Phùng Quán
Tuổi
Thơ Dữ Dội
Phần Thứ Nhất
"Trừ giặc, ba tuổi vẫn còn
hiềm là muộn"
Cao Bá Quát
1
Một tuần trước ngày Huế nổ súng kháng chiến, dân trong
thành phố được lệnh tản cư hết về các vùng quê. Nhưng
qua mấy ngày đầu đánh nhau, tin tức thắng lợi từ Mặt
trận đưa về dồn dập. Tin thắng lợi một đồn mười, mười
đồn trăm, nên đồng bào chắc mẩm tụi Tây sắp đầu hàng
đến nơi rồi. Do đó, không ai bảo ai, mon men kéo dần
về phía thành phố. Họ nóng lòng sốt ruột được mau mau
trở về dọn dẹp lại nhà cửa, phố xá, trở về với công
việc làm ăn thường ngày.
Cuối cùng họ tụ tập lại đông đúc phía bên này cầu Bao
Vinh. Bên kia cầu thuộc khu vực mặt trận A, ai muốn
sang phải có giấy phép của Ban chỉ huy Mặt trận cấp.
Như đã thành lệ, tờ mờ sáng là đồng bào túa hết ra đường,
kéo đến đứng chen chúc ở đầu cầu, chờ nghe tin tức thắng
lợi của Mặt trận đêm qua. Họ chen lấn, ùn ùn mỗi lúc
một sát đến chỗ bậc đá bước lên cầu. Nếu không có anh
Vệ Quốc Quân cầm ngang khẩu súng trường dài như cây
sào chăn vịt đứng gác ngay trước mặt, chắc cả khối người
chen chúc này đã tràn qua bên kia cầu như nước vỡ bờ.
Ðồng bào nhao nhao hỏi anh lính gác:
-Ðêm qua quân ta mần ăn có khá không anh?
-Nện tụi Tây ở vị trí mô mà súng, lựu đạn nổ như rang
bắp cả đêm rứa?
-Liệu tụi hắn sắp sửa "hô-lê-manh" chưa, cho
bà con về dọn dẹp nhà cửa, phố xá?
Bị bà con hỏi tối tăm mặt mũi, anh lính gác chỉ còn
biết nhăn nhó đề nghị:
-Xin bà con đứng xê xê ra cho tôi một chút! Ðứng sát
vô tui ri còn biết gác xách làm răng?
Sáng hôm đó, từ trong đám đông chen chúc ồn ào ấy, có
thằng bé lợi dụng đúng lúc anh lính gác còn mải nhăn
nhó đề nghị với đồng bào, luồn ra sau lưng anh và chạy
tót sang bên kia cầu. Anh chưa kịp quát gọi lại, nó
đã mất vào dãy phố kê đầu cầu bên kia.
Không thể bỏ trống chỗ gác để đuổii theo, anh chỉ còn
biết dậm chân dậm cẳng, làu bàu bực tức:
-Con cái nhà ai mà nghịch hơn quỉ!
Có mấy đứa bán kẹo gừng, đậu phộng rang cũng lấp lõm
định bắt chước chú bé vừa rồi, nhưng anh lính gác đã
nhanh tay tóm cổ áo lôi lại hết.
Một thằng bán kẹo gừng, mắt lác thiên lác địa, trề môi
nói với đứa bạn vừa bị tóm cổ lôi lại:
-Tụi bay không bắt chước nổi thằng ni mô! Hắn lanh hơn
chuột nhắt. Chơi trốn tìm, ù mọi, thả đỉa ba ba... với
hắn chỉ có thua. Ðừng hòng mà sờ được vào ngừơi hắn.
-Răng mi biết?
-Tao chơi mãi với hắn còn lạ chi.
-Hắn khoe từ hôm nổ súng, hắn đã tót được qua khu vực
Mặt trận ba, bốn lần.- Chú bé bán đậu phụng rang nói
chen vào.
Hắn lọt qua bên đó làm chi?
-Coi chơi!
-Hắn có kể chuyện chi hay không?
-Khối! Nhưng thú nhất là sáng mô hắn cũng gặp một toán
Vệ Quốc Ðoàn mà chỉ nhỏ bằng tụi ta thôi, nhiều đứa
còn nhỏ hon. Toán ni chạy dọc theo bờ sông, tập quân
sự một hai, tập ném lựu đạn, bắn súng...vui ghê lắm.
Hắn đứng coi mà thèm rệu cả nuớc miếng!
-Vệ Quốc Ðoàn mà chỉ nhỏ bằng tụi ta thì đánh tây răng
được? Hay là hắn nói láo?
-Răng không đánh được? - Thằng bán đậu phụng rang vênh
mặt lên nói. - Chánh phủ cứ thử lấy tau vô Vệ Quốc Ðoàn
coi, có chết cha tụi Tây không?
Thằng bán kẹo gừng mắt lác cười ngạo:
-Lấy mi vô Vệ Quốc Ðoàn thì thà lấy tau còn hơn! Tau
chẳng cần súng đạn gì hết - Nó rút trong túi quần ra
một cái súng cao su, kéo căng hai sợi chun. - Có cái
ni, tau nhắm trúng mắt tụi Tây, tụii Vê-giê* tau nẻ.
Cha con hắn tha hồ mà mù.
* *
Toán "Vệ Quốc Ðoàn con nít" lúc này đang nối
nhau thành hàng một, rầm rập lên phía cầu Ðông Ba cũ.
Chạy dẫn đầu là anh Vệ Quỗc Quân chỉ huy. Anh trạc hai
ba, hai bốn tuổi, dáng người tầm thước, vai rộng ngực
nở, tóc búi kiểu móng lừa, cổ đeo lủng lẳng chiếc còi
mạ kền sáng loáng. Sáng hôm đó trời lạnh cắt ruột, anh
chỉ mặc độc chiếc may ô trắng và quần đùi xanh ống bó
sát đùi.
Còn toán trẻ ăn mặc tạp nham. Quá nửa mặc áo quần Vệ
Quốc Ðoàn sửa ngắn lại. Nhiều đứa bơi trong những chiếc
áo trấn thủ rộng nhu áo thụng tế. Có đến hơn chục đứa
nai nịt "xanh-tuya-rông" da, có khoá đồng
to tướng và đeo cả bao đạn. Có trời biết được trong
những cái bao đạn sứt sẹo, méo mó ấy, chúng ních nhét
những gì!
Dãy phố ven đường cửa đóng then cài kín mít. Đồng bào
khu vực này đã tản cư hết từ đêm đầu kháng chiến. Hàng
chục con chó lạc mất chủ, họp thành đàn chạy loăng quăng
trên đường, tranh nhau ngửi bới các đống rác kiếm ăn.
Con nào con ấy hai hông lép kẹp, xương sườn nhô cao
như vừa nuốt hàng chục chiếc cạp rổ vào bụng.
Khi toán trẻ rầm rập chạy qua, lũ chó sợ hãi, tán toạn.
Chúng chuồn hết vào các hẻm phố, chõ mõm ra sủa váng.
Bọn trẻ dậm chân, vỗ đùi, doạ lại lũ chó.
Con đường ồn ào hẳn lên trong chốc lát.
Lên đến cầu Đông Ba cũ, anh chỉ huy thổi một hồi còi
dài lảnh lói. Toán trẻ dừng lại. Nhiều đứa nghịch ngợm
vờ mất đà đâm chúi vào lưng đứa chạy trước...
-Tập hợp ba hàng dọc! - Anh chỉ huy quay lại dõng dạc
hô.
Toán trẻ lập tức trở lại trật tự. Loáng một cái chúng
đã sắp thành đội hình ba hàng dọc, với tư thế rất nghiêm
chỉnh.
-Điểm số!
Đáp lại tiếng hô anh chỉ huy, những đứa dừng ở hàng
dọc bên trái, nối tiếp nhau đếm to như hét : Một! Hai!
Ba! Bốn! năm! Sáu! Bảy! Tám! Chín! Mười!...Hết.
-Ơ...ơ...Dạ chưa hết...Mười một! - Một đứa đứng lẻ ra
một mình ở cuối đội cuống quýt kêu toáng lên. - Báp
cáp anh, em bị lẻ hàng ạ!
_Lẻ là thế nào? - Anh chỉ huy hỏi vặn lại, như hoàn
toàn không tin cái chuyện vô lý đó. - Toàn đội chúng
ta có ba mươi em, tập hợp thành mười hàng ba, làm sao
lại lẻ được.
-Dạ rứa mà em bị lẻ thiệt ạ. - Thằng bị lẻ hàng nhớn
nhác nhìn ngược nhìn xuôi, nhăn nhó, bối rối trả lời.
-Các em kiểm tra lại xem có hàng nào đứng hai không?
- Anh chỉ huy như vẫn tin chắc rằng đây chỉ là trò nghịch
ngợm của bọn trẻ mà thôi.
Nhưng cả đội sau khi nhốn nháo kiểm tra hàng ngũ, đồng
thanh trả lời:
-Báo cáo anh, hàng mô cũng đứng đủ ba cả ạ!
Anh chỉ huy rời chỗ đứng, đi dọc xuống phía dưới, đưa
mắt kiểm tra từng hàng một, miệng lẩm bẩm:
-Quan số dội đang ba mươi bỗng hoá ra băm mốt là nghĩa
lý gì?
Nhưng chính anh cũng đam ngơ ngác. Đứng là hàng nào
cũng đứng đủ ba và cuối đội vẫn lẻ ra một đứa.
Anh liền đi ngược trở lên, soát kỹ lại lần nữa. Kết
quả anh lôi được một thằng lạ hoắc, không biết từ đâu
chui ra đứng lọt vào giữa đội.
Cả đội trợn tròn mắt kêu lên: Ủa!
Hai đứa đứng cùng hàng với thằng bé lạ hoắc này, há
hốc mồm vì quá sửng sốt:
-Uơ trời! Rứa mà từ nãy tới chừ tố cứ tưởng hắn là thằng
Hoà-đen! Nước da hắn cũng đen thui có khác chi anh Hoà-đen
nhà mình mô các cậu!
Cái đứa có tên là Hoà-đen đứng cách dố hai hàng, nghe
vậy liền cau mặt , nói với lên:
-Lầm, lầm cái chi lạ rứa? Tớ đen nhưng chỉ đen vừa vừa!...
Một đứa đứng bên trái vẻ mặt liến láu, đưa tay vuốt
vuốt ngực Hoà-đen ngoác miệng ra cười:
-Đưa ta vuốt bớt cục tự ái xuỗng cho. Hề, hề, hề...đen
vừa vừa hay đen thu ithì cũng là họ "cột nhà cháy"
cả thôi mà.
Thằng bé lạ hoắc chui bừa vào hàng ngũ đội, chính là
cái thằng luồn sau lưng anh lính gác, tót qua cầu Bao
Vinh lúc nãy. Nó cũng trạc tuổi Hoà-đen, vóc dáng cũng
sàn sàn, nhưng nước da, của đáng tội, có đen hơn tý
chút, Hoà-đen tự ái kể cũng phải. Cách ăn mặc nó cũng
kém xa Hoà-đen. Hoà-đen diện quân phục với áo trấn thủ
rộng như áo tế, còn thằng này đánh độc cái áo cộc nâu
ngắn hở cả rốn với cái quần đùi xanh bạc phếch, đít
vá hai miếng to tướng.
Anh chỉ huy nắm chặt cánh tay nó kéo lại sát trước mặt,
hỏi to gần như quát:
-Em ở đâu? Tên là chi? Sao dám cả gan chui bừa vào hàng
ngũ Vệ Quốc Đoàn?
Thằng bé sợ hãi cúi mặt nhìn xuống đường, bàn chân di
di một hòn đất, trả lời lý nhí trong cổ họng, chẳng
ai nghe được gì. Anh chỉ huy sốt ruột không muốn mất
thì giờ thêm, bỏ tay nó ra, nghiêm mặt nói:
-Em phải ra ngay khỏi khu vực này. Đây là khu vực Mặt
trận em nhớ chưa?
Anh quay lại nói với cả đội:
-Các em thật lơ là, vô ý thức. Có một kẻ lạ mặt chui
vào hàng ngũ mà chẳng hay biết gì hết!
Cả đội thì thào hỏi nhau:
-Không biết hắn lọt vô giữa đội mình lúc mô mà tài rứa
hè?
-Chắc cái lúc tụi mình còn mải trêu chọc lũ chó.
-Thằng ấy chui cổng rạp hát rạp xiếc chắc bợm phải biết!
-Tớ cho hắn chơi cú ấy được. Tớ là tớ phục đó! - Cái
đứa có bộ dạng liến láu vừa trêu chọc Hoà-đen lúc nãy,
vừa nói vừa gật gật đầu.
2
Anh chỉ huy thổi một hồi còi dài, cắt đứt tiếng thì
thào bàn tán. Anh đứng nghiêm, nói:
-Anh báo trước để các em biết, khoa mục tập hôm nay
hơi khó, đòi hỏi các em phải gan dạ, bình tĩnh. - Anh
cao giọng hỏi to. - Trong đội ta có em nào chưa biết
bơi, đưa tay lên anh xem?
Không một đứa nào giơ tay. Trẻ con sinh ra và lớn lên
bên bờ sông Hương, không biết bơi lặn là chuyện hiếm.
-Tốt lắm. - Anh gật đầu. - Khoa mục tập hôm nay là nhảy
từ trên thành cầu xuống sông. - Anh đưa tay chỉ lên
cái thành cầu sắt sơn đen, ngay phía trên đầu bọn trẻ.
Cả đội nhìn theo tay anh chỉ. Tất cả cùng rụt vai, lắc
đầu lè lưỡi:
-Đội trưởng chơi cú khoa mục ni coi bộ gay go đây!
-Cao đến ba mét chứ không ít!
-Ba mét răng được! Xoàng xoàng cũng phải năm mét!
Bọn trẻ nhớn nhác hết nhìn xuống sông lại nhìn lên thành
cầu, ước lượng chiều cao sắp phải nhảy.
Cả đội nhảy qua các bậc đá xây, chạy lên cầu. Vẫn không
quên nghịch ngợm, chúng dẫm chân thật mạnh, làm cho
ván cầu kêu rầm rầm.
Mưa phùn đã tạnh, nhưng gió lạnh vẫn thổi từng cơn không
ngớt. Bọn trẻ cởi áo quần vắt lên thành cầu. Tất cả
rét run, nổi hết da gà. Chúng đứng nép sát vào nhau,
miệng suýt xoa như ăn ớt, hai tay vòng lên ôm cổ, lưng
cong lại như lưng tôm.
Đội trưởng troà đứng lên cái cột bê tông giữa cầu, quay
lại nhìn cả dội, nghiêm mặt nói:
-Tất cả các em đứng thẳng lên! Bỏ hai tay ra khỏi cổ.
Hiên ngang lên anh xem nào? Đàng hoàng là những Vệ Quốc
Quân sắp ra trận giết giặc cứu nước mà sợ gió, sợ lạnh
à! Thế thì trước bom đạn như mưa của giặc, các em sẽ
còn sợ đến mức nào? Các em có muốn mang tiếng là những
chiến sĩ hèn nhát không?
-Không ạ! Không ạ! - Cả đội nhao nhao trả lời. Tất cả
lập tức đứng thẳng người, miệng thôi xít xoa. Có đứa
còn làm bộ hiên ngang, ngực ưỡn ra, bụng thót lại, tay
khuỳnh khuỳnh chống nạnh. Nhìn bộ điệu chúng, anh chỉ
huy mặt đang nghiêm thế mà phải bật phì cười. Anh rất
hiểu, đối với các chiến sĩ nhỏ tuổi của mình, không
có lời động viên nào hiệu quả bằng chạm đến lòng tự
trọng. Anh nói tiếp:
- Khoa mục hôm nay tuy khó nhưng các em phải gắng tập
cho được. Trong hoàn cảnh địa hình chiến đấu của thành
phố Huế chúng ta, rất có thể các em sẽ gặp trường hợp
phải nhảy từ những vị trí rất cao xuống sông. Do đó,
chúng ta cần phải tập trước cho quen. Các em chú ý,
xem anh nhảy thị phạm rồi các em tiếp tục nhảy theo
sau.
Anh quay mặt ra sông, đứng thẳng tắp trên cột trụ như
pho tượng trên bệ, hai cánh tay đưa thẳng trước mặt,
đôi cẳng chân vạm vỡ săn chắc những bắp thit, khẽ nhún
nhún rất dẻo. Anh tung người lên cao. Thân hình anh
như một mũi tên bay chênh chếch xuống sông, cắp phập
vào làn nước xanh ngăn ngắt, lăn tăn gợn sóng. Cả đội
chồm hết lên thành cầu nhìn theo. Chúng chặc chặc lưỡi
trầm trồ:
-Đội trưởng "lông-giông" * tuyệt đẹp bay hè!
-Còn phải nói trước đây anh từng làm "săm-pi-ông"
* bơi của Huế mình mà!
Dưới sông, đội trưởng đã trồi đầu khỏi mặt nước. Anh
đưa tay vuốt vuốt mặt, nhìn lên cầu giục:
-Nào các em nhảy đi! Em nào bị chuột rút đã có anh cứu.
Bọn trẻ đứa nọ đùn đứa kia:
-Cậu nhảy trước đi!
-Thì cậu nhảy trước đi!
-Thành cầu chật ri đứng nhảy một lần răng được!
Nhưng rồi chẳng đứa nào dám nhảy trước. Mấy đứa trèo
lên thành cầu lại tụt xuống, lè lưỡi:
-Ngợp quá! Cứ như là đứng trên nóc lầu chợ Đông Ba mà
nhảy xuống ấy!
-Đội trưởng bày ra chi ra cái khoa mục gay go ri không
biết!
