốm đau gì chăng, tôi tìm lên Tràng Tiền. Cậu ta đang
cắm cúi trước bàn viết.
Tuân đặt bút, tiếp tôi.
- Mình bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết mà mình vẫn nói
chuyện với cậu...
Mình hy vọng trong năm nay sẽ hoàn thành bản thảo lần
thứ nhất... Thời tiết này mà đóng cửa buồng lại ngồi
viết văn thì nhất. Nhưng khổ nỗi thời gian cứ bị cắt
vụn vì những công việc của cơ quan...
Tôi buồn cười :
- Thời tiết này đối với dân câu chúng mình cũng nhất.
Hồ Tây đêm đêm mờ mịt mưa xuân. Chúng mình đang hồi
hộp đón vụ cá vật đẻ đầu tiên trong năm.
- Cậu bỏ văn rồi à ? - Tuân băn khoăn hỏi tôi.
- Không bỏ cũng coi như bỏ, tôi nói : viết mà không
ai in thì viết làm gì ?
Lần đó, tôi dùng năm đồng Tuân trợ cấp sữa cho cháu
sắm thêm mấy bộ lưỡi câu chùm, loại chuyên dùng để giật
cá vật đẻ.
Tháng ba. Trời nồm ẩm ướt gần suốt cả tháng. Ðường
phố Hà Nội lép nhép bùn. Thềm nhà xi măng, đá hoa các
nhà chảy nước. Dân trong Thành phố bực dọc nguyền rủa
thời tiết. Dân câu ven Hồ Tây chúng tôi lại vui mừng
hết chỗ nói. Hồ Tây cá trở mình suốt đêm. Cá cái như
chép, diếc, thầu dầu... bụng căng trứng nôn nóng chờ
mưa rào...
Ngày hôm đó, trời đổ mưa rào, trận mưa rào đầu tiên.
Người ta gọi trận mưa rửa bùn. Dân câu chúng tôi gọi
là trận mưa tiền. Ðêm nay, sẽ bắt đầu từ lúc nửa đêm,
cá từ giữa hồ sẽ lao thẳng vào bờ vật đẻ dưới các vùng
bèo do chúng tôi chuẩn bị sẵn, trong các đám rong đuôi
chó, cây niểng, cây sậy nước mọc gần bờ... Bọn cá vật
đẻ từ nửa đêm cho đến rạng sáng chúng hoàn tất vụ sinh
đẻ đầu tiên trong năm.
Khoảng bảy giờ tối, tôi đang dùng đá mài chuốt lại
mấy bộ lưỡi câu. Tuân Nguyễn đột ngột dắt xe bước vào.
Cậu ta lấy trong túi xách ra một bao thuốc Ðiện Biên
và một gói trà Thanh Hương :
- Cậu pha trà đi. Ðêm nay mình sẽ tra tấn cậu đây.
Mình đọc cho cậu nghe hai chương đầu cuốn tiểu thuyết
vừa chép sạch xong !
Tôi suýt buột miệng : " Hay cậu để đến đêm mai
có được không ? ", nhưng kịp ghìm lại. Tôi cũng
đã từng viết văn, tôi biết rõ cái tâm trạng háo hức,
hồi hộp của người viết khi quyết định đọc những trang
viết đầu tay cho bạn mình nghe. Ðó là mối tình đầu của
chàng trai mới lớn... Tôi không muốn bạn mình cụt hứng.
Nhưng, tôi thầm nghĩ, tại sao hắn lại chọn đúng cái
đêm nay mà đọc văn cơ chứ ! Với dân câu chúng tôi, mỗi
năm chỉ có một vài đêm như đêm nay. Tôi đang hy vọng
sẽ kiếm được một yến cá chép. Năm ngoái, cũng đúng vào
thời điểm này tôi kiếm được hơn mười sáu cân cá, và
một con rắn cạp nong lớn đi ăn trứng cá. Tôi bán tất
mang tiền về cho vợ. Vợ tôi mừng ứa nước mắt. Với tôi,
những đêm như đêm nay, mọi chuyện văn chương thơ phú
chẳng có ý nghĩa gì hết so với một yến cá chép !...
Tôi đành xếp dọn đồ nghề câu, nấu nước pha trà. Tuân
rút tập bản thảo, lật lật từng trang, bên ngọn đèn dầu
tù mù, vẻ mặt căng thẳng.
- Tên tác phẩm : Một người mơ mộng. Nhân vật chính
là Lê Tuấn. Chương một dài hai mươi bốn trang... Chương
hai dài hai mươi sáu trang... - Tuân khẽ khàng giới
thiệu.
Cậu ta hắng giọng, đọc chậm rãi, rõ từng dấu chấm phẩy.
Chốc chốc lại bỏ kính trắng xuống đăm đăm nhìn tôi ánh
mắt dò hỏi : " Mình viết thế có được không ? ".
Tôi làm bộ chăm chú nghe nhưng tâm trí để hết ngoài
bờ hồ, chỉ cách cái túp của tôi một vườn quất của anh
Cả Tựu, hàng xóm. Cá ngoài hồ trở mình mỗi lúc một căng.
Chúng đang từ giữa hồ lao vào bờ. Những nàng chép cái,
mỗi nàng nặng cỡ hai, ba ký, bụng chửa vượt mặt, dắt
theo cả chục chàng chép đực rốn cương sẹ (tinh trùng
của cá) - cá cái vật đẻ phun trứng vào rễ bèo, vào những
lùm rong đuôi chó, vào gốc các bụi cây niểng, cây sậy
mọc chìm dưới nước... Cá cái phun trứng đến đâu, cá
đực xô nhau tưới sẹ lên trứng. Chúng hoàn toàn đắm mình
trong cuộc giao hoan, không còn biết trời đất là gì...