-Xê ra, xê ra! - Cái thằng có bộ mặt liến láu ban nãy
trêu chọc Hoà-đen đưa tay gạt các bạn ra hai bên, làm
điệu bộ hăng hái trèo lên thành cầu. - Không cậu mô
dám nhảy thì để tớ nhảy trước cho coi, rồi gắng mà bắt
chước nghe! Khó cóc chi mà cứ kêu là khó!
-A, a, anh Tư-dát lại dám xung phong nhảy trước! Chuyến
ni e trời sập cái rầm mất thôi. - Cả đội reo ầm lên.
-Anh Tư-dát chuyến ni nhảy được, nhất định tụi mình
phải đổi tên là Tư-gan.
-Nhưng gan chi mới được chứ?
-Gan thỏ!
Mặc cho các bạn trêu chọc, Tư-dát mặt vẫn phớt tỉnh.
nó đã đứng thẳng lên được trên cái trụ đội trưởng vừa
đứng, hai đầu gối va nhau lập cập. Nó nói với các bạn,
đầu không ngoái lại:
-Anh em mở to mắt mà coi tài lão gia!
Tư-dát làm điệu bộ in hệt đội trưởng. Hai tay cũng đưa
thẳng ra đằng trước, bộ dò như hai ống sậy cũng nhún
nhún khá dẻo. Nhưng đội trưởng chỉ nhún vài cái, còn
nó thì nhún liền tù tì hàng chục cái, làm các bạn nhìn
theo hoa cả mắt.
Tư-dát bất thình lình hô to.
-Hai...ba! Này!
Nó hô dõng dạc đến nỗi làm cho cả đội tưởng là nó đang
lao xuống sông. Nhưng bất ngờ nó ngồi thụp xuống cột
cầu, nghẹo đầu, méo mồm, trợn mặt làm trò hề. Cả đội
bị mắc lỡm ôm bụng cười bò. Hình như cả đội đã quá quen
với những trò đùa của Tư-dát.
Đội trưởng chạy lên cầu, hỏi to:
-Em nào dám xung phong nhảy trước làm gương cho cả đội
anh xem nào?
Cả đội thin thít đưa mắt nhìn nhau. Cái vinh dự "nhảy
trước làm gương cho cả đội" xem ra đứa nào cũng
thèm. Nhưng cứ nhìn từ thành cầu xuống sông, cặp dò
chúng đã bủn rủn.
Đội trưởng gặng hỏi:
-Không em nào dám nhảy à?
-Dạ em! Em xin nhảy!
Cả đội quay lại. Thật không ngờ. "Em xin nhảy"
lại chính là thằng bé lạ hoắc chui bừa vào hàng ngũ
đội lúc nãy. Nãy giờ nó vẫn chưa chịu đi mà lén trèo
lên cầu, đứng co ro ở lề cầu bên kia, tò mò theo dõi
buổi tập.
Với vẻ sợ sệt, lo lắng, vừa nói nó vừa hấp tấp bước
sang lề cầu bên nay. Không đợi đội trưởng có đồng ý
hay không, nó bíu tay trèo phắt lên thành cầu.
-Ai mượn mà cũng làm trạng!...
-Tau đó dám nhảy!
-Chắc lại nhảy kiểu Tư-dát chớ chi!
Như không thèm để ý đến tiếng xì xào khích bác của cả
đội, nó đứng thẳng trên thành cầu, quay lại nói với
đội trưởng, giọng khẩn khoản:
-Em mà nhảy được, anh cho em vô đội với anh hỉ!
Nghe giọng nói và nhìn vẻ mặt nó, cả đội liền hiểu ngay
nó sẽ nhảy thật! Chúng bỗng thấy xấu hỏ và tự ái ghê
gớm. Để cho một thằng không biết từ xó xỉnh nào chui
ra, đòi nhảy trước làm gương thì thật xấu hổ cho cả
đội!
Còn thằng bé không kịp biết đội trưởng có ưng thuận
hay không, quay mặt luôn ra sông, nhún khẽ hai chân
một cái, và bay thẳng xuốn sông. Đội trưởng buột miệng
khen:
-CHú này nhảy khá lắm!
-Ui trời! - Nhiều tiếng kêu sửng sốt. - Nó nhảy mà vẫn
để nguyên cả quần áo tề!
Mặt sông xanh biếc. Lăn tăn sóng, đón lấy nó, nhẹ nhàng,
thân thuộc, chứ không ầm ĩ như đón những anh mới tập
nhảy. Thân hình nó uốn cong, luồn sâu xuống nuwóc và
nổi lên rất nhanh. Nó lắc lắc đầu giũ nước, khoắt tay
bơi lượn vòng, ngửa mặt nhìn lên cầu và bất ngờ toét
miệng cười. Cả đội ức quá, đau giẫy lên như bất thình
lình bị ai quất roi mây vào mông.
Thế là quên hết sợ hãi và chẳng cần ai dục, chúng ào
ào trèo lên thành cầu thi nhau hét to:
-Hai..ba...này! - Rồi lao ầm ầm xuống sông.
Trên cầu lúc này chỉ còn trơ lại một mình Tư-dát. Vẻ
liến láu đã biến đi đâu hết. Nó hết nhìn xuống sông
lại nhìn lên thành cầu, điệu bộ luống cuống như gà mắc
tóc. Đội trưởng nhìn nó mỉm cười, nhẹ nhàng hỏi:
-Thế nào? CHẳng lẽ em định đeo mãi cái tên Tư-dát sao?
Tư-dát vụt đứng thẳng người, nhìn đội trưởng nói to:
-Dạ không! Lần này em nhất định đổi được cái tên Tư-gan-cóc-tía!
Rồi nó trèo phắt lên thanh cầu.
Và chẳng cần nhún nhiếc gì hết, nó nhắm mắt nhắm mũi,
nhảy
bừa xuống sông.
Bọn trẻ đang bơi lội ì oạp, hò nhau tránh dạt ra hai
bên để Tư-dát khỏi nhảy trúng lên đầu. Chúng reo vang
cả mặt sông:
-A...a...Anh Tư-dát nhảy dù! Anh Tư-dát nhảy dù!
Tư-dát nhảy không chúc đầu mà hai chân xuống trước.
Nó rơi đánh ùm như quẳng xuống sông cả hòn đá tảng.
Nước vọt lên đến gần thành cầu. Nó chìm nghỉm khá lâu
mới thấy nổi lên. Các bạn bơi xúm lại quanh nó, mừng
rỡ nói:
-Ui chao! Cậu làm tụi tớ hết cả hồn...Tưởng cậu đứt
hơi ở luôn dưới đó.
Tư-dát thở lấy thở để, khạc khạc nước, hổn hển nói:
-Vừa lặn xuốn đáy sông tớ gặp ngay một anh cá gáy to
bằng hai bàn tay xoè. Anh ta lượn qua trước mặt tớ,
quyệt cả đuôi vô trán. Tớ rượt theo chụp luôn. Chụp
năm sáu cú liền, một cú trúng đuôi, một cú trúng vây,
hai cú trúng đầu! Rứa mà anh ta vùng thoát được hết!
Tiếc quá, không thì trưa ni đội ta được bữa cháo cá
lu bù.
Nhiều đứa bị sặc nước phì cười.
3
Đội trưởng thổi còi báo xong buổi tập. Cả đội bơi vào
bờ, rầm rập chạy lên cầu, vơ vội quần áo mặc vào người.
Lúc này tất cả mới thấm lạnh. Đứa nào đứa nấy run cầm
cập. Chúng nghiêng đầu nhảy cho nước trong tai chảy
ra. Ván cầu kêu rầm rầm.
Đội trưởng hô đội tập hợp ngay trên cầu, nhận xét buổi
tập. Riêng thằng bé lạ hoắc chui bừa vào hàng ngũ đội,
một mình đứng nép vào lề cầu bên kia. Nó cởi quần áo
ướt sũng, vắt khô nước rôi giũ phơi lên thành cầu.
Đội trưởng hỏi:
-Em ban nãy đâu rồi?
-Dạ, em đây a. - Nó cầm cái quần cộc đang vắt dở hấp
tấp chạy sang, đứng khép nép trước mặt đội trưởng.
Cả đội trố mắt nhnf nó, phá lên cười. Nhiều tiếng xì
xào:
-Cậu ni vô phép quá! Ai lại đi ở lỗ ở truồng mà nói
chuyện với cấp chỉ huy!
Lúc này nó mới chợt nhớ ra. Nó giũ giũ cái quần ướt
xỏ chân vào. Nhưng vì vội và cuống, chú xỏ hai chân
vào một ống quần, và ngã chổng kềnh xuống ván cầu. Đội
trưởng cũng phải phì cười, cúi xuống đỡ nó dậy, ôn tồn
nói:
-Không sao, cứ ở truồng thế cũng được. Đừng mặc quần
áo ướt mà lạnh. Anh quay sang hỏi cả đội:
-Có em nào mặc hai áo hai quần, cởi cho em này mượn
bớt một.
Lập tức có hơn chục em cởi áo, quần chạy lại dúi vào
tay nó.
Nó đứng sững, đưa cả hai tay ôm đầy một ôm áo quần,
mặt ngẩn tò te. Tư-dát nhanh nhẹn bước ra khỏi hàng,
đến ôm đỡ quần áo cho nó, vừa cười vừa nói:
-Để lão gia giúp cho một tay, chứ coi bộ dạng chú mi
chư quen diện loại "com-lê" hảo hạng ni mô.
Tư-dát vắt cả đống áo quần lên thành cầu: Cầm từng chiếc
một ướm thử vào người thằng bé. Chiếc nào coi bộ không
vừa, Tư-dát vo viên ném trả lại đứa cho mượn. Chọn hết
cả ôm mới được hai cái áo và một cái quần tạm vừa người
chú. Tư-dát nói, giọng anh nạt yêu em:
-Mặc ngay bộ "com-lê" ni vô không thì lạnh
sưng phổi chết bây giờ. Ai bảo nghịch cho lắm!
Tư-dát vừa giúp nó mặc áo quần vừa méo mồm trợn mắt
làm trò hề, chọc cười các bạn.
Khi áo quần coi bộ đã tươm tất, đội trưởng hỏi nó:
-Em tên là gì?
-Dạ, em tên Mừng.
-Em mấy tuổi?
-Dạ, mười hai.
-Nhà em ở mô?
-Dạ, ở dưới Bao Vinh tê...
-Rứa cha mẹ em làm nghề chi?
Mừng ngắc ngư một tý, rồi lý nhí trả lời:
-Dạ...em không có cha mẹ...
Đội trưởng chăm chú nhìn em, ngạc nhiên hỏi.
-Không có cha mẹ thì em ở với ai?
Mừng cúi mặt như cố tránh cái nhìn của anh, giọng ngập
ngừng:
-Dạ... em đi ở giữ em,...
-Chủ nhà hay đánh chửi em lắm phải không?
-Dạ...
-Thế em có biết đội này làm công việc chi không mà xin
nhập?
Mừng ngây người nhìn anh.
-Dạ...dạ...làm...làm...- Chú đưa mắt nhìn cả đội, như
muốn nói: "Các anh bày giúp cho tui với"
Nhiều em bỗng thấy thương hại Mừng, thì thào nhắc:
-Làm trinh sát...Làm trinh sát...
Đội trưởng đưa tay ra hiệu không được nhắc.
Như mở cờ trong bụng, Mừng vội vã đáp:
-Dạ, làm khinh sát!
-Làm chi?
-Dạ làm khinh sát ạ.
Trong hàng có tiếng càu nhàu:
-Nhắc một đàng quàng một nẻo. Làm khinh sát là làm cái
cóc khô chi?
Trên moi đội trưởng thoáng nụ cười. Anh nói:
-Thôi được. Nếu quả đúng là em không còn cha mẹ nữa,
thì anh đồng ý cho em gia nhập đội. Đội chúng ta không
phải làm khinh sát, mà trinh sát. Đội Thiếu niên trinh
sát Trung đoàn Trần Cao Vân. Công việc của người đội
viên trinh sát, sau này em sẽ được học. Có điều chắc
chắn nhất là nay mai đội chúng ta sẽ được ra Mặt trận
cùng với các anh lớn, đánh Tây. Em có thích đánh Tây
không?
Mừng mắt sáng lên, hăm hở đáp:
-Dạ thích lắm!
-Tại sao thích?
câu hỏi cắc cớ này mới càng khó trả lời. Mừng ngập ngừng
ấp úng mãi. Rồi bất ngờ, chú ngẩng nhìn đội trưởng trả
lời khá rành rọt:
-Dạ...dạ...vì tụi Tây hay đá đít người mình.
Cả đội trợn tròn mắt nhìn nó, cứ ngờ là nó nói giỡn.
Nhiều em đỏ bừng mặt vì cố nhịn cười. Đội trưởng cũng
cố nhịn cười, hỏi:
-Thế em đã trông thấy Tây đá đít ai bao giờ chưa?
-Dạ có chớ! ở xóm em có bác Húng là cha cậu Ngò chơi
thân với em. Bác ấy làm ngề kéo xe. Một bữa, có thằng
Tây râu ria xồm xoàm, to chình inh như con bò, thuê
xe bác ấy từ ga lớn đến cầu An Cựu mà chẳng trả được
cho bác ấy một xu. - Nét mặt Mừng lộ vẻ tức tỗi - Đã
rứa hắn lại còn đá giày vô đít bác ấy, chửi "cô-soong,
cô-soong"* bác ấy ngã dúi, va đầu vô cột điện,
loã máu.
Bác ấy phải nằm liệt giường, không đi kéo xe được. Rứa
là cả nhà cậu Ngò bị đói...
Đội trưởng quay sang hỏi cả đội:
-Theo các em, Mừng trả lời đúng hay sai?
-Dạ, sai, sai!
-Sai toét!
-Em nào trả lời đúng, thử nói anh nghe xem nào?
Một chú đứng ở hàng thứ hai, giơ tay rồi đứng nghiêm,
trả lời như đọc bài học thuộc lòng:
-Em đánh Tây vì chúng là bọn thực dân cướp nước. Hơn
tám mươi năm chúng đã đô hộ nước ta, gây bao cảnh lầm
thanh đói khổ...
Đội trưởng ngắt lời...
-Em định đọc hết cả bài học chính trị vừa học đêm qua
có phải không? Theo anh, emMừng trả lời không những
không sai mà còn rất hay! Tụi Tây là một tụi hết sức
tàn ác và láo xược. Đã đi xe quỵt lại còn đá đít cả
người kéo xe! Các em phải biết lấy đó làm điều căm tức
để nay mai ra trận càng thêm dũng cảm, hăng hái cùng
với các anh nện chúng thật đích đáng để trả thù cho
bác Húng và còn biết bao nhiêu đồng bào ta bị chúng
ức hiếp. Chúng ta nhất định phải tống cổ hết chúng nó
về nước, để người Việt Nam ta không còn bị chúng hành
hạ nữa.
Mừng mở to mắt nhìn đội trưởng có vẻ như chưa dám tin
là anh khen minh thật. Còn cả đội, sau khi nghe đội
trưởng nói rõ thêm ý nghĩa câu trả lời của Mừng, đều
cảm thấy tức tụi Tây thực dân ứa máu!
-Cố tổ chúng nó chứ! - Nhiều em thầm rủa. - Đã đi xe
quỵt không biết nhục lại còn chửi người ta "cô-soong"
với đá đít người ta làm loã đầu chảy máu!
Đội trưởng hỏi Mừng:
-Thế em có thể làm được gì để đánh Tây?
-Dạ, bơi ạ. - Mừng hăm hở trả lời.
-Tốt lắm, tài bơi lặn của em thì anh và các bạn đã được
trông thấy rồi đấy. Ngoài bơi ra em còn biết làm gì
nữa?
-Dạ trèo cây ạ! Cây cao mấy em cũng trèo được!
-Rất tốt, trèo leo là một môn rất cần cho người chiến
sĩ trinh sát.
-Dạ nấu cơm ạ!
-Nấu cơm cũng rất cần. Mỗi người chiến sĩ đều phải biết
tự nấu lấy ăn lúc cần thiết...
-Dạ..dạ em còn biết bồng em ạ...
-Hơ hơ hơ... - Tiếng Tư-dát cười to. - Hắn bồng em giỏi
rứa, nay mai ra trận hễ bắt được thằng tù binh mô là
giao ngay cho hắn bồng về nộp cấp chỉ huy!
Mừng tưởng Tư-dát nói thật, lo lắng nói với đội trưởng:
-Nhưng thằng Tây to rứa em sợ bồng không nổi...
-To cũng phải bồng! To cũng phải bồng! Ai khiến cậu
khai là biết bồng em làm chi! - Cả đội cười ngất, nhao
nhao hét to trêu Mừng.
Đội trưởng xua xua tay, mặt nghiêm lại nói:
-Các em không nên cười. Người chiến sĩ trinh sát cần
phải biết bồng em và làm bất cứ việc gì để giúp đỡ nhân
dân.
Mừng được đội trưởng khen, đã trở nên hoạt bát mạnh
dạn hơn. Nó nhăn nhăn trán, cố nhớ xem mình còn có thể
làm được gì nữa. Nó mang máng đoán rằng, nếu mình càng
làm được nhiều việc thì cấp chỉ huy càng dễ cho nhập
đội.
-Hết rồi phải không? - Đội trưởng đặt tay lên đầu Mừng
mỉm cười hỏi.
-Dạ...dạ còn...
-Còn thì kể đi!
-Dạ, chọi dế ạ.
Cả đội lần này phải bò lăn ra ván cầu mà cười. Tư-dát
gò lưng ôm bụng cười ngắt ngắt không thành tiến, chảy
cả nước mắt nước mũi. Nó nói đứt quãng qua tiếng cười:
-Ối, ối, ối...hắn làm tớ đến đứt ruột mà chết mất thôi
các cậu ơi! Ối, ối, ối...