Chúng tôi chỉ việc thả lưỡi câu chùm xuống, nhấc ngang,
nhấc dọc, kéo cổ chúng lên khỏi mặt nước. Ðể tranh thủ
thời gian, giật được con nào, chúng tôi vứt luôn chúng
xuống giữa các rãnh cây, nắn vội lại bộ lưỡi câu chùm
thả xuống giật tiếp. ít có một giống vật nào say mê
tình dục như bọn chép đực. Nằm phơi mình trên mặt đất
chờ chết, chúng vẫn giẫy đành đạch, tiếp tục phun sẹ
đọng thành vũng trắng loang lỗ màu sữa... Nhưng chỉ
một lát sau, những trang viết của Tuân bắt đầu cuốn
hút tôi, làm tôi quên phứt bọn cá vật đẻ, và cái sướng
run người khi nhấc cái cần câu nặng trĩu, ngọn cần cong
chúi xuống nước vì bị một anh chép cỡ một, hai ký lôi
kéo sợi dây câu, cố sức vùng vẫy thoát khỏi những lưỡi
câu có ngạnh sắc như gươm báu, cắm ngập vào da thịt
! Ðồng thời với cái sướng của bản năng giết chóc, săn
bắn nằm sẵn trong máu của con người có từ thời nguyên
thuỷ, là cái sướng ước lượng tức khắc số tiền mà các
anh chàng, cô nàng sẽ mang lại sáng hôm sau, khi đặt
các " chàng, nàng " lên bàn cân mấy bà buôn
cá... Và tiếp đó là ánh mắt rạng rỡ của con gái được
bố cho tiền ăn quà sáng, và nụ cười sắp-chết-đuối-vớ-được-cọc
của vợ ; lương tháng giáo viên đã tiêu đến đồng cuối
cùng, và ngày mai đến kỳ đong gạo sổ mà chưa biết vay
ai... Tôi ngồi, hai cánh tay bó gối, nghe Tuân đọc văn
mỗi lúc một chăm chú hơn. Không hiểu sao tự nhiên tôi
ứa nước mắt. Những trang văn thấm đượm chất thơ của
Tuân làm sống dậy trong tôi niềm mơ ước được trở thành
nhà văn, mà cuộc sống nghiệt ngã đã chôn vùi từ lâu.
Tuân đã đọc xong hai chương đầu cuốn tiểu thuyết đậm
màu sắc tự truyện, tôi vẫn ngồi bó gối không nhúc nhích.
Tôi muốn nói một điều gì mà cổ tự nhiên nghẹn tắc. Từ
đáy lòng tôi dâng lên một nỗi buồn kinh khiếp. Ðó là
nỗi buồn khi đọc một nhà văn đồng thời, và tự phát hiện
mình không bao giờ viết nổi những trang viết như anh
ta ! Buồn vì tủi thân, và cả vì... đố kỵ...
Tôi đâm giận thân, giận đời... Tôi nghĩ : nếu hoàn
cảnh không xô đẩy mình đến cảnh huống cùng quẫn như
hiện nay, thì có lẽ mình cũng đã viết được một cái gì,
có thể không bằng nhưng cũng suýt soát được như Một
người mơ mộng. Hai mươi tuổi mình đã viết được Vượt
Côn Ðảo kia mà... Ðể khỏi phải nói ra với Tuân những
đau đớn, dằn vặt vụt nổi lên trong lòng như một cơn
lốc Hồ Tây, tôi đứng lên, đi xuống bếp.
- Chắc cậu đói rồi - mình nấu nồi cháo cá đãi cậu.
Mình còn con chép hơn nửa ký đang rộng dưới cầu ao...
- vừa nhóm bếp, tôi vừa nói vọng lên - Còn tiểu thuyết
thì mình muốn nghe thêm vài chương nữa. Mình sẽ để hẳn
một buổi để thảo luận với cậu.
?
Thế mà không ngờ đó là hai chương tiểu thuyết đầu tiên
mà cũng là cuối cùng - tác phẩm mộng tưởng của cả đời
Tuân Nguyễn - mà tôi được nghe. Cho đến tận khi ngồi
viết những dòng này, tôi vẫn không nguôi hối tiếc tại
sao hôm đó tôi không mượn và chép giữ lại hai chương
tiểu thuyết đó ?... Ðược vậy thì độc giả hôm nay, ngoài
thơ ra có thể thưởng thức văn xuôi của Tuân Nguyễn.
Và tôi tin rằng độc giả sẽ bị thuyết phục, vì văn xuôi
của Tuân được tôi rèn kỹ lưỡng trong lò văn Dostoievsky.
Nhưng, nói như người xưa, có ai học được chữ ngờ...
Ngày 21 tháng 10 năm 1964, Tuân Nguyễn bị công an bắt
giam. Và sau đó là thời gian cầm tù gần mười năm, nói
thật chính xác là chín năm bảy tháng... Tôi còn nhớ
rõ được như vậy vì lúc Tuân bị bắt, con gái tôi, - được
Tuân chu cấp sữa hàng tháng - mới chưa đầy hai tuổi.
Lúc Tuân được thả về cháu đã học hết cấp một. Tội danh
của Tuân và vì sao Tuân bị bắt, ngày đó tôi không được
biết tường tận cho lắm. Tôi chỉ biết Tuân Nguyễn bị
bắt vào buổi sáng, thì buổi chiều tôi lò dò đến 20 phố
Tràng Tiền. Hôm đó, tôi cạn túi, định ghé vô ăn chực
Tuân một suất cơm tập thể... Tôi đang loay hoay tìm
chỗ dựng chiếc xe đạp trước cửa nhà ăn, thì nhà thơ
Trần Nguyên Vấn, cũng là dân Huế và làm cùng cơ quan
với Tuân, từ bên trong nhà ăn sải chân bước ra, vẻ mặt
thất sắc, hớt hải. Vấn đến bên tôi, ghé sát tai thì
thầm :
- Quán về ngay đi. Tuân Nguyễn vừa bị bắt sáng nay...