Đội trưởng cũng cười ngất, xoa đầu Mừng hỏi:
-Chú mình chọi dế có khá không?
-Dạ nhứt hạng ạ! Dế em đã lên đài là hạ đo ván hết tất
cả dế của tụi bạn em trong xóm!
-Thế thì cho em được sắp vào hàng. Bắt đầu từ giờ phút
này trở đi, em được chính thức công nhận là đội viên
đội Thiếu niên trinh sátt Trung đoàn Trần Cao Vân. Em
nhớ chưa?
-Dạ, nhớ rồi ạ! - Mừng đáp như reo, rồi chen luôn vào
đứng ở giữa hàng. Có lẽ nó cho rằng có đứng chính giữa
như vậy mới chắc chân trong đội.
4
Doanh trại đội Thiếu niên trinh sát là một ngôi lầu
hai tầng kiểu biệt thự, xung quanh có hàng rào sắt bao
bọc. Hai cánh cổng sắt đồ sộ mở ra trước cái sân rộng,
rải sỏi. Đằng sau là một khu vườn lớn, um tùm những
tán cây cổ thụ.
Về đến doanh trại, đội trưởng gọi Mừng vào phòng làm
việc. Anh hỏi rõ họ tên nó để ghi vào sổ quân tịch.
-Em họ chi?
-Dạ...dạ em tên Mừng.
-Tên thì anh biết rồi, anh muốn hỏi họ em kia?
Mừng đứng ngẩn nhìn anh ngắc nga ngắc ngứ một lúc rồi
đáp:
-Dạ...dạ họ chi chi ấy...
-Họ chi chi là họ gì mới được chứ? - Đội trưởng lạ lùng
nhìn nó. - Trần hay Lê, hay Nguyễn, hay Đặng.
Miệng hơi há ra, nó hết nhìn đội trưởng lại nhìn cuốn
sổ to giấy trắng mở rộng trước mặt anh. Mỗi lần có ngọn
gió lạnh từ ngoài cửa sổ lùa vào, các trang giấy phần
phật như cánh con chim trắng vỗ muốn bay.
-Thế nào? Em đã nhớ ra họ gì chưa?
Mừng dựa ngực vào mép bàn, mặt nhăn nhó thiểu não. Nó
có vẻ nghĩ ngợi lung lắm.
-Dạ...dạ em không có họ, - nó đột ngột nói.
-Sao lại không có họ được hở chú mình? AI có tên mà
chẳng có họ?
-Dạ, em không có họ thiệt mà... - giọng Mừng gần muốn
khóc. - Cả xóm em, ai cũng gọi em là thằng Mừng, chẳng
ai gọi họ em cả...
Lý do không có họ của nó lạ đời chưa! Mấy em đang đứng
quanh đó đều bụm miệng cố nhịn cười. Tư-dát cười rung
cả người, chạy vụt ra khỏi phòng, rầm rĩ loan báo:
-Các cậu ơi, các cậu ơi! Vô mau buồng của đội trưởng
mà coi thằng đội viên mới của đội ta không có họ! Không
Trần, không Lê, không Nguyễn, không Đặng, không có cóc
khô chi hết a!
Gần nửa đội đang chơi trước sân, bỏ hết các trò chơi,
xúm quanh Tư-dát hỏi:
-Hắn không có họ thiệt à? Cậu chỉ bịa thôi?
-Tớ mà bịa thì tớ chết không kịp ngáp! Cậu mô không
tin cứ chạy vô mà coi.
-Nhưng tại răng lại không có họ được?
-Tại...tại cả cái xóm Bao Vinh ai cũng gọi hắn là thằng
Mừng, không thấy ai gọi họ hắn cả! - Tư-dát ôm bụng
cười tưởng muốn đứt hơi. - Hắn nói kể cũng có lý! Đi
ra đường, gặp ai họ: ê Mừng! CHứ không thấy ai gọi:
ê Lê Mừng, ê Trần Mừng hay ê Đặng Mừng, thì có tài thánh
cũng không biết được họ mình là chi!
Thế là tất cả xô nhau chạy rần rần về phía buồng đội
trưởng ngồi làm việc. Tư-dát vừa chạy như ngựa tế vừa
reo:
-Mau lên các cậu ơi! Mau lên! Chắc chắn đang còn nói
nhiều câu tức cười nữa, không nghe được thì tiếc lắm.
Chúng kéo vào đứng vây kín bàn giấy của đội trưởng,
vòng trong vòng ngoài. Tất cả chăm chăm nhìn vào miệng
Mừng, hồi hộp chờ nó nói thêm những câu tức khác.
Mừng thì vẫn một mực:
-Em nói thiệt... em không có họ...
Gặng hỏi mãi không được, cuối cùng đội trưởng đành phải
ghi cụt lủn độc một chữ: Mừng vào cột "Họ và tên".
Anh ghie thêm vào cột "bị chú": "Em này
lỡ quên mất họ". Rồi anh duyệt lại danh sách các
tiểu đội các tổ, xem nên bố trí chú đội viên mới này
vào tổ nào. Du - tiểu đội trưởng tiểu đội một, cúi xuống
nói thầm vào tai đội trưởng:
-Anh cho Mừng vào tiểu đội em. Tiểu đội em còn thiếu
một...
Đoàn - tiểu đội trưởng tiểu đội hai, đứng ở vòng ngoài,
chôm người, vít vai mấy bạn đứng trước xuống, nói chen
vào:
-Anh Du khôn nghe! Đề nghị đội trưởng bố trí Mừng vào
tiểu đội em. Tiểu đội em còn thừa chỗ nắm.
-Được, được! - Đội trưởng gật gật đầu nói - Để anh còn
xem đã.
Mấy phút sau anh ngẩng lên nói với Mừng:
- Anh bố trí em vào tiểu đội ba, tổ bốn, do em Vịnh
làm tổ trưởng.
Tư-dát tặc tặc lưỡi:
-Tiếc quá, tiếc quá! Đội trưởng mà cho hắn vô tổ tớ
thì tớ chỉ cười cũng đủ no, chẳng cần cơm nước chi hết!
- Nó ghé vào tai Mừng thì thầm xúi:
-Cậu xin với đội trưởng về tổ sáu của tớ hơn. Tổ tớ
vui nhất đội. Đừng dại mà ở tổ bốn của Vịnh-sưa. Cậu
ấy là kỷ luật sắt gớm lắm.
Mừng vẫn dựa ngực vào mép bàn đứng im có vẻ chẳng hiểu
đầu cua tai nheo ra sao hết. Tư-dát huých huých cùi
chỏ vào sườn Mừng giục:
-Cậu xin đi, xin ngay đi!
Vừa lúc đó đội trưởng ngẩng lên gọi:
-Em Tư!
-Có mặt! - Tư-dát rập hai gót chân nghe độp to như tiếng
gót giày đinh rập vào nhau, đứng nghiêm ngay lại.
-Em chạy đi gọi em Vịnh vô đây cho anh.
-Có mặt! - Tư-dát đáp to vang cả gian buồng. Nó làm
động tác đằng sau quay rất đúng, rất đẹp và nghiêm chỉnh.
Và cũng rất bất ngờ, nó giật cái mũ bêrê tím đội trên
đầu, tung lên cao đến tận trần nhà, rồi nhảy phốc lên
với điệu bộ người giữ gôn bắt bóng, bắt lấy cái mũ,
ôm ghì vào ngực và chạy biến ra khỏi phòng.
5
Vịnh - tổ trưởng tổ bốn, đang ngồi cạnh bể nước trước
cửa nhà bếp, nhặt rau giúp các chị cấp dưỡng. Nó trạc
mười bốn tuổi, mặc bộ quân phục màu đất, sửa ngắn lại,
với chiếc áo trấn thủ rộng thùng thình. Ngang lưng thắt
cái thắt lưng da to bản, một bên hông đeo cái bao đạn
da cũ kỹ, méo mó. Nhưng cái khoá thắt lưng và cái nút
cài bao đạn bằng đồng được đánh bóng vàng choé; như
vàng thật. Đặc biệt hai bàn tay em chẳng có chút gì
là bàn tay trẻ con, chúng to, thô, lòng bàn tay đầy
chai, và nhiều vết rạn đen trên các móng tay. Đó là
bàn tay của những người từng quen công việc nặng nhọc.
Hai hàm răng Vịnh thưa rếch như răng cá voi, nên các
bạn trong đội gọi em là Vịnh-sưa.
Cuộc đời của Vịnh-sưa cũng là cuộc đời của khá nhiều
đội viên khác trong đội...
Mồ côi cha từ nhỏ, mẹ bỏ đi lấy chồng. Người bác ruột
đem nó về nuôi. Bác làm thợ nguội ở nhà máy đèn Huế.
Gia đình bác mỗi ngày một thêm túng bấn vì quá đông
con, với đồng lương chết đói. Đang học lớp tư, nó phải
thôi học ở nhà bồng em, thổi cơm cho bác. Mới chín,
mười tuổi đầu, nó đã pahỉ làm việc quần quật suốt từ
sáng đén tối. Người bác gái ác nghiệt thường xuyên đánh
đập nó chẳng khác gì đứa ở. Bác trai đi làm suốt ngày
nên không thấu được hết tình cảnh vợ mình hành hạ đứa
cháu nhỏ mồ côi...Còn nó thì cứ nín lặng, sợ bác biết
bác buồn, em thương bác lắm. Một lần nó mang cơm trưa
đến xưởng cho bác, gặp lúc thằng cai Tây đang cự bác
cái gì đó, rồi dang tay tát bác hộc cả máu mũi. Nếu
bác không kịp trừng mắt ra hiệu thì suýt nữa nó đã quăng
cái cặp lồng cơm vào mặt thằng Tây.
Năm mười một tuổi, bác xin cho nó vào học việc ở xưởng.
Nối nghiệp bác, nó học nghề nguội. Bàn tay nhỏ bé của
nó biết cầm cái kìm, cái búa, cái dũa... từ đó. Cách
mạng tháng Tám thành công: Vịnh-sưa vẫn tiếp tục học
nghề ở nhà máy điện. Nhưng bây giờ học nghề vui lăm.
Tụi chủ Tây đã bị cách mạng tống cổ đi hết. Bác của
Vịnh được bầu vào ban Quản đốc xưởng nguội. Bịnh còn
nhớ mãi, hôm bác được bầu, trở về nhà, bác khóc ròng
nói với nó: "Ân tình cách mạng to lớn quá cháu
ơi! Bác cháu mình cho dù tới chết e cũng không đền đáp
nổi!"
Tháng sáu năm 1946, một đơn vị Vệ Quốc Đoàn thuộc tiểu
đoàn Tiếp phòng quân, về đóng quân trong khu vực nhà
máy. Cũng như bao chú bé khác, gặp dịp may hiếm có này,
Vịnh xoắn ngay lấy đơn vị Vệ Quốc Đoàn, và không rời
ra nữa. Hễ có phút nào rảnh rỗi là nó từ xưởng máy tót
ngay sang với các anh bộ đội. Nó tìm cách giúp các anh
những công việc vặt làm vệ sinh doanh trại, tìm giẻ
với dầu luyn cho các anh lau súng... Nó còn trổ nghề
thợ nguội, chữa giúp các anh bộ phận súng bị hóc. Bàn
tay cầm cái dũa, cái cưa sắt, đục sắt... nom cũng ra
dáng lắm.
Một hôm, chính trị viên đơn vị đứng ngắm Vịnh-sưa trong
bộ quần áo lấm lem dầu mỡ, chăm chú, thận trọng dũa
một bộ phận súng bị hóc, tủm tỉm cười nhận xét: "Nhỏ
bằng cái đầu đạn rứa mà chú mình nom đã có thớ một tay
thợ súng lành nghề". Từ hôm đó, anh gọi Vịnh là
"Chú thợ súng nhỏ". Cả đơn vị cũng bắt chước
gọi theo.
Dạo đó, đơn vị thiếu một liên lạc chạy công văn giấy
tờ. Một hôm, nhân nó sang chơi, chính trị viên đơn vị
gọi nói vào buồng làm việc, mời uống nước chè xanh quấy
đường, tỉ tê hỏi rõ hoàn cảnh gia đình nó. Sau đó, anh
ngỏ ý muốn tuyển nó vào làm liên lạc cho đơn vị. Đang
ngồi Vịnh đứng bật ngay dậy. Nó như không còn tin vào
lỗ tai mình nữa. Ngay cả trong mơ nó cũng không thấy
được một hạnh phúc lớn đến như thế có thể đến với mình.
Nó nói không kịp thở: "Em đã muốn xin với các anh
từ lâu, nhưng em sợ... em không dám... Đã rứa anh cho
em ở lại đay luôn, chiều ni em không về nhà nữa..."
Chính trị viên nói: "Em cũng cần phải về nhà để
lấy đồ đạc quần áo, với xin phép bác em chứ?".
Vinh nói: "Bác em đang làm việc bên xưởng, em chạy
ù qua đó xin phép luôn. Còn đồ đạc quần áo, em chẳng
có chi, ngoài bộ áo quần đang mặc". Trong bụng
Vịnh sợ lúc mình chạy về nhà, các anh thay đổi ý kiến,
không đồng ý nhận mình nữa. Còn chính trị viên nghe
nó nói mà thương quá. Anh định búng sau khi Huế giải
phóng, anh sẽ đưa nó về nhà mình nuôi, cho đi học.
Chiều hôm đó, Vịnh-sưa chính thức ra nhập Vệ Quốc Đoàn,
liên lạc viên của đại đội ba, tiểu đoàn Tiếp phòng quân.
Huế nổ súng kháng chiến, đại đội của Vịnh đánh nhau
ở Mặt trận khu C. Nó được dự mấy trận đanh mở màn ác
liệt nổi tiếng: cầu Kho Rèm, nhà hàng Sáp-Phăng-rông.
Trường Thiên Hữu. Trong trận xung phong vô trường Thiên
Hữu, chính trị viên bị thương nặng. Vịnh-sưa đi sát
bên các anh, khóc suốt từ Mặt trận về đến trạm quân
y. Trước khi tắt thở, anh gọi Vịnh lại bên cáng, xoa
đầu âu yếm nói: "Lau nước mắt đi em. Em giữ lấy
cái áo trấn thủ của anh mà mặc, đừng chôn nó theo anh
phí đi. Ra trận nhìn cái áo của anh thì nhớ trả thù
cho anh..." Cái áo trấn thủ rộng thùng thình nó
đang mặc chính là của chính trị viên hy sinh để lại.
Sau đó mấy hôm, Vịnh-sưa được lệnh triệu tập về đội
Thiếu niên trinh sát trung đoàn vừa thành lập.
Về đội chỉ mấy hôm, em đã được đội trưởng đặc biệt tín
nhiệm, cử làm tổ trưởng tổ bốn, kiêm tiểu đội trưởng
tiểu đội ba. Hầu hết các bạn trong đội đều yêu và nể
nó, có bạn sợ là đằng khác. Học tập, công tác nó đều
gương mẫu. Làm bất cứ việc gì dù nhỏ nhặt đến đâu nó
cũng làm đến nơi đến chốn.
Chu đáo, tận tuỵ, kỷ luật, đó là những đức tính Vịnh-sưa
đã học được của chính trị viên trong những ngày sống
cạnh anh. Chết rồi, anh để lại cho nó cuộc sống mẫu
mực, trong sạch, tốt đẹp, cùng tình thương yêu của anh
qua hơi ấm chiếc áo trấn thủ ngày ngày nó vẫn mặc...
Chỉ cần nhìn cách thức Vịnh-sưa giữ gìn chiếc áo trấn
thủ cũng đã biết nó thương nhớ anh đến chừng nào. Trước
khi đi ngủ bao giờ nó cũng cởi áo ra gấp vuốt thật thẳng
nếp, gối lên đầu. Đi tập về nếu có một vết bùn nhỏ dây
vào là nó phải lấy nước gột cho kỳ sạch... Hồi chưa
về đội, một lần nó chạy liên lạc, gặp một anh Vệ Quốc
Quân cao lớn, mặt cái áo len mới tinh màu rượu chát,
vác một khẩu đại liên đui-dờ-xết. Anh ơi ới gọi nói
lại, đặt khẩu súng xuống, cởi cái áo len đưa cho nó
và nói: "Mặc cái len thượng hạng ai mà khẩu đại
liên dầu mỡ đen ngòm thật phí hoài. Em cởi cái áo trấn
thủ đưa đay anh, rôi cầm cái áo len ni mà diện".
Anh tưởng chú liên lạc chắc phải sướng mê người về sự
đổi chác quá lợi này. Nhưng thật bất ngờ, Vịnh-sưa chẳng
buồn nhìn cái áo len. Nó lắc đầu nói với anh: "Anh
cso đem tất cả len dạ của thành phố Huế mình mà đổi
lấy áo trấn thủ ni, em cũng không đổi mô". Nói
rồi nó chạy biến, để anh Vệ Quốc Quân với cái áo len
thượng hảo hạng trong tay, đứng sững nhìn theo kinh
ngạc không hiểu làm sao chú ta lại đòi đến mức ấy?
Tuy chỉ mới biết đọc biết viết, nhưng nhờ tập luyện
hết sức chăm chỉ nên các khoa mục trinh sát rất khó
như vẽ bản đồ, đánh tín hiệu bằng cờ, Vịnh-sưa là một
trong mấy đội viên giỏi nhất. Mười lười thề danh dự
của Vệ Quốc Đoàn nó "đọc ngược" được, như
lời Tư-dát khen.