Tôi lây nỗi khiếp hãi của Vấn, nhảy phóc lên xe đạp,
phóng như điên về Nghi Tàm. Tôi chệnh choạng dựa xe
vào phên liếp, hai chân bỗng như bị đốn...
Tôi nằm dài ra nền nhà, mặt úp xuống đất, khóc nấc
lên, một nỗi đau đớn không tên, quặn thắt trong tim
tôi...
?
Tôi còn lưu giữ trong ký ức một chuyện khá tức cười
về Tuân Nguyễn, trước khi chúng tôi gặp lại nhau, sau
gần mười năm... Một buổi chiều thu Tây Hồ trời se lạnh...
Ðó là mùa câu cá diếc bằng giun đỏ. Thôn Nghi Tàm vàng
một màu hoa cúc. Tuân đạp xe về Nghi Tàm thăm tôi.
Tôi hỏi :
- Có mang theo chương mới nào của Một người mơ mộng
không đấy ?
Tuân lắc đầu :
- Mình tạm gác tiểu thuyết lại để dịch một truyện vừa
tuyệt hay của Solzhenitsyn mới đăng trên Les Nouvelles
de Moscou.
Tuân Nguyễn tóm tắt cho tôi nghe Solzhenitsyn là ai.
Tôi dắt Tuân đi loanh quanh trong xóm xem hoa. Lúc
sắp ra về, Tuân chợt hỏi tôi, giọng hơi ngập ngừng :
- Cậu có đồng tiền vàng không, cho mình một đồng...
Tôi ngạc nhiên : - Ðồng tiền vàng ? Cậu làm như mình
là tay sưu tập tiền cổ không bằng ?
Tuân đỏ mặt :
- Không phải. Nó là... cái ấy ấy mà...
Tôi chợt hiểu ra, bật cười. Cái ấy, là cái bao dương
vật bằng cao su của Tiệp Khắc sản xuất. Mỗi cái được
đựng trong cái hộp nhỏ, tròn và dẹt, in hình đồng tiền
vàng cổ trên giấy kim. Ngày đó, " đồng tiền vàng
" là loại hàng cung cấp đặc biệt. Muốn mua nó phải
có giấy của Công đoàn cơ quan, hoặc của chi hội phụ
nữ sở tại chứng nhận : người mua đã có vợ, mua để dùng
cho sự sinh đẻ có kế hoạch. Nơi bán là các cửa hàng
dược phẩm quốc doanh. Số lượng mua cũng rất hạn chế,
để tránh nạn đầu cơ tích trữ. Trẻ con thỉnh thoảng nhặt
được một hai chiếc của người lớn dùng rồi vứt đi, thì
lấy làm thích thú lắm. Chúng thổi to lên, làm bong bóng
bay...
Tôi hỏi Tuân :
- Nhưng cậu cần " đồng tiền vàng " làm gì
? Chắc có đối tượng nào cậu định tòm tem hẳn ?
Tuân càng đỏ mặt tợn :
-... ở cơ quan mình nghe tụi nó thì thào hỏi xin nhau
đồng tiền vàng... Mình không biết hình thù nó thế nào,
muốn xem cho biết. Ðể miêu tả khi cần đến, trong văn
xuôi chẳng hạn...
Tôi nói :
- Rất tiếc, mình lại không có... Mình có thuộc biên
chế cơ quan nào đâu mà được công đoàn giới thiệu cho
mua ?
- Thế trong chuyện sinh hoạt vợ chồng cậu giải quyết
thế nào ?
- Thú thật với cậu, tôi nói, tính mình vốn không ưa
" khoa học kỹ thuật " can thiệp vào chuyện
tế nhị đó. Thứ nữa, mình là loại " đêm bảy ngày
ba, vô ra không kể ", đồng tiền vàng đâu mà xài
cho xuể ? Nhưng mình biết ở cơ quan cậu có thằng H.
lúc nào trong túi cũng có đồng tiền vàng. Cậu cứ hỏi
xin hắn, thế nào cũng có.
Một sự rủi ro đầy tính chất bi hài mà hình như số phận
đặc biệt dành cho loại người như Tuân Nguyễn.
Sáng ngày 21 tháng10 năm 1964, trước giờ làm việc Tuân
Nguyễn gặp H. ở cổng cơ quan. Tuân rất ngạc nhiên, H.
vốn là tay " đại nghệ sĩ " thường xuyên đi
muộn về sớm, thường xuyên bị thủ trưởng phê bình, sao
bữa nay lại chăm chỉ thế không biết ? Có lẽ hôm nay
trời đi vắng !
Về sau này, mỗi lần hồi tưởng lại sự việc ngày hôm
đó, Tuân không sao quên được chi tiết này. Tuân kết
luận : cuộc đời mỗi người là một kịch bản phim truyện
đã được số phận đạo diễn phân cảnh. H. phải xuất hiện
đúng lúc đó để tăng thêm chất bi hài của truyện phim.
Sau một phút ấp úng, Tuân hỏi xin H. một đồng tiền
vàng :
- Sao cậu biết là tớ có sẵn của " gia bảo "
ấy ? - H. cười, hỏi.
- Phùng Quán nó bảo thế.
H. không thôi cười, nói :
- Thằng ấy tớ cứ tưởng chỉ nắm vững lý lịch tụi cá
mú Hồ Tây, không ngờ với bạn hữu hắn cũng nắm vững gớm...
Hôm nào gặp hắn, cậu nhắn hộ chịu khó lên tớ chơi, tớ
sẽ tặng một cái áo bông của bộ đội biên phòng, tha hồ
chống chọi với sương gió Hồ Tây.
H. rút cái ví ở túi quần sau, mở ra lấy một đồng tiền
vàng mới toe đưa cho Tuân :
- Trước khi dùng cậu nhớ K.T. (1) cẩn thận, H. dặn,
không lỡ nó thủng thì bỏ mẹ.