Riêng tinh thần kỷ luật của nó thì không chê vào đâu
được. Đội trưởng phân công tổ nó đào một cái hố rác
sâu tám mươi phân. Đào xong, nó lấy thước đo hẳn hoi.
Không sâu hơn mà cũng không nông hơn. Nội quy đội đề
ra. Những đêm không tập khoa mục trinh sát, mười giờ
phải lên giường ngủ. Thế là đúng mười giờ nó bắt cả
đội phải lên giường, dù đang chơi vui, rôm rả đến mấy.
Trước khi đi ngủ nó không bao giờ quên khám chân các
tổ viên. Đứa nào chân bẩn, nó dựng dậy bắt đi rửa cho
bằng được. Nếu cù nhầy, cãi lại, lập tức nó lên giọng
giải thích: "Kỷ luật quân đội là kỷ luật sắt. Nếu
không có kỷ luật thì quân đội không thể chiến đấu được."
Đó là những câu nó học được của chính trị viên, và chỉ
chờ dịp là đưa ra áp dụng. Tư-dát nói: "Vịnh-sưa
là kỷ luật sắt gớm lăm" là do vậy.
* *
-Vịnh-sưa ơi, Vịnh-sưa! Lên ngay, lên ngay! Đội trưởng
có việc thượng khẩn gọi cậu! - Từ xa, Tư-dát đã réo
gọi ầm ĩ. - Cậu ngồi đây mà tớ cứ chạy quanh tìm bở
hơi tai.
Chưa kịp để Vịnh-sưa hỏi, Tư-dát liến láu nói luôn:
-Lên, lên mà nhận tổ viên mới, không nó sổng mất thì
tiếc lắm. Hắn tên là Mừng, nhưng không có họ! Không
Trần, không Lê, không Nguyễn, không Đặng, không có cóc
khô chi hết a hơ hơ... - Tư-dát lại ôm bụng cười ngất
và tin chắc Vịnh-sưa cũng sẽ cười theo với cái tin ngộ
nghĩnh đó.
Nhưng Tư-dát chưng hửng. Vịnh-sưa không hề nhếch mép
lại còn cau mặt nói:
-Không có họ thì có cái chi đáng cười mà cậu cũng cười?
Đã không biết được họ mình là chi, chắc ở nhà hắn phải
khổ lắm...
Vẻ liến láu trên khuôn mặt Tư-dát biến mất. Chú ta cứng
lưỡi, tảng lờ rút lui êm. Nó đi vào nhà bếp, vờ hỏi
cơm đã chín chưa/
Vịnh-sưa đứng lên, bưng rổ rau đã nhặt sạch vào bếp.
Nó trở ra bể rửa tay, lau khô, sửa lại quân phục chỉnh
tể rồi chạy vào gặp đội trưởng.
6
Vịnh-sưa dắt Mừng về chỗ nằm của tổ mình. Có đến nửa
đội rồng rắn theo sau. Chúng tò mà muốn xem cung cách
các bạn tổ bốn tiếp đón tổ viên mới như thế nào.
Chỗ nằm của tổ bốn là hai tâm phản kê liền nhau, sát
bên cửa sổ góc trái ngôi nhà. Đầu phản giáp tương hai
chiếc chăn đơn gấp vuông vắn, cùng với ba chiếc ba lô
nằm thanh một hàng thẳng tắp, cự ly rất đều nhau. Vịnh-sưa
nói với Mừng:
-Đây là "nhà" của tổ bốn mình. Cậu Bồng nằm
ngoài, rồi đến cậu Kim, chừ thêm cậu nữa rồi đến tớ.
Cho cậu nằm giữa cho ấm. Có ra vườn cậu nhớ đi lối cửa
trước, đừng nhảy qua cửa sổ mà tha hết đất cát vô phản.
Mừng ngoan ngoãn gật đầu.
Vịnh-sưa quay lại chỉ một bạn trạc mười bốn, mười lăm
tuổi, mặt mũi xinh trai, mắt một mí:
-Đây là cậu Kim. Còn đây là cậu Bồng - Bồng cũng trạc
mười ba, mười bốn, người thấp, mặt vuông, trán ngắn,
tóc húi cua.
Vịnh nói với Kim và Bồng:
-Đội trưởng dặn tổ ta phải yêu thương, chăm sóc Mừng
như đứa em út trong nhà. Mừng mới vô đội, lại nhỏ tuổi
nhất tổ... Thêm nữa, Mừng không có cha mẹ, anh em, nhà
cửa chi hết...
Bồng và Kim đứng sát bên Mừng, vẻ lúng túng vì chưa
biết nên bắt đầu lời dặn của đội trưởng như thế nào.
Vịnh-sưa lại nói:
-Chừ tổ mình phải kiêm thêm cho Mừng vài bộ áo quần
để thay đổi. Đợi cho đến khi được ban Quân nhu Mặt trận
cấp phát còn lâu. Với lịa, phải sửa soạn cho Mừng cái
ba lô. Mai kia ra Mặt trận không có ba lô, biết lấy
chi đựng quần áo đồ lề?
-Phải đó, phải đó! - Bồng và Kim lập tức hưởng ứng.
Kim nhảy phóc lên phản, lôi cái ba lô con cóc Hướng
đạo sinh (Hồi còn ở nhà, Kim đã vào đội Sói Con Hướng
đạo sinh) lục lấy ra một cai sơ mi cộc tay vải ca rô
và cái quần ka ki xanh còn mới, đẩy tới trước mặt Mừng:
-Cậu lấy bộ ni mà mặc...Mình mặc hơi chật, cậu mặc chắc
vừa...
Bồng cũng mở ba lô lôi ra một tấm nhung màu huyết dụ,
rộng gần bằng cái mền đơn. Nó giũ rộng tấm nhung ra,
rồi gấp lại, đặt vào tay Mừng, giọng hào hiệp:
-Cho cậu đó để làm mền đắp. Ngó bộ mỏng rứa chứ đắp
ấm gớm lắm.
Mừng há miệng, mắt mở to nhìn không chớp, tấm nhung
đỏ chói trong tay. Chưa bao giwò nó được nhìn thấy một
cái gì chói lọi đến thế, rực rỡ đến thế. Nó buột kêu
lên khe khẽ, giọng gần như sợ sệt:
-Ui cha, cái chi mà đẹp dữ ri anh?
-Nhung! - Tư-dát đứng ngay phái sau chen vào nói - Chứ
mi chưa nhìn thấy nhung khi mô à?
Tư-dát cầm lấy tấm nhung trong tay Mừng, đưa cao lên,
ngoẹo đầu bên này ngoẹo đầu bên kia, làm bộ ngắm nghía:
-Thứ nhung ni là đắt tiền gớm lắm đấy. - Nó gật gật
đầu làm bộ mặt quan trọng. - Trước Cách Mạng, ở Huế
chỉ có Nam Phương hoàng hậu với tớ là hay dùng thứ nhung
ni thôi. Hoàng hậu thì để may áo dài, còn tớ thì may
quần đùi.
Trước khi về đội, Bồng là liên lạc của tiểu đoàn mười
bảy. Trong trận xunh phong khách sạn Mô ranh, vị trí
kiên cố nhất của bọn giặc trong thành phố Huế, Bồng
xẻo tấm nhung này ở cái màn sân khấu rạp chiếu bóng
của khách sạn.
Nó cất giữ cẩn thận lắm, trời lạnh cắt ruột cũng không
giở ra đắp. Thế mà bây giờ nó lấy ra cho phắt Mừng.
Vừa lúc đó các bạn những tổ khác cũng kéo đến. Hoà-đen
mang cho Mừng một cái thìa bạc (cũng lấy được ở vị trí
giặc) và một cái chén ăn cơm. Hoà-đen nói với Mừng:
-Đời bộ đội, sau súng đạn, thì hai thứ ni là quan trọng
nhất đó nghe.
Châu tổ bảy mang cho Mừng một cái áo len ngắn tay. Hiền
tổ một lao sầm sầm từ trên cầu thang gác xuống, tay
vung vẩy cái túi dết vải bạt. Nó quàng luôn vô cổ Mừng,
lùi lại một bước ngắm nghía:
-Vừa đẹp! Cậu nhỏ người, đeo cái túi dết ni còn tiện
gấp trăm cái ba lô. Cậu đừng khinh nó nhỏ. Cứ tọng thử
vô đó năm bộ quần áo coi!Lọt thỏm!
Các bạn khác cũng ùn ùn mang đến cho Mừng nào áo, nào
quần, nào thắt lưng da, bao đạn, và bao nhiêu đồ vật
linh tinh khác. Vịnh-sưa phải xua xua tay kêu lên:
-Thôi các câu, thôi các cậu! Cho nhiều ri cậu ta tha
làm răng cho nổi!
Đồ lề, quần áo, các bạn mang đến trang bị cho Mừng,
chất thành đống to tướng trên phản. Mừng đứng sững nhìn
đống đồ đạc các bạn cho, miệng cứ mấp máy định nói gì
mà không nói được. Hai mắt nó tự nhiên đỏ hoe:
Hoà-đen đứng cạnh, nhìn mắt bạn, ngạc nhiên hỏi:
-Ơ, răng mắt cậu đỏ rứa?
-Không biết có con chi hắn bay vô mắt tui ấy... - Mừng
đưa nắm tay lên dụi dụi mắt, ấp úng nói.
-Đưa tớ thổi bụi cho. - Hoà-đen chụm môi ghé vào mắt
bạn. Mừng bỏ nắm tay ra, hai mắt ướt nhoà...
Vịnh-sưa ngồi chồm hỗm trên phản, chọn áo quần đồ lề
cần thiết xếp vào túi dết cho Mừng. Vừa xếp nó vừa rên
rẩm:
-Các cậu ấy cho lăm đồ đạc ri thì ba lô túi dết mô mà
đựng cho xuể?
Khi trong phòng chỉ còn lại hai đứa, Mừng ngồi xuống
cạnh Vịnh, rủ rỉ nói:
-Được vô Vệ Quốc Đoàn sướng quá anh hè?
Vịnh-sưa ngẩng lên nhìn Mừng, cặp mắt long lanh ấm áp:
-Còn phải nói chi nữa! Sướng nhất hạng...
7
Sáng hôm đó, đội trưởng được điện của ban Tham mưu
TRung đoàn triệu tập có việc khẩn. Anh cho đội nghỉ
buổi tập bà giao cho Du, tiểu đội trưởng tiểu đội hai,
làm trực nhật.
Đêm qua, cả hai Mặt trận Khu B và Khu C, tiếng súng
nổ rất dữ. Pháo sáng từ các vị trí giặc vọt lên tới
tấp, sáng rực một góc trời Nam thành phố. "Ông
già bảy lăm" "ho" dồn dập gấp mấy những
đêm trước. Lúc ông "ho" cả đội đều thức, nằm
im nhẩm đếm theo từng phát một.
Đội trưởng vừa đi khỏi, cả đội ùa hết ra sân mặc dầu
trời vẫn lắc rắc mưa. Đứng tụm năm tụm ba trên sân,
chúng bàn tán tranh cãi, phỏng đóan về kết quả trận
đánh đêm hôm qua. Hiền từ trong nhà chạy ra, nhập vào
một nhóm đông nhất đang tụ tập dưới gốc cây mù u, đang
tranh cãi rất hăng. Mừng cũng ở trong nhóm này, nhưng
nó chỉ đứng im há miệng lắng nghe. Nó hết nhìn bạn này
đến bạn khác, vẻ thán phục. Hiền chen vào giữa nói:
-Cãi nhau làm chi cho mệt! Chút nữa đội trưởng về sẽ
có thông báo của Mặt trận. Chừ có việc ni là hay hơn
cả. Có cậu mô thích tập xiếc thì theo tớ tập cho vui
đi! - Không thấy có bạn nào hưởng ứng, Hiền quay sang
Mừng, cầm lấy cánh tay Mừng nắn nắn và nói:
-Cậu nhỏ người mà chắc ghê. Cậu tập xiếc nhất định phải
mau thành tài. Cậu có thích tập xiếc không? Tớ dạy cho.
Mừng ngơ ngác:
-Xiếc như mấy ông bán dầu cù là ở chợ Đông Ba?
Hiền chưa kịp trả lời, Tư-dát đã chen vào:
-Cậu đừng có nghe hắn dỗ ngon dỗ ngọt, tập xiếc tập
xót mà u đầu gãy cổ có ngày. Khối cậu trong đội nghe
hắn dỗ ngon dỗ ngọt theo hắn tập xiếc cót, mọc sừng
trước trán rồi đó. - Nó cười quay lại nói với Hiền.
- Cậu cũng nên dẹp cái môn xiếc xót của dậu đi cho anh
em nhờ. Quay đi quay lịa cũng chỉ có trò nhào lộn với
trò trồng cây chuối...
Hiền đỏ mặt cãi:
-Người ta còn có trò đi trên dây thép...
-Đi trên cây tre gác lên hai cái ghế thì có! - Tư dát
trề môi nói - Nhát gan như tớ cũng chạy trên đó được.
Hiền ức quá, cố chống chế:
-Môn xiếc chính của tớ là môn dạy thú kia. Nếu có gấu
tớ cũng dạy được.
Tư-dát càng trêu già:
-Cậu dạy được gấu thì tớ dạy được cả sư tử, tây ngu(Tê
giác), bò tót. - Tư-dát quay sang nói với Mừng. - Cậu
biết không, hồi mới về đội, không biết cậu ta tròng
được ở đâu con chó mực bị lạc mất chủ, lôi về đội dạy
đi xe đạp. Cậu ta chăm anh chó hơn mẹ chăm con, nhịn
cả phần cơm cho chó ăn. Cậu ta dạy dỗ tài giỏi đến nỗi
con chó quay lại đớp cho một cú vô bắp vế, máu chảy
ướt cả quần...
-Chừ con chó ấy mô rồi? Mừng nhìn Hiền tò mò hỏi.
-Hắn dựt đứt xích chạy mất từ đời tám hoánh! - Tư-dát
trả lời tranh. - Tớ mà nói láo tớ đi đầu xuống đất.
Cậu muốn có ngày bị chó dại cắn chết, cứ việc theo cậu
ta mà xiếc với xót.
Hiền ức muốn phát khóc, nhưng không làm sao nói lại
với cái mồm liến láu của Tư-dát. Nó đưa mắt lườm Tư-dát,
rồi định bỏ đi chỗ khác. Nhưng Tư-dát không chịu buông
tah, níu tay Hiền lại, chỉ về phía một gốc cây vông
đồng ở gần cuối sân:
-Có cậu Vệ mới về đội chiều hôm qua kia kìa. Theo tớ,
cậu nên tập xiếc cho cậu ấy hơn. Bộ cậu ấy ngơ ngơ mà
hiền như con gái rứa, cứ chịu khó dỗ ngon dỗ ngọt, răng
cậu ấy cũng theo.
Vệ là đội viên thứ ba mươi hai của đội. Nó đến nhập
đội vào năm giờ chiều hôm qua. Trước đây, nó là liên
lạc của trung đội Ca-nông Bảy lăm. Hồi Huế mới nổ súng,
nhiều bạn trong đội thỉnh thoảng vẫn gập nó cưỡi con
ngựa ô, lóc cóc đi theo sau khẩu Ca-nông, trên đường
di chuyển vị trí.
Vệ trạc tuổi Vịnh-sưa, thân hình rất mảnh giẻ cân đối.
Gương mặt nó không đẹp nhưng có một vẻ hết sức dễ thương.
Cặp mắt to, sáng, dịu dàng như mắt lai, thường ánh lên
một vẻ buồn buồn rất lạ. Đặc biệt nó có cái đầu to quá
cỡ y như đầu người lớn chắp vào, đội cái mũ ca lô dạ
tím rất diện. Những ón tóc đen nhánh như lông quạ thò
ra ngoài mũ, xoăn xoăn thành búp. Mới về đội chiều hôm
qua, nó đã được các bạn tặng luôn cho cái biệt hiệu:
Vệ-to-đầu.
Lúc này, Vệ đang đứng khom lưng, hai tay chống gối,
chăm chú xem Vịnh-sưa dũa một vỏ đạn đui-xết để làm
cán dao nhíp.
-Vệ ơi Vệ! tới đây, tới đây, có việc ni hay lắm. - Tiếng
Tư-dát gọi to.
Vệ chạy lại, Tư-dát túm lấy tay, hỏi:
-Cậu có thích tập xiếc không, tớ xin giới thiệu với
cậu, - Tư-dát chỉ vào Hiền, - đây là một ông thầy xiếc
tàia nhất nhì Đông Dương...
Vệ mắt chớp chớp, hết nhìn Tư-dát lại nhìn Hiền như
có vẻ lấy làm lạ lắm.
-Trước khi vô Vệ Quốc Đoàn, cậu cũng đi làm xiếc à?
- Vệ hỏi Hiền. - Cậu ở gánh nào vậy?
Tư-dát lùi lại phía sau bụm miệng nhịn cười. Bụng chắc
mẩm đã cho được cậu đội viên mới vào "xiếc"
và nhất định sẽ có những pha cười nôn ruột.
Hiền miễn cưỡng trả lời Vệ:
Mình có ở gánh nào đâu...Hồi còn đang đi học, mình mê
xiếc lắm. Bao nhiêu gánh xiếc tới Huế. Mình chẳng bỏ
sót gánh nào. Tạ Duy Hiển này, Long TIên này, Đô-cô-ha-ma
này... Mình đi coi nhiều lần rồi về bắt chước tự tập
lấy. Khi mô đánh Tây xong, mình sẽ xin đi theo một gánh
xiếc...
-Thế cậu đã tập được những trò gì rồi? - Vệ chăm chú
hỏi.
-Chỉ mới được có mấy trò... Trồng cây chuối, đi bằng
hai tay, đi trên dây thép...