Tuân đỏ mặt nói :
- Mình chỉ muốn xem cho biết thôi...
H. nói :
- Ba mươi tuổi đầu mà chưa biết mặt mũi đồng tiền vàng
như thế nào thì cậu là thằng hâm. Thời buổi này, Roméo
Juliette nếu không ở trong biên chế, không có công đoàn
cơ sở giới thiệu, thì cũng phải lùng mua " đồng
tiền vàng " theo giá chợ đen !... Cậu phải bơn
bớt sách vở, thêm chất sống sít của cuộc đời thường
vào mới hy vọng với tay đến Ðốt được!
Tuân đút vội đồng tiền vàng vào túi áo, cài cúc cẩn
thận, định bụng đợi đến tối, đóng chặt cửa buồng lại
mới mở ra xem mặt mũi nó...
Khoảng chín giờ hơn hôm đó, cán bộ công an cùng đi
với cán bộ lãnh đạo và cán bộ bảo vệ Ðài vào phòng làm
việc, đọc lệnh bắt " can phạm Nguyễn Tuân, có bí
danh là Tuân Nguyễn ".
Viên sĩ quan công an chỉ huy sau khi đọc lệnh bắt,
yêu cầu Tuân bỏ hết đồ đạc mang theo trong người, kể
cả kính cận để lập biên bản.
Về sau này, Tuân kể lại cho tôi nghe giây phút nhớ
đời đó :
- Nghe xong lệnh bắt, khắp người mình toát mồ hôi hột.
Nỗi hoảng sợ làm thần kinh mình hầu như tê liệt. Như
cái máy, mình móc hết túi áo túi quần, bỏ đồ đạc lên
mặt bàn. Nhưng khi bỏ cái đồng tiền vàng lên mặt bàn,
mình bỗng tỉnh trí lại. Chính nỗi hổ thẹn đã làm cho
mình tỉnh trí...
Viên sĩ quan gọi to tên từng món đồ một, một viên sĩ
quan khác lần lượt ghi vào một tờ giấy in sẵn.
- Một đồng tiền vàng !
Lúc gọi tên cái của quí này, giọng viên sĩ quan cao
lên hẳn một ốc-ta-vơ. Ông ta cầm đồng tiền vàng trong
tay, lật đi lật lại rồi ngẩng lên ném vào mặt Tuân Nguyễn
một cái nhìn ghê tởm. Cái nhìn như muốn nói : "
Bè lũ phản động xét lại hiện đại là như thế này đây
! Trong túi lúc nào cũng có sẵn đồng tiền vàng. Tất
cả những tệ nạn xấu xa, làm ô nhiễm xã hội, là do bọn
các người mà ra hết ! ".
Tuân Nguyễn vốn tinh tế. Cậu ta đọc nội dung cái nhìn
ấy như đọc một câu văn, và cảm thấy nhục nhã ghê gớm.
Cậu ta mấp môi định thanh minh, nhưng kìm lại được.
Thanh minh cái gì khi tang chứng sờ sờ ra đó ? Và ai
tin mình lúc này mà thanh minh ?
"... Một chi tiết khó tin trong tác phẩm Kỷ niệm
ngôi nhà những người chết của Dostoievsky vụt hiện ra
trong ký ức mình. Có một người tử tù sắp sửa phải thụ
hình. Y bị trói vào cọc hành hình, cổ vươn ra chuẩn
bị đón lưỡi dao bén ngọt của đao phủ. Y chợt ngoảnh
lại, run rẩy nói với đao phủ : ỏTrên gáy tôi có cái
nhọt đang mưng mủ. Ông làm ơn đừng chém vào cái chỗ
cái nhọt !õ."
Rất nhiều năm sau, Tuân kể lại với tôi chuyện này,
rồi trầm ngâm :
- Rất đúng với hoàn cảnh mình lúc đó. Sắp sửa phải
lãnh án tù (2) chưa biết bao nhiêu năm, thế mà mình
lại không cảm thấy đau khổ bằng sự việc trong túi có
đồng tiền vàng... Và cũng nhờ sự kiện đồng tiền vàng
mà mình có dịp kiểm chứng thêm tài năng vô song của
Dostoievsky. Chỉ với một chi tiết cái nhọt đang mưng
mủ trên gáy người tử tù, Dostoievsky đã soi rọi cho
chúng ta thấy vực thẳm vô tận, đầy bí ẩn và kỳ dị trong
tâm thức con người...
?
Một buổi vào giữa trưa, tôi đang ngồi đun bếp, thì
cửa liếp xịch mở. Tôi ngẩng lên, ngồi lặng đi một lúc
khá lâu. Tôi bật gọi, cổ nghẹn tắc :
- Trời... Tuân !
Phải, người đang đứng trước mặt tôi là Tuân Nguyễn.
Da mặt vàng úa và hơi phù nề. Cặp kính cận vành đồng
rỉ xanh và hai gọng được thay bằng hai vòng dây gai
xe. Cái miệng vẫn rộng nhưng không còn tươi nữa. Cặp
môi nhợt nhạt vì thiếu máu. Như bừng tỉnh, tôi loạng
choạng đứng dậy. Và hai chúng tôi ôm chặt lấy nhau lúc
nào không biết. Phút chốc hai gương mặt dãi dầu, bầm
dập khổ nạn trần gian, đẫm lệ. Tôi thì thầm qua nước
mắt :
- Thế mà đã gần mười năm rồi... Mười năm tốt đẹp nhất
của một đời người...
Tuân cười buồn :
- Chắc cậu không tin mình còn có ngày trở về ?
- ừ..., cậu gầy yếu quá... Người của sách vở, của mộng
mơ... Cậu đâu được chuẩn bị để nhận một đòn chí mạng
như vậy...
Tuân ngồi xuống cạnh bếp lửa, hơ hơ hai bàn tay gầy
guộc, nói :
- Sức thích nghi vô tận cũng là một điều bí ẩn của
con người, cậu ạ.
Tôi thổi cơm, rán cá, nấu canh chua. Hai đứa ngồi ăn
ngay bên bếp.
- Nghĩ cho cùng, không có cái rủi nào lại không chứa
sẵn ít nhiều cái may. - Tuân nói - Có lẽ nhờ vậy mà
con người mới có thể tồn tại trong những hoàn cảnh nghiệt
ngã nhất.
- Cậu thử nói cái may cậu tìm thấy trong mười năm qua
xem nào - tôi hỏi.
- Trước hết, mình có dịp suy gẫm thêm về cuốn tiểu
thuyết mình định viết, vì đã viết được hai chương đầu
như cậu biết. Thực tế mười năm đã chỉ cho mình thấy
nội dung cuốn tiểu thuyết của mình quá hiền lành, quá
nông cạn. Theo mình, nếu không có mười năm lưu đày ở
Sibir, tài năng của Dostoievsky không đạt đến độ viên
mãn như vậy. Mình tin, nếu viết lại, cuốn tiểu thuyết
của mình sẽ hay hơn, sâu sắc hơn rất nhiều. Nó sẽ là
Kỷ niệm ngôi nhà những người chết của mình. Hai nữa,
nhờ mười năm qua mình đã tự học được tiếng Nga. Bây
giờ mình có thể đọc được Dostoievsky từ nguyên bản.
Nhưng điều may mắn này mới là quan trọng hơn cả : trong
mười năm qua, mình đã sống giữa những con người vô cùng
phong phú và phức tạp, chất liệu sống vàng ròng cho
các nhà văn. Mình chỉ đơn cử với cậu một người...
?
"... Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng
phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta
phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng
cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng
dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong
độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ,
dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc
củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về,
trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại
rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi,
có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh
ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách,
lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng,
tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân
với xương. Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay
cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì
suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch
mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp
ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh
ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với
bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta
có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm
quen... Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta
nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi
đã cúi chào cung kính. Hầu như tất cả các trại viên,
kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta.
Những trại viên được gia đình tiếp tế, người để dành
cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc.
ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được,
và cũng không ai muốn tranh. Ðó là khâm liệm tù chết.
Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi "
thằng khùng " (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho
việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả
những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều
khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng,
tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh
ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa
cho đứa con nhỏ. Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ
mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong
túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu
người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất
của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào
áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài. Anh ta cuộn những
bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối
cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh
ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những
việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên
trán người tù chết, và bật khóc. Anh ta khóc đau đớn
và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người
nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh
ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy.
Một lần giám thị trại gọi anh ta lên :
- Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như
cha chết vậy ?
Anh ta chấp tay khúm núm thưa :
- Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không
có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong
trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn
sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong
hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được.
Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn
khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh
ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm
của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc
của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách
khoác trên người anh ta cũng khóc... Trong tiếng khóc
và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót
khôn tả. Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng
lỳ lợm, chai sạn, " đầu chày, đít thớt, mặt bù
loong " cũng phải rơm rớm nước. Chỉ có nỗi đau
đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim
người.
Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người
này là ai vậy ? Một thằng khùng hay người có mối từ
tâm lớn lao của bậc đại hiền ?... Thế rồi, một lần,
mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại
cho đầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát
và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên bãi sông
mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi, tán lá xác xơ
trải một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống
cát và sỏi. Người lính gác ngồi trên bờ sông dốc đứng,
ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình phải
ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp
lặn dưới sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người
gần sát lưng nhau. Anh ta bỗng lên tiếng trước, hỏi
mà đầu không quay lại :
- Anh Tuân này - không rõ anh ta biết tên mình lúc
nào - sống ở đây anh thèm cái gì nhất ?
- Thèm được đọc sách - mình buột miệng trả lời, và
chợt nghĩ, có lẽ anh ta chưa thấy một cuốn sách bao
giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết viết cũng
nên.
- Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai ? - anh
ta hỏi.
- Voltaire ! - một lần nữa mình lại buột miệng. Và
lại nghĩ : Nói với anh ta về Voltaire thì cũng chẳng
khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang ngồi dựa lưng.
Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người
nó cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống... Nhiều
lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không.
Ðó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov
bất chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong
lòng với những người vớ vẩn trong một quán rượu tồi
tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong Tội ác và trừng phạt.
Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng,
hỏi lại :
- Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác
phẩm nào ?
Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy
ra một ý nghĩ kỳ lạ : một người nào khác đã ngồi thay
vào chỗ anh ta... Mình lại liên tưởng đến một cậu làm
việc cùng phòng hồi còn ở Ðài phát thanh, tốt nghiệp
đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là
Cho Pin.
Mình trả lời anh ta :
- Tôi thích nhất là Candide.
- Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không ?
Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp :
- Không phải đọc mà nghe... Tôi sẽ đọc cho anh nghe
ngay bây giờ.
Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide.
Anh đọc chậm rãi, phát âm chuẩn và hay như mấy cha cố
người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence. Mình
trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa
của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không
rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta đang
đọc thiên truyện Candide nguyên bản được chép lên mặt
sông...
Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang
lên từng hồi, báo đến giờ lùa trâu về trại.
Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống : "
Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên ! ".
- Chúng mình lùa trâu lên bờ đi ! - anh nói.
Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta :
- Anh là ai vậy ?
Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua
những con trâu khác, trả lời :
- Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh
Chúa.
Rồi anh ta tiếp :
- Ðừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi...
Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn
- ngu ngơ, đần độn như thường ngày.
Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại
viên kháo nhau mình mới biết.
- Thằng chuyên gia khâm liệm e đi tong ! Thế là nếu
bọn mình ngoẻo, sẽ không còn được khâm liệm tử tế và
chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn... - những người
tù nói, giọng buồn.
Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta. Giám
thị hỏi :
- Trước kia anh có quen biết gì thằng này không ?