-Cậu ấy còn nhai được cả cơm cháy rau ráu như là nhai
mảnh chai bóng điện ấy. Tài ghê lắm Vệ ạ - Tư-dát chêm
vào.
Vệ không để ý đến lời trêu chọc của Tư-dát. Nó nói với
Hiền, giọng hồi hộp:
-Cậu diễn thử vài trò cho mình xem với. Lâu lắm mình
không được xem xiếc:
-Đi, đi lại đằng kia mình diễn cho coi. - Hiền cầm tay
Vệ-to-đầu định kéo đi. - Rồi tuỳ cậu chọn, thích tập
trò nào mình sẽ dạy cho trò ấy. Không khó lắm đâu.
-Trồng cây chuối với đi bằng hai tay thì ở đâu chẳng
diễn được? - Vệ ngạc nhiên hỏi.
-Nhưng ở đây toàn đá với sỏi, đằng kia có bãi cỏ, lỡ
ngã đỡ đau hơn. Nhưng mình sợ là sợ cho cậu mới tập,
chứ với mình ở đâu chẳng chơi được!
Hiền xắn hai ống tay áo, nhảy lùi lại một bước, chuẩn
bị diễn trò trồng cây chuối. Nó định bụng sẽ trổ hết
tài, diễn thật xuất sắc, làm cho tay đội viên mới này
phải lác mắt, và sẽ nằng nặc xin theo học.
Nhưng bữa nay nó bị xúi quẩy quá! Sau khi đã nhặt hết
những viên đá nhọn. Hiền cẩn thận chúi đầu xuống đất,
gắng sức tung hai chân để dựng ngược người. Nhưng hai
chân lại nặng nề rơi xuống cứ y như bị buộc đá vậy.
Sỏi đá ấn vào đầu nó đau điếng người. Mặt nó đổ bừng
vì gắng sức.
Tư-dát liền bước lại, túm lấy hai cổ chân Hiền vui vẻ
dựng ngược lên, cười nói:
-Để tớ trồng giúp cho. Chuối trông cứ bổ xiêu bổ sấp
mãi rứa thì đứt hết rễ còn chi!
Hiền đứng lên vừa ức vừa ngượng. Nó xoa xoa hai đầu
gối, chống chế:
-Tại mấy bữa ni chân tớ hơi bị đau, chứ mọi lần tớ chỉ
hự một cái là lên ngay.
Vệ-to-đầu nãy giờ vẫn chăm chú theo dõi Hiền diễn xiếc.
Khi Hiền đứng lên, Vệ đưa tay phủi phủi những sợi rác
trên tóc bạn. Nó bỗng lột cái mũ ca lô dạ tím ra khỏi
đầu và cẩn thận luồn vào giữa cầu vai áo quân phục.
Các bạn ngạc nhiên thấy trên đầu nó, giữa những món
tóc xoăn xoăn đen nhánh như lông quạ, có ba bốn cái
sẹo to dài nhẵn bóng như những vết chém.
Vệ nhỏ nhẻ nói với các bạn đang đứng xung quanh:
-Mình cũng biết ít trò xiếc...
Trước những cặp mắt nghi ngờ của các bạn, Vệ đột ngột
hét lên một tiếng nghe rất lạ tai. Và nhanh không kịp
chớp mắt nó chúi người lộn nhào hai vòng rồi đứng lên
người thẳng tắp. Chưa kịp để cho các bạn ngạc nhiên,
nó chống hai tay xuống đất, dựng ngược người, và cứ
thế đi bằng hai tay, rất nhanh về phía ngôi nhà khi
còn cách tường chừng hai bước, nó làm một động tác nhào
lộn hết sức đẹp mắt trước khi đứng thẳng lên. Bức tường
trước mặt có một khuôn cửa sổ hình tròn, không có cánh
cửa. Nó lại thét lên một tiếng chói tai, tung người
bay lọt qua khuôn cửa sổ, vào bên trong nhà.
Các bạn định ào vào bên trong nhà để xem Vệ có việc
gì không. Nhưng bên trong đã nghe tiếng Vệ thét lên
và cả người đã bay vọt ra bên ngoài. Chớp mắt nó đã
đứng thẳng trước mặt các bạn, người không hề chao đảo
ngả nghiêng.
Tất cả cứ tròn xoe mắt nhìn theo Vệ, miệng kêu: "Ơ...ơ"
Tồi tất cả cùng một lúc, nhảy lên như choi choi, vỗ
tay rôm rốp:
-Đúng là xiếc chính cống! Đúng là xiếc chính cống! Bờ-ra-vô
Vệ-to-đầu! Bờ-ra-vô Vệ-to-đầu.
Trước sự tán thưởng nồng nhiệt của các bạn, gương mặt
đỏ hồng lên. Vì cao hứng, vui thích, nó dẫn các bạn
đi thẳng đến chỗ sợi dây thép phơi quần áo ở góc bên
trái sân. Sợi dây to bằng đầu đũa, cao quá tầm tay với,
căng từ hai gốc cây mù u cách nhau chừng mười thước.
Trên dây đung đưa nào áo trấn thủ, khăn mặt, quần sơ
mi... Tư-dát đoán là Vệ sắp diễn trò đi dây thép, nó
liền chạy tới trước, vơ tất cả áo quần cuộn lại thành
một bó và quăng lên thành bể nước cạnh đó.
Vệ nhảy lên níu sợi dây thép, gần sát chỗ buộc và gốc
cây, rồi nhún người đu lên. Loáng một cái nó đã đứng
lên sợi dây thép, người hơi lúng liếng một chút. Nhưng
nó dang thẳng hai tay, lấy được thăng bằng một cách
dễ dàng. Khoan thai nhẹ nhàng nó bước từng bước ngắn,
vững, đi sang đầu dây thép bên kia, dưới những bước
chân sợi dây thép hơi võng xuống, khẽ đung đưa... Khi
còn cách gốc cây chừng non một bước, nó bỗng trượt chân,
nhào nghiêng nười. Các bạn kêu rú, sợ hĩa, chậy xô hết
cả lại, giơ tay ra định đỡ. Nhưng hai kheo chân nó đã
lẹ làng ngoặc vào sợi dây thép, treo ngược người, đầu
dốc xuống đất. Té ra nó làm động tác giả để doạ các
bạn chơi. Vẫn treo người trên dây thép, nó ngẩng lên
nhìn vẻ lo lắng sợ hãi của các bạn với ánh mắt dịu dàng
như mắt nai, và mủm mỉm cười rất dễ thương.
Vừa lúc đó đội trưởng đi họp về. Anh đến ngay trước
mặt Vệ lúc nào không hay. Vệ chợt nhìn thấy anh, mỉm
cười bối rối. Nó vội vàng vịn tay vào vai Hiền, nhẹ
nhàng buông mình xuống đất.
Đội trưởng gọi Vệ vào phòng làm việc. Cả đội ùa vào
theo, đứng chật gian phòng. Đội trưởng quyết định bổ
xung Vệ vào tổ Hiền. Sau đó anh hỏi chuyện nó tại sao
biết làm xiếc, và tập xiếc từ bao giờ.
Té ra trước khi gia nhập Vệ Quốc Đoàn, Vệ là diễn viên
nhào lộn của một gánh xiếc rong. Nó kể:
... Gánh xiếc rong của nó do một ông Khách(Người Tàu)
to lớn, có cặp mắt xếch ngược như mắt tướng hát bội,
làm chủ gánh. Ông này trước là diễn viên trụ cột của
một đoàn mãi võ Sơn Đông, chuyên bán thuốc cao, rất
có tiếng tăm ở Sài Gòn-Chợ Lớn. Sau vì một chuyện xích
mích gì đó với người trưởng đoàn, ông ta tách khỏi đoàn
và lập một gánh xiếc rong để sinh sống. Gánh xiếc này
vẻn vẹn có năm diễn viên: Chủ gánh, Vệ, một anh lùn,
một con khỉ và một con gấu. Gánh xiếc rong nhỏ bé của
nó từng đi diễn khắp lục tỉnh Nam Kỳ, sang cả Nam Vang.
Lúc này cả đội mới hiểu ra vì sao giọng nói của Vệ lơ
lớ đá giọng Sài Gòn.
8
Lần đầu tiên Hiền và nhiều bạn khác trong đội mới được
biết cuộc đời của người làm xiếc rong chẳng mê ly vui
thú như chúng vẫn thường tưởng tượng. Trái lại, đó là
một cuộc sống gian truân, vất vả, cực nhục đến ghê người.
Cuộc sống ấy đã để lại trong trí nhớ chú bé có cặp mắt
dịu dàng như mắt nai này biết bao kỉ niệm hãi hùng...
Chính người Khách mãi võ Sơn Đông vừa làm chủ gánh vừa
dạy xiếc cho các diễn viên. Ông ta dạy anh lùn tung
hứng ném dao, dạy con khỉ, con gấu múa thanh long đao,
đi xe đạp, dạy Vệ nhảy qua vòng lửa có cắm dao cùng
các trò nhào lộn, đi trên dây thép... Về các môn xiếc,
ông ta tuyệt giỏi, không một môn nào ông không đạt đến
mức điêu luyện. Nhưng ông cũng ác vô cùng. Lúc dạy,
tay ông ta không bao giờ rời cây roi da. Con khỉ, con
gấy, anh lùn và Vệ, mỗi lần làm sai, làm hỏng, ông ta
quất không tiếc tay, lại còn phạt nhịn đói. Nhìn ông
ta đánh con khỉ với con gấu mới thương! Dưới những trận
mưa roi da, hai con vật ôm mặt kêu rú lên, lăn lộn dưới
đất, chắp tay lạy ông rối rít...
Để cạnh tranh với hàng trăm gánh xiếc rong hồi đó, ông
chủ bắt anh lùn và Vệ diễn những trò hết sức ghê rơn,
làm người xem phải dựng tóc gáy. Lên mười tuổi, Vệ đã
phải phi tân bay qua vòng lửa cháy rần rật có cắm mười
hai lưỡi dao nhọn hoắt. Phải đi trên dây thép căng cao
hai thước, và bước tới đâu, ông chủ đẩy theo tới đó
một bàn gỗ có bốn bánh xe, bên trên cắm ngược mười hai
lưỡi dao như sẵn sàng chờ nó ngã xuống... Nhưng khủng
khiếp hơn cả là trò nó phải làm bia sống cho anh lùn
ném dao.
Người diễn viên có tài tung hứng và ném dao tuyệt vời
này xấu xí dễ sợ. Anh ta cao chỉ hơn một mét nhưng đôi
vai rất rộng nên trông cứ như người vuông. Anh có cái
đầu to hết cỡ. Trong biển quảng cáo, anh thường được
trưng là "Người lùn nhất thế giới về tài tung hứng
và ném dao"
Làm bia sống cho anh lùn ném dao, Vệ phải cởi trần,
mặc quần cộc thun bó sát người. Nó đứng dựa lưng vào
một tấm ván mỏng dựng trên cái giá gỗ, hai tay dang
thẳng, hai chân xoạc rộng, toàn thân không nhúc nhích,
như đã bị đóng đinh vào tấm ván. Anh lùn đứng cách xa
nó chừng mười bước, tay cầm một nắm dao găm sáng loáng.
Sau một hồi đánh phèng phèng cổ động, ông chủ hô lên
một tiếng như sấm "Tả lớ này!". Lập tức anh
lùn cầm từng con dao một ném phầm phập vào quanh người
Vệ. Dao cắm sát đỉnh đầu, sát hai vai, luồn dưới hai
nách, hai bên hông, hai bên bạn, cuối cùng là dưới hai
bàn chân. Vừa đúng mười hai lưỡi. Lưỡi nào cũng cắm
cách người nó chỉ vài ba phân, có lưỡi dính sát da...
Và càng ném cắm sát dao càng được người xem tung tiền
thưởng. Lúc Vệ bước ra khỏi tấm ván, mười hai lưỡi dao
cắm trên ván vẽ thành một hình người nho nhỏ...
Mặc dầu đã đứng làm bia sống hàng mấy trăm lần, nhưng
Vệ không làm sao quen được. Kể đến đây, bất giác nó
rùng mình. Thật khủng khiếp! Lúc đó hai mắt nó nhắm
nghiền nên nghe càng rõ tiêgns dao rít quanh mình. Mỗi
lần lưỡi dao bay đến cắm phập vào ván, rung lên bần
bật, chất thép lạnh chỉ chạm khẽ vào da thịt mà nhói
thấu đến tận óc. Một cảm giác kinh hoàng không sao tả
xiết làm cho khắp người nó mồ hôi vã ra như tắm. Mồ
hôi chảy ròng ròng suốt từ chân tóc đến hai gan bàn
chân. Nhiều lần căng thẳng quá, nó tưởng có thể ngã
gục xuống chết ngất. Nhưng nó đã cố hết sức để đứng
vững, không run. Nếu run và chỉ cần một li leo xê dịch,
dao sẽ cắm vào người như chơi.
Những vết sẹo dài như chém trên đầu Vệ chính là những
vết dao anh lùn lỡ ném hơi quá tay...
Ngồi nghe Vệ kể chuyện làm xiếc, hai thái dương đội
trưởng mồ hôi rịn lấm tấm. Anh sững sờ kêu lên:
-Thế cha mạ, quê quán em ở đâu mà phải lưu lạc vô tận
Sài Gòn làm xiếc rong? Nó kể:
... Nó theo gánh xiếc từ ngày còn nhỏ lắm, nó không
nhớ là năm lên mấy nữa. Cha mạ quê quán thì chỉ còn
nhớ là cả nhà nó sống chui ríc dưới một cái gầm cầu
sắt to lắm. Người gồng gánh, ô tô, tàu hoả đi lại rầm
rập trên đầu suốt ngày, suốt đêm. Cha nó thường mặc
bộ áo quần xanh, rách rưới, nồng nặc mùi vôi. Nó không
nhớ mặt cha nhưng cái mùi vôi nồng nặc trên áo quần
cha sau mỗi buổi chiều đi làm về, thì cho đến tận bây
giờ nó vẫn như còn ngửi thấy... Cứ chiều đến nó lại
trèo lên mặt đường nhựa đón cha. Thấy bóng cha từ xa,
nó chạy ào đến. Cha bồng nó lên tay, hôn hít rồi móc
móc túi... Cha bắt nó nhắm mắt, há miệng thật to, rồi
lẹ làng đút vô miệng, khi cái kẹo cau, khi cái kẹo bi,
ngọt cho đến tận bây giờ... Một buổi chiều, nó đứng
đón cha hoài, đón đến tối câm tối mù cũng không thấy
cha về. Chiều hôm sau, rồi chiều hôm sau nữa, cũng không
thấy cha về. Má nó thì cứ lăn lóc dưới đất, đầu tóc
rũ rượi, khóc gào như đã hoá điên. Má ôm ghì nó, vùi
nó vô trong đống tóc rối bời, bê bết đất bụi, rồi lại
lăn lóc, lại kêu khóc... Rồi một buổi sáng, những người
chèo đò vớt má nó từ dưới sông lên. Tóc má trét đầy
bùn. Người ta xúm lại đào một cái hố to giữa bãi bắp,
bó má xuống hố, lấp đất lại. Nó đói quá, cả ngày đứng
trên đường xin ăn. Người cho miếng bánh, người cho cục
cơm... Một hôm có một ông mặt mũi dữ tợn như ông tướng
cầm gươm trước cửa đền hiện ra trước mặt nó. Ông đứng
chống nạnh, không nói, không rằng trừng trừng ngó nó
một lúc lâu. Nó sợ co rúm người lại. Ông này bất thình
lình chụp lấy bàn tay nó đang ngửa chìa ra xin ăn, dắt
đi gần như kéo. Nó sợ quá nên chẳng dám kêu, cũng chẳng
dám khóc. Hai chân lết quết chạy theo ông. Ông ta đưa
nó đến một quán cơm, cho ăn cùng với một con khỉ, một
con gấu, và một anh lù tịt đầu rất to... Lúc đầu nó
sợ người lùn này lắm, còn sợ hơn cả cái ông kéo nó đi.
Nhưng anh lùn cười với nó hiền khô, dỗ: "Đừng sợ,
đừng sợ em ạ. Anh chỉ lùn thôi. Mà người lùn thì hiền
hơn cả con nít". Anh gắp miếng thịt trong bát đang
ăn bỏ vào bát nó.
Sau đó cái ông mặt mũi dữ tợn ấy đưa nó lên tàu cùng
với anh lùn, con khỉ, con gấy. Con tàu chạy suốt ngày
suốt đêm, đến một nơi nào đó rất xa... Ông ấy chính
là người Khách mãi võ Sơn Đông, chủ gánh xiếc rong...
Câu chuyện của Vệ làm nhiều bạn nổi hết gai ốc, lo sợ
thay cho bạn và thương bạn quá chừng. Nhiều đứa quay
mặt đi giấu vội nước mắt. Mừng thì khóc thật sự, nó
gục đầu vào vai Bồng, khóc nấc lên thành tiếng. Bồng
cũng khóc nhưng chỉ nấc lên khe khẽ và ngước mắt chảy
lặng lẽ trên hai gò má thô ráp. Tư-dát giả bộ cười nhưng
miệng méo xệch thành mếu. Vịnh-sưa đưa ống tay áo dụi
cặp mắt đỏ hoe,lắp bắp, tức tối hỏi Vệ:
-Khổ đến nước ấy răng cậu không bỏ trốn quách, cứ đèo
queo mãi với cái thằng chao chủ xiếc ấy làm chi?
-Nhưng biết trốn đi mô được? - Vệ hỏi lại như muốn nói
với tất cả các bạn có mặt ở đso. Cặp mắt to dịu dàng
như mắt nai của nó ánh lên một vẻ buồn sâu thẳm.