Mình nói :
- Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với
nhau nên quen nhau thôi.
Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm.
Anh ta nằm cách ly trong gian lán dành cho người ốm
nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp nằm, hai hốc
mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co
giật...
Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh
ta mới mở mắt, chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm
ró như thoáng một nét cười. Nước mắt mình tự nhiên trào
ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè luỡi liếm
mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào
nói :
- Tuân ở lại, mình đi đây... Ðưa bàn tay đây cho mình...
Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta
rờ rẫm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên
than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với
một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết
vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẫN.
Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên
than, và lên cơn co giật.
Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn
tay có viết chữ Nhẫn ngửa ra. Người lính canh ngờ rằng
đó là một ám hiệu.
Giám thị hỏi :
- Cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì ? Anh mà
không thành khẩn khai báo, tôi tống cổ anh ngay lập
tức vào biệt giam.
Mình nói :
- Thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói
: tôi vẽ tặng cậu một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và
tà khí.
Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán...
Kể đến đó, Tuân Nguyễn chợt mở lòng bàn tay phải, nhìn
đăm đăm như muốn tìm lại dấu vết chữ Nhẫn, rồi lắc lắc
đầu, nói như chỉ cốt cho mình nghe :
- Ngay cả trong tác phẩm Kỷ niệm ngôi nhà những người
chết, cũng không có được một nhân vật như vậy.
?
Tuân Nguyễn cho tôi biết về Hà Nội đã được gần một
tháng.
Tôi nói :
- Thế mà đến hôm nay cậu mới gặp mình. Tệ quá !
- Vừa đặt chân xuống Hà Nội, mình đã nghĩ về với cậu
- Tuân nói - Nhưng nghĩ lại thấy chưa nên. Cậu đang
gặp khó khăn, mình lại về tụ bạ với cậu, sẽ không hay
cho cả hai... Tiện đường, mình ghé vào nhà vợ chồng
Tạ Vũ. Vừa trông thấy mình cả hai đều khóc. Vợ Tạ Vũ
nói : " Anh cứ ở lại đây, chúng ta rau cháo nuôi
nhau ". Nhưng có lẽ mình phải tìm một chỗ ở khác.
Cuộc sống của vợ chồng Tạ Vũ cũng quẫn quá. Hai vợ chồng,
ba đứa con chui rúc trong cái túp chỉ hơn chục mét vuông,
và gần như sống trên một đống giẻ rách...
Sắp đứng lên ra về, Tuân Nguyễn như chợt nhớ điều gì.
- ơ này, cậu có đồng tiền vàng nào không ?
Tôi ngạc nhiên :
- Ðồng tiền vàng nào ?
- Thì... đồng tiền vàng ấy mà... Cuối cùng, đến hôm
nay mình vẫn chưa được biết mặt mũi nó thế nào...
Tôi bật cười mà hai mắt cay lệ. Tôi ôm lấy đôi vai
lục cục những xương của bạn nói :
- Chán quá, mình không có... Một ước muốn nhỏ nhoi
như vậy mà mười năm không thực hiện được thì kể ra cũng...
vui thật. Cuộc đời vui quá, không buồn được. - tôi ngâm
to câu thơ của chính cậu ta làm - Nhưng mình nhất định
sẽ lùng cho cậu hẳn một chục đồng tiền vàng, xem thoải
mái !
- Lần này không phải chỉ để xem, - Tuân nói - mà mình
sẽ dùng. Ðược hẳn một chục đồng thì còn gì bằng ! Mình
lại sắp lấy vợ...
- Lấy vợ ? Mới một tháng trở về với cõi tục mà cậu
đã tìm được vợ thì tài thật ! Không phải cái cô mà cậu
gọi nhầm tên ấy chứ ?
- Người mình định lấy chắc cậu cũng biết.
- Ai thế ?
- Phương Thuý, con cụ Hoài Chân, một trong hai tác
giả cuốn Thi nhân Việt Nam.
- Phương Thuý thì mình biết quá, làm thơ, dạy đàn tam
thập lục ở nhạc viện Hà Nội. Nhưng chồng cô ta là một
tiến sĩ vật lý danh tiếng kia mà.
- Phương Thuý vừa làm xong thủ tục ly dị...
- Bỏ một tiến sĩ vật lý danh tiếng để lấy một anh tù
vừa được tha sau mười năm lưu đày ! - tôi cười to -
Ngay cả thiên tài như Ðốt cũng không nghĩ ra được một
tình huống cắc cớ đến như vậy !
?
Tuân Nguyễn và Phương Thuý lấy nhau sau đó một tháng,
Thuý đem tất cả số tiền dành dụm được, rồi bạn hữu gom
góp thêm, mua một gian buồng sáu mét vuông gần ga Hàng
Cỏ. Bạn hữu xúm lại xây " tổ ấm " cho cặp
vợ chồng muộn màng. Người góp nồi, người góp xoong,
bếp dầu, chén bát, bàn viết, ghế ngồi, giá sách, giường...
bằng gỗ tạp. Hoạ sĩ Chu Hoạch góp một bức chân dung
Ðốt, treo trước bàn viết. Tôi và hoạ sĩ Huy Quang chở
từ Nghi Tàm lên mấy cây tre, đóng một cái chạn để bát
đũa xoong nồi... Gian buồng tuy hẹp nhưng xem chừng
cũng tươm.
Ngày còn ở trại, Tuân Nguyễn học thêm được nghề đánh
véc-ni. Tuân cùng một người bạn, một nhà thơ cũng thất
cơ lỡ vận, tên là Lương Vĩnh, đi đánh véc-ni thuê. Nghề
đánh véc-ni cũng kiếm được ngày hai bữa gạo. Tuân nói
với tôi :
- Chỉ sợ một nỗi làm nghề này lâu, nó nhiễm vào văn
chương thì bỏ mẹ.
Tuân lại bắt tay vào ghi chép và chuẩn bị làm lại cuốn
tiểu thuyết dở dang. Nhưng cậu ta không còn có cái háo
hức, say mê như mười năm trước đây. Nhiều lúc tôi đến
thăm, bắt gặp Tuân nằm thừ trên giường, mắt lơ đãng
nhìn lên trần nhà, mặt buồn rười rượi. Trên bàn viết,
tập giấy trắng, cuốn sổ tay nằm chỏng chơ với quản bút...
Một hôm, chỉ có hai đứa với nhau, tôi hỏi :
- Cậu có hạnh phúc không ?
Tuân một tay chống má, ánh mắt lơ đãng, khẽ lắc đầu,
trả lời giọng xa vắng :
- Mình đang định nghĩa lại hạnh phúc... Mình như người
ngủ và đang mơ một giấc mơ quá đẹp, bỗng có người dựng
cổ mình dậy một cách thô bạo... Cho đến lúc này mình
vẫn bàng hoàng chưa tỉnh hẳn. Ðiều cảm nhận đầu tiên
sau khi bị lôi ra khỏi giấc mơ là trong người mình có
cái gì đó rạn vỡ, gãy nát, giống như một thứ đồ chơi
trẻ con ruột bị gãy mất bánh xe, đứt mất dây cót...
Hình dáng bên ngoài vẫn còn đấy nhưng không cử động
được nữa... Ðến nỗi bây giờ có lúc mình nghi ngờ cả
bức thông điệp của Dostoievsky : " Cái đẹp cứu
chuộc nhân loại ". Mình sợ rằng nhân loại không
còn cách gì cứu chuộc được nữa... Nhân loại đã bước
sang Giờ thứ hăm lăm... Cậu đã đọc Georghiu chưa ?
Tôi khẽ gật đầu.
?
" ở hiền gặp lành ". Ðạo lý này tôi được
dạy dỗ từ thuở ấu thơ. Nhưng khi nhận được tin Tuân
Nguyễn chết vì tai nạn giao thông, niềm tin vào đạo
lý này lung lay trong tôi. Tôi đau đớn tự hỏi : "
Người bạn thân thiết của tôi sống hiền đến như vậy,
tại sao chỉ gặp toàn điều dữ ? "
Sau ngày đất nước thống nhất được ít lâu, một người
học trò cũ của Tuân từ Saigon ra Hà Nội, tìm gặp thầy
và nóiấ: "ấThưa thầy, hiện nay em là Hiệu trưởng
một trường vừa học vừa làm. Nếu thầy chuyển vào Saigon,
em xin hứa sẽ bố trí thầy vào làm việc ở trường, đưa
thầy vào biên chế. Như vậy thầy sẽ có lương tháng đều
đặn, và có một chỗ ở tử tế trong khu tập thể của cán
bộ trường. Em tin rằng chỉ mất một thời gian ngắn, cuộc
sống của thầy sẽ đi vào ổn định, và thầy có thì giờ
để thực hiện tác phẩm mà suốt đời thầy mơ ước ".
Vợ chồng Tuân Nguyễn nghe theo lời khuyên của bạn hữu,
quyết định vào cư trú ở Saigon. Tuân để lại gian buồng
cho người chủ cũ, cũng với giá bán 600 đồng ; mặc dầu
lúc này giá nhà đang lên, có thể bán lại cho người khác
từ 800 đến 1 000 đồng. Tuân nói :
- Mình mua của người ta sáu trăm, mình có quyền gì
được bán lại một nghìn ?
Chúng tôi đành cười trước lý lẽ gàn dở của cậu ta.
Tôi nói :
- Cậu là người của thời Nghiêu Thuấn còn sót lại trên
thế gian này.
Trước hôm vợ chồng Tuân lên tàu liên vận vào Nam, chúng
tôi dọn sạch gian buồng để trả lại cho chủ cũ, và tổ
chức một buổi liên hoan tiễn đưa. Bạn hữu đến dự ngồi
chật kín gian buồng. Người nào cũng mang theo quà bánh,
áo quần, tiền, thơ, tranh... tặng hai vợ chồng làm vốn
dắt lưng. Tiệc chia tay chỉ có mấy chai rượu trắng,
một ít lạc rang.
Tôi nhớ, hôm đó tôi mang tất cả số tiền bán cá định
đưa về cho vợ, biếu vợ chồng Tuân. Ðâu chỉ có hơn chục
đồng, toàn tiền lẻ nhàu nát và tanh sực mùi cá.
Tuân hỏi :
- Cậu không có thơ tặng mình à ? Bây giờ mình lại thấy
yêu những bài thơ tràng giang đại hải, sặc mùi lính
tráng của cậu.
Tôi cười :
- Bạn hữu hôm nay đã làm thơ về cậu quá hay. Nói như
kiểu Lý Bạch hôm định đến đề thơ ở Hoàng Hạc Lâu : "
Trước mặt có Tuân Nguyễn, nhưng vì thơ của bạn hữu đã
xếp đầy nhà, nên không thể nói nên lời ".
Sau khi uống cạn ba chén đầy, niềm cảm hứng thơ chợt
oà đến trong tôi. Tôi nói :
- Tôi không làm nổi thơ để tặng hai vợ chồng cậu, nhưng
chợt nghĩ được mấy vần nôm na, tặng gian buồng khốn
khó này.
Có nơi nào trên trái đất này
Mật độ nhà thơ như ở đây ?
Ba thước vuông sáu nhà thơ ngồi
Hai phải đứng vì không đủ chỗ...
Có nơi nào trên trái đất này
Mật độ đắng cay như ở đây ?
Chín người - mười cuộc đời rạn vỡ
Bị ruồng bỏ và bị lưu đày...
Có nơi nào trên trái đất này
Mật độ đam mê như ở đây ?
Yêu đến phải vào nhà thương điên
Thơ đến phải bị còng tay...