-Hồi đó làm chi đã có Vệ Quốc Đoàn như bây giờ cho mình
trốn theo? - Vệ khẽ thở dài - Thêm nữa mình cũng thương
anh lùn lắm. Anh ấy tuy thân mình mặt mũi xấu xí hết
chỗ nói nhưng tốt bụng như ông Bụt. Anh ấy thương mình,
thương cả con khỉ, con gấu, như má thương con. Mỗi lần
chúng bị chủ đánh hoặc diễn trò bị thương chảy máu,
anh ấy pha nước muối rửa vết thương cho chúng, tìm mua
lá dấu, thuốc cao dịt vết thương... Anh lén ông chủ,
lấy đường pha nuwóc cho chúng uống. Anh nựng dỗ chúng
khác chi mạ dỗ con. Mình mà ốm, anh ấy ngồi cạnh bên
đầu giường suốt đêm, xúc bón cho mình từng thìa cháo
nhỏ... Mình trốn đi, không có ai đứng làm bia sống cho
anh ấy ném dao, lão chủ sẽ đuổi anh mất. mà anh ấy không
làm xiếc thì còn biết làm chi mà ăn?
Đội trưởng hỏi:
-Thế em gia nhập Vệ Quốc Đoàn trong trường hợp nào?
-Cách Mạng Tháng Tám thành công, gánh xiếc của em đang
diễn ở Nha Trang. Ít lâu sau đó, bọn Pháp trở lại, tấn
công vào thành phố. Đại bác chúng đặt dưới tàu biển,
rót lên trúng cái quán gánh xiếc chúng em đang trọ.
Lão chủ và anh lùn bị trúng mảnh đạn chết ngay tại chỗ.
Còn con khỉ, con gấu, hoảng loạn dựt đứt xích chạy biến.
Sau đợt đại bác, các anh Vệ Quốc Quân một đơn vị Nam
tiến đóng quân gần đó chia nhau đi tìm cứu những người
bị nạn. Các anh tìm thấy em nằm chết giấc dước cái hố
rác cạnh quán. Em không bị thương, chỉ bị sức ép. CÁc
anh bế em về cứu chữa. Đơn vị Nam tiến này toàn người
Huế, vừa đánh nhau ở Mặt trận Nam Trung Bộ rút về đây,
chuẩn bị lên tàu trở ra Huế. Các anh thay phiên nhau
săn sóc em và đặt cho em cái tên mới là Vệ, tức Vệ Quốc
Đoàn. Hồi còn ở gánh xiếc, lão chủ đặt tên cho em là
Tiểu La Thành. Còn tên ba má đặt thì em không còn nhớ
nữa. Ra đến Huế anh chỉ huy đơn vị được Ban chỉ huy
Trung đoàn điều động về chỉ huy trung đội ca nông bảy
lăm ly. Anh ấy đem em theo làm liên lạc cho đơn vị từ
đó đến nay.
Hiền hỏi:
-Rứa cậu không nhận được lệnh của Ban tham mưu Trung
đoàn triệu tập về đội Thiếu niên trinh sát hay răng
mà mãi chiều hôm qua cậu mới đến?
-Có... nhưng các anh ở trung đội ca nông không chịu
cho mình đi. Các anh ấy nói: "Chú mi ở đây rồi
các anh dạy cho làm phao thủ, oách bằng mấy tụi Thiếu
niên trinh sát, đi làm chi!". Mình khóc hết nước
mắt các anh cũng không cho. Mình ức qua, bỏ ăn hai bữa
liền... Mãi đến chiều hôm qua, anh trung đội trưởng
thương mình đói mới chịu ký giấy cho mình về nhập đội.
Tư-dát lúc này đang ngồi vắt vẻo ở khung cửa sổ. Nó
bỗng nhảy phốc xuống đất và kêu lên với giọng ngạc nhiên
thật sự
-Ơ tề! Rứa là đội mình lại thêm một thằng nữa không
có họ!
9
Trời sập tối. Bầu trời đêm thấp nặng lạ thường. Từ
phía cửa Thuận An mây đen xám xít, tầng tầng lớp lớp
cứ ùn ùn kéo mãi về như muốn lấp cho bằng kín khoảng
trời thành phố.
Góc trời phía Nam thành phố chợt léo sáng. Đó là ánh
chớp từ miệng "Ông già bảy lăm" đặt ở lưng
núi Ngự Bình, khạc đạn xuống khu vực Pháp, mở đầu cho
đợt tấn công của quân ta đêm nay, đêm thứ hai mươi sáu
của cuộc chiến đấu bao vây thành phố.
Theo lệnh của đội trưởng, toàn đội Thiếu niên trinh
sát đã tập họp thành đội hình chữ U ở gian buồng giữa.
Im lặng. Chờ đợi. HỒi hộp.
Ngọn đèn bão đặt trên bàn kê sát tường, chiếu sáng những
bộ quân phục thùng thình, những cái mũ ca lô, bê rê,
mũ cứng Tiếp phòng quân... Chiếu sáng những cặp mắt
long lanh, những cái mũi hếch lên chờ đợi, những cái
miệng hé mở sốt ruột...
Cốp! Cốp! Cốp! Đội trưởng từ ngoài cửa chính bước vào
vững chãi trong bộ quân phục màu xám. Lưng thắt xanh-tuya-rông
da, chân dận giày đinh cao cổ. Dáng anh thật đẹp. Anh
đội mũ ca lô dạ màu rêu, hơi lệch một tí, để lộ nửa
mái tóc chải mượt.
Trước mặt các chiến sĩ nhỏ tuổi của mình, đội trưởng
bao giờ cũng ăn mặc, đi đứng, nói năng rất đúng tác
phong kỷ luật quân đội.
Toàn đội rất hãnh diện về người chỉ huy của mình.
Nhiều đứa còn cố bắt chước anh từ cách đi, đứng, hô
khẩu lệnh, đến tất cả những cử chỉ đưa tay đưa chân.
Có đứa còn chú ý nhận xét đội trưởng bao giờ bước đi
cũng bước đi cũng bước chân trái trước, và tập làm theo.
Tối hôm đó, Vịnh-sưa làm trực nhật. Nó cũng gọn gàng
chững chạc không kém gì đội trưởng, chỉ mỗi tội bộ quân
phục khá rộng, nên không được oai cho lắm.
Từ trong hàng bước ra, Vịnh hô toàn đội đứng nghiêm.
Giọng nó sang sảng, rất đúng quy cách khẩu lệnh. Bắt
chước đội trưởng, nó đứng yên lặng mấy giây, đưa mắt
nhìn bao quát cả đội, kiểm tra hàng ngũ khi đã thật
ưng ý, mới rắn rỏi tiến lại trước mặt đội trưởng với
những bước đi đều. Nó dừng lại cách đội trưởng ba bước,
giật mạnh cánh tay đưa lên ngang vành mũ chào, dõng
dạc báo cáo quân số:
-Toàn đội tập họp ba mươi hai chiến sĩ. Đủ! Hết!
Đội trưởng đưa tay chào lại, cho đội trở về tư thế nghỉ
và ngồi xuống. Anh nhìn chiến sĩ trực nhật, nhìn toàn
đội với ánh mắt âu yếm khác hẳn mọi hôm.
Anh bước đến cạnh bàn, rút cuốn sổ tay trong túi ngực,
đặt xuống ngọn đèn bão. Anh báo cáo với đội:
-Đêm qua quân ta, cả hai Mặt trận khu B và khu C đã
đồng loạt tiến công quyết liệt các vị trí của giặc như
ga-ra La-cờ-roa, Viện Dân Biểu, nhà Dây Thép, lầu Công
Chánh... Một đơn vị cảm tử thuộc Mặt trận khu B đã khiêng
bốn quả bom vào chính giữa khách sạn Mo-ranh giật sập
một tầng lầu, giết gần năm mươi tên giăc, thu tám súng
trường một tiểu liên, thiêu huỷ một kho xăng và nhiều
lốp ô tô... Trên con đường trước cửa hàng Ngân Hàng,
một chiếc xe tăng của giặc có gắn đại bác bô-pho, bắn
dồn dập vào một đơn vị quân ta bố trí gần đó. Vừa bắn
chiếc xe tăng vừa chồm lên, lao thẳng vào giữa đội hình
quân ta, định chà nát cả đơn vị dưới xích sắt. Tính
mạng mấy chục chiến sĩ ta chỉ còn treo trên sợi tóc.
Ngay lúc đó, một chiến sĩ đứng phắt ngay dậy, ôm một
trái bom ba càng, xông thẳng đến trước mũi chiếc xe
tăng. Anh lao cả người cùng trái bom vào khối htép đồ
sộ như hòn núi. Chiếc xe tăng giặc nổ tung, xích sắt
đứt lìa, nằm bẹp dí một đống như đống bùn. Người chiến
sĩ cảm tử hy sinh nhưng đơn vị đã được cứu thoát...
Cả đội gần như nín thở, miệng há ra, mắt không chớp,
nuốt lấy từng lời của đội trưởng. Nhiều tiếng xuyét
xoa bật lên, cả đội vỗ tay rần rần, hoan hô chiến công
tuyệt vời của người chiến sĩ cảm tử. Đội trưởng đứng
lặng một phút nhìn các em. Chính anh cũng lấy nỗi xúc
đôngj bồng bột của các em. Một câu văn có lần anh đọc
trong một cuốn sách nào đó, lúc này vụt chói ngời trong
trí nhớ anh: "Những hành động anh hùng, những tình
cảm cao cả, những sự tích phi thường, là món ăn tinh
thần tốt nhất, để nuôi dưỡng tuổi thơ."
Tư-dát ngồi ở hàng phía sau, nhúc nhích cựa quậy liên
tiếp như bị kiến đốt. nó quay sang bên phải, bấm khẽ
vào đùi Vịnh-sưa, ghé sát miệng thì thầm vào tai bạn:
-Lao chứ cậu?
-Lao cái chi? - Vịnh-sưa cau mặt hỏi.
-Còn lao cái chi nữa! Lao cả người với bom ba càng vô
xe tăng tụi Tây ấy? - Tư-dát thì thầm trả lời với vẻ
mặt đặc biệt nghiêm trang ít khi thấy ở nó. - Nếu gặp
trường hợp như anh cảm tử quân đội trưởng vừa kể, cậu
có dám lao bom như anh ấy không?
-Rứa cậu?
-Nhứt định là tớ lao! - Cặp mắt Tư-dát loé sáng hăm
hở - Chết là cùng chớ chi? Một mình chết cho bao nhiêu
người sống, chết như rứa mới sướng!
Vịnh-sưa từ trước đến nay vẫn cho Tư-dát chỉ được cái
giỏi làm hề chọc anh em cười chứ chẳng làm được cái
gì ra trò. Nhưng lúc này, nhìn vẻ mặt và nghe giọng
nói khác lạ của bạn, Vịnh-sưa bỗng tin là cậu ta có
thể lao cả người và bom ba càng vào xe tăng giặc thật.
Mừng ngồi phía sau Vịnh-sưa, dỏng tai nghe hai bạn trò
chuyện. Nó chợt ghé sang hỏi Tư-dát:
-Anh Tư này, rứa trái bom ba càng to ước chừng mô anh?
Có nặng lắm không?
-To nhỏ thì việc chi đến cậu? - Tư-dát hỏi lại Mừng.
Mừng rụt rè nói:
-Tui sợ trái bom to quá tui na(ôm, mang vác, bưng) răng
nổi mà lao?
-Ủa, cậu mà cũng đò lao cả bom ba càng nữa kia à?
-Anh lao được thì tui cũng lao được!
-Ban chỉ huy Trung đoàn sáng nay đã quyết định.- Tiếng
đội trưởng cất cao, cắt ngang câu chuyện của hai đứa.
Anh rút tờ giấy đánh máy có dấu son đỏ, kẹp trong cuốn
sổ tay, ghé bên ngọn đèn bão, dõng dạc đọc: "Do
tình hình khẩn trương của Mặt trận, Đội thiếu niên trinh
sát của Trung đòn tạm dừng đọt huấn luyện. Đúng tám
giờ sang ngày... tháng 12 năm 1946 toàn đội phải có
mặt đầy đủ tại Chỉ huy sở Mặt trận khu C để nhận nhiệm
vụ chiến đấu.
Cả đội ngồi lịm có đến một phút. Im lặng đến nỗi nghe
rõ tiếng con thạch sùng tặc lưỡi trên trần nhà. Bất
thần vọt lên như những chiếc pháo thăng thiên, cả đội
vụt đứng dậy. CÁc em lột mũ, tung tới tấp lên trần nhà,
vừa nhảy như choi choi vừa vỗ tay hoan hô đến muốn vỡ
cả ngôi lầu doanh trại. Như để hưởng ứng nỗi vui mừng
cuồn nhiệt của các chiến sĩ nhỏ tuổi, đúng lúc đó, phía
mặt trận tiếng súng đủ các cỡ, tiếng lựu đạn bom mình...
rộ lên từng đợt dài không ngớt.
Và những phút như thế này không thể làm sao không hát!
Tất cả chẳng đợi ai bắt nhịp, cùng một lúc vươn thẳng
người, căng lồng ngực, cất cao giọng rập ràng hát vang:
"Đoàn Vệ Quốc Quân một lần ra đi.
Nào có mong chi đâu ngày trở về
Ra đi ra đi bảo tồn sông núi
Ra đi ra đi thà chết không lui..."
Khi đội đã trở lại trật tự, đội trưởng nói giọng mềm
hẳn đi:
-Anh hết sức xúc động và cũng hết sức vui mừng thấy
các em náo nức đến thế khi được tin sắp ra Mặt trận!
Những ngày sắp tới đối với người chiến sĩ trinh sát
chúng ta sẽ là những ngày tuyệt đẹp, nhưng đồng thời
cũng đầy gian khổ hiểm nghèo. Trong chiến đấu các em
có thể bị thương, bị giặc bắt, thậm chí có thể hy sinh.
Nhưng chưa lúc nào như lúc này, anh thấy tin tưởng một
cách sâu sắc rằng, những ngày sắp đến dù vấp phải gian
khổ hiểm nghèo đến đâu, nhất định các em cũng sẽ làm
đúng được như lời các em vừa hát: "Ra đi ra đi
thà chết không lui..."
Giọng anh bất chợt vang to lên như đang nói trước cả
một đoàn quân:
-...Chúng ta quyết định ra đi thà chết không lui, để
góp phần cùng các anh lớn đánh đuổi bọn thực dân cướp
nước ra khỏi bờ cõi Tổ quốc thân yêu của chúng ta. Khi
đất nước đã tự do, Tổ quốc đã hoàn toàn độc lập, thì
nhất định người Việt Nam chúng ta sẽ được hưởng một
cuộc đời sung sướng, hạnh phúc gấp trăm nghìn lần hôm
nay... Lứa tuổi các em sẽ không còn phải đi ở, đi làm
xiếc rong, đi bán kẹo, bán báo để kiếm miếng ăn hàng
ngày như các em trước đây đã phải chịud đựng. Tuổi nhỏ
ai ai cũng được cắp sách đến trường, được ca hát vui
chơi... Đến tuôi khôn lớn các em sẽ được thoả sức đem
hết tài năng sức lực của mình cống hiến cho Nhân Dân,
Tổ Quốc. Người già lão sẽ được vào an dưỡng đường an
dưỡng tuôi già. Những người ốm đau, bệnh tật sẽ được
vào nhà thương không mất tiền, có đầy đủ thuốc men chữa
cho lành bệnh...
Từ trong hàng bỗng có một đứa rụt rè đưa tay lên, làm
đội trưởng phải ngừng lời. Anh cầm cây đèn bão đưa cao
nhìn xem em nào.
-Mừng đấy à? - Đội trưởng hỏi, hơi nheo mắt lại - Em
muốn hỏi gì à?
Mừng bối rối đứng lên. Nó rụt chân xuôi hai tay đứng
nghiêm, chớp chớp mắt ấp úng hỏi:
-Dạ... dạ thưa anh... dạ đến lúc đó thì người bị mắc
bệnh hen suyễn khinh niên có chữa được lành không ạ?
Cả đội ngoảnh lại nhìn Mừng. Như mọi bận chắc nhiều
em đã phá lên cười vì cậu hỏi ngẩn ngẩn ngơ ngơ của
Mừng. Nhưng lúc này không em nào cười. Nhiều tiếng suỵt
suỵt ra hiệu cho Mừng không được hỏi ba láp như thế
nữa.
Vịnh-sưa hót hải nhớn người lên, túm lấy thắt lưng Mừng
kéo rị xuống, khẽ gắt:
-Cậu không thấy đội trưởng đang nói chuyện quan trọng
đánh Tây cứu nước... cậu lại đi hỏi chuyện bậy bạ ho
suyễn kinh niên?
Vịnh nhìn lên đội trưởng như có ý xin lỗi về sự thiếu
sót của tổ viên mình: "mừng nó mới vô Vệ Quốc Quân,
nó còn dại lắm, anh ta lỗi cho nó" cặp mắt nó như
muốn nói vậy.
Đội trưởng vẫn không rời mắt nhìn Mừng. Anh đang tự
hỏi:
"Làm sao chú bé không nhà cửa, không mẹ không cha
không có cả họ này lại đặc biệt quan tâm đến người mắc
bệnh hen suyễn?". Anh chợt nhớ cách đây dăm hôm.
Lúc đó cũng đã đến mười, mười một giờ đêm, anh đang
ngồi soạn khoa mục cho buổi tập sáng mai. Chợt Vịnh-sưa
đẩy cửa bước vào đứng nghiêm báo cáo: "Báo cáo
anh, Mừng nó rất vô kỷ luật. Em vừa bắt gặp nó trèo
tót lên tận ngọn cây bút bút đằng sau doanh trại, cái
cây cao nhất vườn mà anh có lệnh cấm không được ai trèo
lên ấy...". Anh phải sợ hãi kêu lên: "Trời!