Có nơi nào trên trái đất này
Mật độ cô đơn như ở đây ?
Một đám trẻ bơ vơ không nhà cửa
Sống bằng thơ đau với rượu cay...
Có nơi nào trên trái đất này
Mật độ yêu thương như ở đây ?
Mỗi tấc đất có một người quỳ gối
Dâng trái tim và nước mắt
Cho nỗi đau của cả loài người...
Có nơi nào trên trái đất này ?...
Có nơi nào trên trái đất này ?...
Có nơi nào trên trái đất này ?..
?
Một buổi chiều cuối tháng ba âm lịch 1981 - một buổi
chiều định mệnh - đúng vào năm Tuân bốn mươi chín tuổi...,
cậu ta đạp chiếc xe mini tòng tọc đi lấy báo về cho
sạp báo của vợ. Xấp báo xếp đầy trước giỏ xe. Ðường
phố Saigon xe cộ như mắc cửi. Tuân đạp rất chậm, gần
sát lề đường. Cậu ta biết mình có tật vừa đạp xe vừa
nghĩ ngợi miên man, lại thêm cận thị nặng nên "
tránh xe chẳng xấu mặt nào ". Ðến một quãng đường
vắng, Tuân đạp xe nhanh hơn. Một chiếc xe tải cài số
lùi, vừa lùi vừa bóp còi inh ỏi. Tuân Nguyễn không nghe
thấy gì. Có lẽ cậu ta còn mê mải nghĩ đến một ý thơ
hoặc một chi tiết tiểu thuyết chợt ập đến trong đầu...
Cậu ta cứ mải miết đạp xe, và đạp thẳng đến đít thùng
xe. Cậu ta bỗng thấy trán mình va phải vật gì cưng cứng.
Chưa kịp hiểu vật gì thì cậu ta đã ngã lăn ra lề đường,
kính trắng văng một nơi, xấp báo văng khỏi giỏ ê. Người
lái xe hớt hải phanh xe lại, bánh xe sau cách Tuân đâu
chỉ hơn một mét.
Người lái xe giúp Tuân đứng lên, lo lắng hỏi :
- Ông có sao không ? Tuân nói không sao, chỉ thấy đầu
váng vất. - Tôi bóp còi liên tục mà sao ông không nghe
tiếng ? - Xin lỗi anh, tại tôi đãng trí... Tất cả là
lỗi tại tôi. - Tuân ấp úng. Người lái xe ngơ ngác nhìn
nạn nhân của mình. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong lịch
sử tai nạn giao thông người bị đụng xe lại đi xin lỗi
tài xế.
" Hay ông ta bị bệnh tâm thần ? " Một ý nghĩ
thoáng hiện trong đầu anh tài xế. Bây giờ tốt nhất là
lên xe phóng đi, tránh được mọi chuyện rắc rối rầy rà.
Nhưng cái vẻ hiền lành đến ngơ ngác của nạn nhân đã
giữ chân anh ta lại.
- Ông công tác gì ?
- Tôi chẳng công tác gì cả. Tôi làm... thơ - Tuân lau
cặp kính trắng, trả lời - May quá, nó văng xa thế mà
không vỡ.
- Nhà ông ở đâu, để tôi đưa ông về ?
Tuân nói địa chỉ nhà mình, rồi xua tay :
- Tôi về một mình được, nhà tôi ở gần đây thôi. Anh
cứ lái xe đi, chắc anh đang có việc vội.
Tuân đạp xe về nhà, kể cho vợ nghe chuyện vừa xảy ra.
Vừa ngồi xuống mâm cơm, cậu ta bỗng thấy buồn nôn. Tuân
bỏ bát đũa, lên giường nằm, rồi một cơn sốt bắt đầu.
Ðêm đó Tuân chìm vào mê sảng.
Sáng hôm sau, Phương Thuý đưa Tuân vào cấp cứu ở Bệnh
viện Chợ Rẩy. Sau khi khám nghiệm, bác sĩ cho biết Tuân
bị xuất huyết não. Suốt một tuần liền, Tuân Nguyễn lúc
mê, lúc tỉnh.
Người lái xe tìm đến thăm nạn nhân của mình ở bệnh
viện. Nhiều lần anh ta xin với vợ và bạn hữu nạn nhân
cho được chịu hết phí tổn, nếu cần phải thực hiện ca
mổ. Nhưng bác sĩ lắc đầu : " Muộn mất rồi ! "
Chiều ngày 27 tháng 3 âm lịch, Tuân Nguyễn trút hơi
thở cuối cùng trên giường bệnh viện. Trước khi chết,
Tuân chỉ để lại độc một lời trăn trối :
- Ðừng bắt tội người lái xe. Cái kết cục buồn thãm
này là lỗi tại tôi... Tôi là người có lỗi...
Nghe Phương Thuý và bạn hữu kể lại giây phút cuối cùng
của Tuân, tôi bàng hoàng chợt nhớ lại hôm Tuân về chơi
với tôi ở Nghi Tàm.
Hôm đó Tuân ở lại với tôi suốt ngày.
Tuân nói :
- Mình định viết một bài thơ dài, nhan đề : Tôi có
lỗi. Tuân nói rõ thêm : chữ Tôi ở đây phải viết hoa.
Vì Tôi ở đây là nghệ sĩ và trí thức chân chính của đất
nước. Tôi có trách nhiệm với tất cả những lỗi lầm, những
oan uổng, đớn đau, những xấu xa, hèn mạt, đáng lăng
nhục và xúc phạm con người. Trong mọi chuyện, chính
Tôi là người có lỗi. Vì Tôi chưa đem hết sức mình thực
hiện sứ mệnh cao cả mà Thượng đế đã đặc trao cho người
nghệ sĩ.
Phùng Quán
----------
(1) Kiểm tra kỹ thuật.
(2) Tuân Nguyễn lầm. Anh bị bắt, rồi trở thành người
tù không có án.
|