Cái thằng! Đêm hôm khuya khoắt thế này nó trèo lên làm
gì trên ấy? Ngã một cái thì tan xương còn gì".
Vịnh nói: "Dạ, nó trèo để hái lá tầm gửi đậu cheo
leo trên cái ngọn chót vót nhất ấy. Hái cả một ôm tướng.
Em gọi nó xuống hỏi: "Cậu hái làm chi cái thứ lá
ba láp đó mà trèo cây giữa lúc nửa đêm, lỡ ngã mần răng?"
Nó cãi lại em: "Thứ lá tầm gửi ni quý lắm chứ anh
tưởng! Cắt nhỏ, phơi khô, sao vàng, hạ thổ, rồi sắc
lên mà uống thì mắc bệnh hen suyễn kinh niên nặng mấy
cũng lành". Em tức quá hỏi: "Ai bày bậy bạ
cho cậu rứa mà cũng dại dột nghe theo?" Nó nói:
"Cụ Ba trà già nhất trong xóm tui bày. Đây là môn
thuốc gia truyền quý nhất của cụ. Cụ thương tui lắm
cụ mới bày cho chứ người khác a, có thuê vàng, cụ ấy
cũng chẳng bày cho mô"..."Chắc trong cuộc
đời chú bé này có một uẩn khúc gì đây?" Anh nghĩ
vậy rồi ôn tồn hỏi:
-EM muốn biết sau khiđã đánh đuổi hết bọn thực dân,
nước ta đã được hoàn toàn độc lập, thì những người bị
mắc bệnh hen suyễn kinh niên có thể chữa lành được không,
có phải thế không em?
-Dạ phải ạ... - Mừng trả lời, giọng hồi hộp.
-Vậy thì anh xin cả quyết nói với em rằng, không những
chỉ bệnh hen suyễn kinh niên, mà cả những bệnh hiểm
nghèo khác, cũng sẽ được chữa khỏi. Vì lúc đó mọi thứ
thuốc men tốt nhất, mọi thứ máy móc dụng cụ chữa bệnh
công hiệu nhất, đều được dành để chữa cho nhân dân lao
động, trong đó có các em, cha mẹ, ông bà các em. Những
thứ này, dưới thời nô lệ, chỉ dành riêng cho bọn thực
dân, vua quan, bọn giàu có, lắm tiền nhiều của mà thôi,
những người như anh em chúng ta đừng có hòng mà rờ đến!
Em còn muốn hỏi gì thêm nữa không?
-Dạ thôi ạ. - Mừng vui sướng đáp to. Cặp mắt của em
ngời lên, long lanh dưới bóng sẫm vành mũ cứng đội sụp
quá nửa mặt, ngước nhìn đội trưởng cảm kích, biết ơn.
Rồi như không sao kiềm giữ nổi niềm sao xuyến, bồng
bột trong lòng, Mừng chồm qua vai Vịnh-sưa thì thào
nói với Tư-dát:
-Anh Tư nì, độc lập sướng quá anh hè?
Tư-dát cho câu hỏi của Mừng là thừa. Nó đáp, không thèm
quay đầu lại:
-Chuyện! Độc lập mà không sướng thì tội vạ chi cả nước
lăn lưng ra Mặt trận nện nhau với tụi Tây, bể đầu chảy
máu!
10
Phía mặt trận tiếng súng thưa dần. Một vài tràng nổ
rời rạc trước khi tắt hẳn. Đêm đã khuya lắm, bên ngoài
trời vẫn rả rích mưa...
Trong ngôi lầu "doanh trại" đã im hẳn tiếng
rì rầm chuyện trò của các chiến sĩ nhỏ tuổi.
Từng tổ một, nằm úp thìa trên những tấm phản, những
mặt bàn kêu liền nhau, ôm nhau ngủ ngon lành. Nhiều
chiếc chăn bị đạp tung, mấp mé tụt xuống đất. Có đứa
nằm xoay ngang đầu lộn xuống chân, chân gác lên bụng
bạn nằm bên cạnh. Có đứa bật lên cười khúc khích, ú
ớ nói mê... Có lẽ đây là giấc ngủ ngon lành bình thản
nhất của những chiến sĩ trước giờ ra trận.
Ngôi lầu chìm nghỉm trong bóng tối sâu thẳm, ướt át
mưa đêm. Chỉ còn một khoảng sáng rất nhỏ ở tầng gác
hai. Đó là gian phòng làm việc của đội trưởng. Anh đang
ngồi cắm cúi viết dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn bão.
Anh chuẩn bị giấy tờ cho các tổ sáng mai đến nhận nhiệm
vụ ở các đơn vị. Anh nghiên cứu sắp xếp phiên chế lại
các tổ, để làm sao mỗi tổ đều có đội viên đã từng được
tham gia chiến đấu, và đội viên mới; đội viên giỏi chuyên
môn, nhanh nhẹn, tháo vát và đội viên chậm, ít sáng
kiến...
Sau khi soát lại danh sách đội viên và đọc kỹ lý lịch
của các em, anh phát hiện ra rằng quá hai phần ba số
đội viên đã nhập ngũ rất sớm. Các em Du, Phát, Chà,
Nghĩa-kỳ, Ba, Châu, Lượm, Quỳnh, Tề, Dật... có em nhập
ngũ tháng 12 năm 1945, có em tháng 1 năm 1946. Hơn một
nửa số độ viên đã tham gia chiến đấu từ ngày đầu nổ
súng.
Trường hợp nhập ngũ của nhiều em thật đặc biệt và khá
tức cười, hiếm thấy trong lý lịch các chiến sĩ lớn tuổi.
Nếu Cách Mạng là một dòng sông, và cuộc đời của mỗi
chiến sĩ là một con suối đổ vào dòng sông đó, thì các
em lại là những tia nước nhỏ bé, bất ngờ vọt ra từ một
kẽ đá, một vết nứt trên thân cây, hoặc trút xuống từ
một đài hoa gió thổi nghiêng... Nhưng cái điều kỳ thú
là những tia nước mỏng manh nhỏ bé ấy đã tự len lỏi
hoà vào dòng sông Cách Mạng hùng vĩ, lúc nào không ai
hay.
Trước khi vào Vệ Quốc Đoàn, Hoà-đen làm ngề bán đậu
phụng rang nóng dòn.
Em Bồng lại chuyên nghề "bánh mì mới ra lò"
từ năm mười hai tuổi. Những buổi sáng mùa đông mưa dầm
lạnh cắt ruột, trong lcú những đứa trẻ khác bằng tuổi
nó còn nằm cuộn tròn trong chăn ấm, mếu máo với quà
sáng, Bồng phải mong manh áo cộc, quần đùi, đứng run
lập cập trước lò bánh chờ đến lượt đếm bánh. Đếm xong,
nó khoác cái bị bánh to che khuất cả người lên vai,
đi vòng hết phố này sang phố khác. Nó cố lấy hơi để
rao cho những người đang cuộn tròn trong chăn ấm nghe
tiếng: "Bánh mì nóng giòn mới ra lò đê...ê...ê".
Hồi bọn Tàu Tưởng còn đóng ở Huế, một hôm, nó thừa cơ
nẫng luôn của một tên lính Tàu say rượu, khẩu súng "tôm-sơn"
nước thép còn xanh biếc. Nó tuồn khẩu súng vào bị bánh
mì, rồi đàng haòng khoác lên vai lảnh lót rao: "Ai...
bánh mì nóng mới ra lò đê...ê..." Nó đi thẳng đến
đơn vị Vệ Quốc Đoàn đang ở Cung An Định mà sáng sáng
nó vẫn thường bán bánh cho các anh. Nó nộp các anh khẩu
súng mà báng và nòng còn nóng sực vì bị vùi giữa đống
bánh mì nóng mới ra lò. Nó ủng hộ luôn cả bị bánh mì
để các anh "thời" cho ấm bụng. Nó nói: "Bị
bánh là của nhà chủ. Mất bớt một bị, lão ta chẳng nghèo
đi mô mà các anh lo. Còn khẩu súng là của em. Các anh
phải thưởng công cho em, cho em được vô VỆ Quốc Đoàn.
Em chán cái kiếp đi ở tớ cho người ta lắm rồi!"
Tư-dát, cái chú đội viên miệng liến láu suốt ngày, lúc
nào cũng làm trò hề chọc cho cả đội cười, và nhát gan
thì không ai bằng, thế mà đã từng làm một việc liều
lĩnh nhất đời. Trên đường đi học về - nó học năm đệ
nhất trung học trường Khải Định - Nó ghé vào Ga Lớn
xem tàu hoả đỗ lại. Đúng hôm đó, cả đoàn tàu chở Vệ
Quốc Quân nam tiến. Các anh ngồi trên các toa tàu căng
đầy khẩu hiệu, biểu ngữ: "Nam bộ là máu của máu
Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam!" "Thà
chết không quay lại đời nô lệ!..." Các anh rập
ràng vỗ tay hát vang: "Xếp bút nghiên lên đường
tranh đấu... Xếp bút nghiên coi thường công danh..."
Nó liền liệng luôn cái cặp sách xuống sông, lén nhảy
lên tàu, trốn theo đoàn quân Nam tiến. Tàu đến ga Truồi,
nó mới bị phát hiện và giữ lại. Người ta nhờ chuyến
tàu ra Huế gửi trả chú về nhà. Nhưng nó cứ bíu chặt
lấy các anh vệ Quốc Quân Nam tiến mà khóc: "Các
anh mà trả em về nhà thì cha mạ em tuốt xương em ra.
Cha mạ em giữ đòn lắm!" Các anh hỏi: "Nhưng
chú mình nghĩ ngợi cách răng mà đang đi học lại nhảy
bừa lên tàu trốn vô thấu đây?" Chú liến láu nói:
"Chỉ tại các anh hết. Các anh cứ vỗ tay mà hát
rầm trời: Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu... làm
em không nhịn nổi, phải xếp bút nghiên theo các anh...",
- "Rứa bút nghiên chú mình xếp vô mô cả rồi?",
- "Dạ em xếp hết xuống sông Hương với cả cái cặp
da mới nữa... Bởi rứa chừ mà về nhà thì cha mạ em tuốt
xương em ra...". Chú cứ vừa mếu, vừa khóc vừa liến
láu làm các anh không nhịn được cười. Cuối cùng các
anh đành phải cho chú nhập đơn vị. Đơn vị chú vào đến
ga lăng Cô, được điện của Ban chỉ huy trung đoàn chỉ
thị ở lại đây bổ xung cho tiểu đoàn Mười Tám lúc này
đang đóng ở vùng Nước Ngọt., Cần Hai. Tư-dát trở thành
liên lạc viên của tiểu đoàn Mười Tám từ đó.
Rồi trường hợp nhập ngũ của các em Lượm, Châu, Ba, Kỳ,
Quỳnh... Của Vệ-to-đầu...Và gần đây nhất là trường hợp
nhập ngũ của Mừng... Mà mỗi lần chợt nghĩ đến anh lại
phải bật cười: Cái thằng...
Đội trưởng Lê Thắng trước cách mạng Tháng Tám là học
sinh trường Kỹ Nghệ thực hành Huế. Ngay sau ngày Cách
mạng thành công, anh ra nhập VỆ Quốc Đoàn và được đề
bạt làm Trung đội trưởng chỉ huy một trung đội Tiếp
Phòng Quân. Mấy tháng sau, anh được điều động về ban
Tham mưu trung đòan công tác ở Phòng Tình báo. Huế nổ
súng. Ban Tham Mưu quyết định tập trung tất cả các em
liên lạc của trung đoàn, thành lập đội Thiếu niên trinh
sát. Tham mưu trưởng chỉ định anh về phụ trách Đội.
Thật tình lúc được trao nhiệm vụ, anh chẳng lấy gì làm
phấn khởi. 'Một sĩ quan tình báo lại về chỉ huy một
sắp trẻ con hỉ mũi chưa sạch, thật chán chết!".
Anh thầm nghĩ vậy. Nhưng chỉ sau một thời gian sống
gần gũi các em, để tâm tình tìm hiểu hoàn cảnh gia đình
và trường hợp tham gia bộ đội của mỗi em, anh trở nên
gắn bó, yêu mến cái đơn vị nhỏ bé này biết bao.
Thật ra, khi chưa tiếp xúc với các em, anh đã nghĩ về
các em với kinh nghiệm cuả bản thân. Đời anh cũng có
một quãng tuổi thơ như các chiến sĩ nhỏ tuổi mà anh
đang phụ trách, chỉ huy. Nhưng đó là một tuổi thơ tầm
thường. Chẳng có gì đáng ghi nhớ... Những trò nghịch
ngợm ranh mãnh, những trận đòn của bố mẹ, những lo lắng
hồi hộp trước các kỳ thi.... Quãng tuổi thơ đó lướt
qua cuộc đời anh không để lại dấu vết gì, như dòng nước
lặng lẽ chảy qua một khoảng trời bằng phẳg và dốc. So
với tuổi thơ các chiến sĩ bé nỏ anh đang phụ trách,
khác xa biết bao! "Trong tương lai - anh thầm nghĩ
- các đội viên của anh, qua cuộc chiến đấu vĩ đại này,
sẽ hổi tưởng lại tuổi thơ của mình. Ôi, tuổi thơ của
đời ta đẹp đẽ biết bao! Nó đã được gắn liền với vận
mệnh, với sự sống còn của đất nước và của Cách Mạng
từ thuở còn trứng nước!"
11
Đội trưởng mải mê chìm đắm trong công việc và suy tưởng,
nên không nghe thấy tiếng cánh cửa kẹt mở và tiếng chân
rón rén bước vào phòng.
Một ngọn gió lạnh thổi thốc vào làm ngọn đèn dầu trên
bàn lung lay, chao đảo. Anh vội đưa bàn tay khum khum
che chỗ thủng trên bóng đèn và ngẩng lên.
Vịnh-sưa đang đứng trước mặt anh. Anh ngạc nhiên, đặt
bút xuống hỏi:
-Sao em chưa đi ngủ? Có việc gì thế em?
Vịnh-sưa đứng nghiêm lại:
-Báo cáo anh, Mừng nó bỏ trốn khỏi đội!
-Trốn à? Trốn từ bao giờ? - Đội trưởng hỏi như có vẻ
không tin chuyện đó. - Đầu đuôi ra sao em kể anh nghe
xem nào.
-Cách đây khoảng nửa giờ, em đang ngủ bỗng choàng tỉnh
dậy. Em đưa tay sờ thì không thấy Mừng nằm cạnh em.
Em tưởng nó ngủ mê lăn rớt xuống đất như mấy lần trước.
Em nhảy xuống đất, sờ khắp cả buồng cũng không thấy.
Em đoán hay là nó đau bụng ra vườn đi ca-bi-nê. Em nằm
chờ một lúc lâu không thấy nó trở vô. Em lo quá, lỡ
nó đang dâu gặp phải gió lạnh rồi ngất luôn ở ngoài
đó. Rứa là em chạy ngay ra vườn để tìm. Vườn tối quá
lại thêm mưa lắc rắc. Em tìm quanh tìm quẩn mãi. Chợt
nghe có tiếng khóc thút thít ở chỗ góc cuối vườn. Em
chạy lại hỏi: "Có phải mi đó không Mừng?"
Nó không nói chi hết, cứ ngồi thu lu ở gốc cây mà khóc
to hơn. Em hỏi chi nó cũng không nói, cứ khóc hoài.
Tức quá, em nói: "Được, cậu cứ ngồi đó mà khóc
cho chán đi. Tớ vô báo cáo với đội trưởng là đang nửa
đêm cậu bỏ trốn khỏi đội" Rứa là nó đứng ngay dậy,
níu lấy tay em van vỉ: "Đừng, anh đừng báo cáo
với đội trưởng mà tội tui... Anh tha cho tui lần ni,
lần sau tui không dám làm rứa nữa mô..."
-Thế bây giờ Mừng đâu rồi?
-Dạ nó đã đi vô đứng trong mái hiên gần bếp. Mà nó cứ
khóc, em dỗ chi nó cũng không nín.
-Nhưng em căn cứ vào đâu mà cho là Mừng định bỏ trốn
khỏi Đội?
-Nó không định bỏ trốn thì can chi nửa đêm lại mò ra
ngoài vườn ngồi khóc một mình dưới trời mưa? Em chắc
nó nghe tin ngày mai Đội ra mặt trận, nó sợ, định bỏ
trốn. nhưng ra đến ngoài vườn trời tối quá, không biết
đường mô mà mò đi, nên đành ngồi khóc... Em không ngờ
nó hèn đến nước ấy! Nó làm xấu mặt cho cả tổ em! Vịnh-sưa
kết thúc câu chuyện với giọng tức tối, phẫn nộ.
-Em xuống gọi Mừng lên đây anh gặp.
-Rõ! Vịnh-sưa đưa tay lên ngang mày chào anh, quay ra
với động tác đằng sau quay. Đội trưởng nhìn theo cái
dáng nhỏ bé của Vịnh, khuất dần dưới các bậc cầu thang,
thầm nghĩ: "Chú bé này tương lai sẽ là một chiến
sĩ kiểu mẫu trong sinh hoạt cũng như trong chiến đấu.
Và nếu chú ta được đề bạt làm chính trị viên, chắc chắn
sẽ là một chính trị viên rất cừ".
Lát sau, Vịnh-sưa dẫn Mừng vào phòng. Vịnh đứng lùi
lại khuất sau cái bệ lò sưởi. Mừng bước đến giữa phòng
đứng sững lại, nhìn đội trưởng với đôi mắt của người
sẵn sàng nhận tội. Cái mũ cứng và bộ quân phục rộng
thùng thình của nó thẫm lại từng mảng lớn vì thấm ướt
nước mưa. Chắc nó ở ngoài trời đã khá lâu, hai má và
mắt nhoè nhoẹt nước mưa lẫn nước mắt. Cả gương mặt nó
có một vẻ gì buồn khổ khôn tả. Nhìn nó đội trưởng bỗng
thấy nhói trong tim.
-Lại gần đây anh hỏi. - Đội trưởng nói giọng đặc biệt
dịu dàng.
Mừng rụt rè bước lại, tì ngực vào mép bàn:
-Tại răng đang nửa đêm em lại ra ngồi ngoài vườn mà
khóc?
Mừng vừa nói vừa nấc nhè nhẹ:
-Dạ... Em lỡ lần ni... Anh tha cho em... Lần sau em
không dám rứa nữa...
-Có phải em định bỏ trốn khỏi Đội không?
Mừng cúi đầu khẽ gật:
-Dạ...
-Tại sao em lại trốn? Có phải em sợ ra mặt trận không?
Nếu sợ, em cứ việc báo cáo với anh, anh sẽ cho em ra
ngay khỏi Đội, việc gì phải trốn?
-Dạ... em có sợ chi cái chuyện ra mặt trận... - Mừng
nấc to, một giọt nước mắt rơi xuống mặt bàn, nó vội
đưa tay chùi đi và nói tiếp, giọng thổn thức.
-Dạ, em chỉ trốn đi một lúc rồi em lại quay về thôi
mà...
-Em định trốn đi đâu mà chỉ trốn có một lúc?
-Dạ... dạ... em trốn về thăm mạ em...
-Thăm mạ à? - Đội trưởng sửng sốt. - Sao hôm xin nhập
đội em khai là không có cha mạ chi hết, đi ở giữ em
cho người ta?
-Dạ em nói rứa bởi sợ anh không cho em nhập Đội, bắt
phải về xin phép mạ...
-Rứa mạ em làm nghề chi? Ngoài mạ ra nhà em còn ai nữa
không? Em ngồi xuống đây kẻo mỏi chân.
Đội trưởng kéo Mừng ngồi xuống cái ghế đẩu cạnh anh.
Anh dở mũ ướt thẫm nước trên đầu nó, đặt vào góc bàn,
và rút mùi xoa lau mắt cho em. - Hãy kể cho anh nghe
chuyện nhà em đi. - Giọng anh như giọng mẹ dỗ con.
Mừng biết là không thể giấu đội trưởng được nữa. Không
kể cho anh nghe hết mọi chuyện, e chắc anh đuổi mình
ra khỏi đội mất, nó tự nhủ thầm vậy.
Tranh cái nhìn dò hỏi của đội trưởng, hai mắt nó nhìn
chăm chăm vào cái mũ ướt thấm nước mưa để ở góc bàn
nó kể không mạch lạc, chốc chốc phải ngừng lại, cặp
môi run rẩy cố nuốt tiếng khóc nấc chực trào lên cổ...
... Nhà em ở cuối đường kiệt nhớp nhúa nhất xóm Bao
Vinh. - cái xóm ngoại ô nghèo khổ phía bắc thành Huế.
Mỗi lần trời mưa to, nước chẩy tứ tung trong nhà, mạ
em phải lấy mo nang mà dọi. Dọi được chỗ ni lại dột
qua chỗ khác. Nhiều bữa ngồi trong nhà mà hai mạ con
phải đội nón. Trong nhà chỉ có bức phản mọt gãy mất
một chân, phải kê thay chồng gạch. Với thêm cái chõng
tre vừa hai mạ con nằm. Cái sân trước nhà rêu phủ xanh
lè lè, trời mưa, vô ra không bấm chân là vồ ếch ngay...
Mạ em là chị Niệm, làm nghề bán bún bò gánh. Bún bò
của mạ em ngon mà rẻ nhất chợ Bao Vinh. Buổi sáng, ai
cũng hong hóng chờ "Gánh bún bò chị Niệm"
mới ăn.
Trước tê nhà còn có cha em. Cha em tên là Năm, mặt rất
dài nên cả xóm gọi là ông Năm-ngựa. Cha em cao to mà
dữ tợ ghê lắm, ngực xăm đầy rồng rắn. Cha em rất giỏi
võ, trong người lúc mô cũng dắt dao. Cả vùng Bao Vinh
ai cũng kiềng. Đã có hai tay anh chị ngoài bến Bao Vinh
bị cha em chém xả cánh tay....
Cách đây đã lâu, cha bỏ mạ em, đi lấy vợ hai bên Phú
Cam rồi ở luôn bên đó. Nhưng cứ năm bữa nửa tháng, cha
em lại mò về nhà, hạch sách hành hạ mạ em. Bắt mạ em
phải mua rượu, lòng heo, nước mắm ngon về cho ăn, ăn
xong lại quệt miệng đi. Gặp bữa mạ mua phải lòng heo
không béo, không ngon, cha co chân đá phốc hết xuống
đất, rồi chửi, đập mạ em tối tăm mặt mũi. Nhiều lần
cha còn lột hết áo quần của mạ. Cột tóc mạ vô chân cột
nhà, rồi cầm thanh củi mà phang. Đánh chán, cha cứ để
mặc mạ nằm đó, bỏ đi. Em phải tháo tóc ra cho mạ, đỡ
mạ em ngồi dậy. Đầu mạ em loà lên những máu... máu bết
tóc lại thành nắm... Tóc mạ trước kia dài lắm, thả ra
chải gần chấm gót. Rứa mà chừ rụng gần hết, búi lại
chỉ còn lọn nhỏ hơn nắm tay em...
Mỗi lần thấy bóng cha về thấp thoáng ngoài ngõ là em
lủi ngay xuống bếp hay chui rào tót ra ngoài đường.
Rồi cứ đứng đó khóc nghe cha mắng chửi đánh đập mạ trong
nhà. Chờ cho cha đi khuất, em mới dám chạy vô, ôm mạ
mà khóc. Có lần em tức quá hỏi mạ: "Cha đã đánh
đập mạ hoài rứa, lại bỏ mạ mà đi, răng mạ còn cứ mua
rượu, lòng heo với nước mắm ngon cho cha ăn làm chi
cho uổng?". Mạ em ôm em khóc mà nói: "Đời
mạ đắng cay cực khổ lắm con ơi...! Cha hành hạ đánh
đập mạ chừng đó chứ hơn nữa mạ cũng phải cắn răng mà
chịu. Mạ mắc ơn cha con nặng lắm con ơi...". Em
thắc mắc: "Ơn chi rứa mạ?". Nhưng mạ em chỉ
ôm chặt em hơn khóc nấc không thành tiếng, nhìn em với
cặp mắt buồn rười rượi: "Con còn nhỏ dại quá...
mạ làm răng nói cho con hiểu thấu được lòng mạ con ơi!"
Một bữa, em ra sông tắm, lúc chạy về đến đầu ngõ thì
nghe tiếng cha quát tháo trong nhà. Em liền vòng ra
lối sau chui rào, rón rén đi vô hè nhà, ghé mắt nhìn
qua lỗ phên thủng. Cha em đang ngồi trên phản, trước
mặt là cái mâm gỗ đặt một đĩa lòng heo, chén nước mắm,
chai rượu. Nhưng không thấy cha ăn uống chi hết. Cha
ngồi một chân co trên phản mắt trừng trừng ngó mạ. Mạ
ngồi xệt dưới đất, ngước lên nhìn cha. Cha dằn giọng
quát: "Không có lôi thôi, mi có đưa đây không thì
nói cho tao biết!". Em thắc mắc: "Không biết
cha đòi mạ đưa cái chi mà gắt gao rứa?" Mạ khóc
mếu máo, nói: "Tui lạy anh trăm lạy, nghìn lạy.
Anh thương lấy mạ con rui, cả đời rui chắt bóp, nhịn
đói nhịn khát, mới để dành cho con được một chút đó.
Chừ anh mà lấy đi thì cực mạ con tui quá anh ơi! Thân
tui đây, anh muốn hành hạ, đánh đập chi tuỳ ý, nhưng
xin anh đừng lấy... Tội nghiệp tui lắm anh ơi...".
Cha em hừ lên một tiếng hung tợn: "Đánh mi chỉ
thêm nhớp tay! Đánh một con đĩ thì thà đánh con chó
còn hơn!" Nghe cha nói, em suýt kêu to lên: "Ui
chao! Răng cha lại nỡ nhiếc mắng mạ cái tiếng xấu xa
đó?" Mừng chợt nhớ có một lần, cùng với tụi bạn
trong xóm, nó chạy đuổi theo một người đàn bà, quần
áo xốc xếch, mặt mũi son phấn loè loẹt. Nó cùng với
các bạn cùng hò reo, vừa ném lõi bắn, vỏ chuối vô lưng,
vô đầu tóc người đàn bà: "Con đĩ! Con đĩ!"
Có một đứa ném hòn đó trúng đầu người đàn bà, máu rịn
ra ướt đỏ cả chân tóc. Nó không biết "con đĩ"
là con chi, chỉ ham vui hùa theo tụi bạn và một số người
lớn, để hành hạ người đàn bà tội nghiệp đó. Trong trí
tưởng tượng của nó "con đĩ" là một loại người
xấu xa gớm ghiếc cũng như con chó dại, con rắn độc...
Mặt bừng bừng vui thích, nó chạy một mạch về nhà, gọi
mạ từ ngoài ngõ: "Con đĩ! Mạ ơi con đĩ". Mạ
từ trong bếp bước ra đứng chôn chân nhìn em mặt tái
xanh như tàu lá. Nó nhìn mạ, tự nhiên phát sợ, lo lắng
hỏi: "Mạ đau hay làm răng rứa mạ?" Mặt mạ
vẫn tái xanh run rẩy hỏi: "Con vừa kêu mạ cái chi
rứa con?" Nó khoe: "ngoài phố có con đĩ mạ
ạ. Rụi con chạytheo quăng vỏ chuối, cùi bắp, như mưa!
Quăng sướng tay thôi! Con quăng cho con đĩ cái cùi bắp
trúng bốp giữa lưng!" Nó tưởng mạ sẽ cười khen:
"Con của mạ quăng giỏi thiệt!" Nhưng mạ không
cười. Môi mạ tự nhiên trắng nhợt như tờ giấy. Cặp mắt
mạ nhìn nó lúc đó sao giống hệt cặp mắt con chim nhỏ
lúc người ta bóp cổ cho chết để làm thịt! Nó níu vạt
áo mạ hoảng sợ kêu: "mạ, mạ! Làm răng rứa mạ?".
Mạ đặt bàn tay lêu đầu nó, nói giọng run run: "Răng
con lại đi ném người ta làm chi con? Lần sau con không
được làm như rứa mà tội chết đó con". Nó nói: "Nhưng
là con đĩ mà mạ?" Mạ bỗng như bị kiệt sức, không
đứng vững được nữa, ngồi thụp xuống đất, kéo vào lòng.
Giọng mạ như sắp khóc "Người ta cùng đường kiệt
lối mới đến nông nỗi đó con ơi.... Phải thương xót lấy
họ... Con còn nhỏ dại quá... con đã hiểu chi việc đời".
Câu chuyện cũ hiện lên như một cái dằm lớn đâm suốt
trí nhớ nó. Nó thấy ruột đau quặn lạ kỳ, hai bàn tay
phải bíu chặt vào cái cột mái hè, mới đứng vững.
Mừng nức nở kể tiếp:
... Bên trong nhà, mặt mạ bỗng đanh lại, nhìn cha với
cặp mắt của người cùng đường. Mạ nói: "Anh có giết
tui thì giết, chứ tui không đưa cho anh mô!" Cha
em trễ môi phì một tiếng, nói: "Giết mi làm chi
cho thêm nhớp tay. Mi mà không đưa, tao ngồi đây chờ
thằng con mi về tao sẽ nói rõ ngọn ngành cho hắn biết
mi là một con đàn bà nhơ nhớp như răng. Thằng con mi
sẽ khinh mi chẳng khác chi con chó!" Như bị cha
đập một búa trúng giữa thóp, mạ kinh hoàng ngồi dật
lùi lại, kêu to:" Ui chao ôi, răng mà anh độc ác
đến nước nơ! Anh róc xương hút tuỷ cả một đời tôi chưa
đủ, mà anh lại còn nỡ lòng mô?..."
Mạ chống tay run rẩy đứng lên, vịn vịn dọc theo phên
đi vô buồng, lát sau mạ trở lại, một bàn tay nắm chặt
khư khư cái gì đó. Đi đến trước mặt cha, mạ mở xoà bàn
tay ra. Giữa lòng bàn tay mạ là đôi bông tai vàng. Đôi
bông tai mà mạ thường cất trong cái hộp diêm nhét đầy
bông gòn, thỉnh thoảng lịa lấy ra cho em coi và nói:
"Mạ cất để dành khi mô con lớn mạ cưới vợ cho con...".
Mạ em nói, mặt rúm ró. Giọng lào thào như người bị hụt
hơi: "Còn một chút đây, anh lấy luôn đi, rồi anh
đi đi, đi luôn đi cho khuất mắt tui! Xin anh đừng về
đây mà hành hạ mạ con tôi..." Như con cọp thấy
mồi, đang ngồi, cha chồm ngay dậy, chộp lấy đôi bông
tai vàng trong tay mạ đút liền vô bọc. Mạ vẫn đứng sững,
ngó trân trân lòng bàn tay trống rỗng, cặp mắt dại hẳn
đi. Bất ngờ mạ kêu to một tiếng xé ruột, rồi ngã vật
xuống đất như bị chặt lìa ngang chân. Cha em bước qua
người mạ, cắm đầu đi thẳng ra ngõ...
"Đời mô con dám khinh mạ, mạ ơi!" Mừng bỗng
nức nở tưởng như trước mắt không phải là đội trưởng
mà là mạ đang nằm vật dưới đất, đầu tóc rũ rượi. Nó
oà khóc, nước mắt chan hoà trên hai má, nhỏ liên tiếp
xuống bàn. Đội trưởng phải đứng lên, ôm chặt nó vào
lòng. Hai mắt anh cũng đỏ hoe...
-Nín đi em, nín đi... Anh không ngờ em lại khổ đến thế!
...Mạ em bị mắc bệnh hen suyễn nặng. - Mừng lau nước
mắt, kể tiếp. - Thêm vô dó cha em cứ nhè vô giữa ngực
mạ mà đá, mà đạp, nên càng ngày càng nặng hơn, hễ động
trời là cơn hen suyễn lại hành hạ mạ. Có khi hai ba
ngày liền, mạ ngồi gò lưng ôm ngực mà ho khan, khò khè
kéo suyễn, em không sức nào chịu nổi. Em thấy ngực em
cũng tức ran theo như bị ai dìm lâu xuống nước. Thương
mạ, em khóc hết nước mắt. Em rang muối, bọc vào cái
vạt áo rách, chườm ngực cho mạ. Em chườm cho đến tận
đêm khuya, hai tay mỏi rời, các nhà hàng xóm đã tắt
đền đi ngủ hết, vẫn còn chườm... Mạ em cứ giục hoài:
"Con đi ngủ đi, mạ thấy đỡ nhiều rồi!" em
vẫn không chịu đi. Đến lúc mệt quá, em gục vô lòng mạ
ngủ thiếp lúc mô không hay...
Một bữa, cụ Ba Trà già nhất xóm, mách cho em: "Thứ
lá tầm gửi đậu trên ngọn cây bút bút thật cao, chữa
bệnh hen suyễn còn hay hơn thuốc tiên. Nhưng phải hái
vào lúc nửa đêm, lúc lá đang ăn khí trời, uống sương
móc, thì mới công hiệu. Lá phơi khô, sao vàng, hạ thổ,
bỏ vô nồi đất, đổ năm chén nước trong, sắc lấy một chén.
Chỉ uống chừng năm chén là bệnh rút, chục chén là bệnh
khỏi".
Từ bữa đó, nó quyết đi tìm thứ lá thuốc tiên đó, chữa
bệnh cho mạ. Khắp cả một vùng Bao Vinh, Bãi Dâu, không
có ngọn cây bút bút nào nó chưa trèo lên tìm lá tầm
gửi. Nhưng không tìm thấy. Nó tìm lần lên các ngọn cây
bút bút ở vùng Đông Ba, Gia Hội. Tìm hết cả vùng ni
rồi mà cũng không thấy, nó qua bên tê sông Hương, tìm
từ Đập Đá, qua trường Khải Định, lên đến Ga Lớn. Rồi
vòng về Bến Ngự, lên miệt Nam Giao...
Đi tìm lá thuốc nó phải dấu mạ. Mạ mà biết, đời nào
mạ để cho đi. Mạ sợ nó trèo cao, lỡ ngã chết tan xương
mất giống. Đã biết bao nhiêu lần nó ngồi khóc một mình
dưới các gốc cây bút bút, sau khi đã trèo lên tụt xuống,
sầy hết cả da bụng...
Trước ngày Huế nổ súng chừng một tháng, tình cờ nó phát
hiện được, trên ngọn cây bút bút cao nhất trong khu
vườn đằng sau doanh trại này, có đậu một tán lá tầm
gửi rất to. Nó mừng quá. Nhưng khó cái là dạo đó ngôi
lầu doanh trại có Vệ Quốc Đoàn đóng đông lắm. Ngoài
cổng sắt lúc nào cũng có các anh cầm súng đứng gác.
Rào sắt vây xung quanh vườn tuy cao, lại có mũi nhọn
nhưng nó thừa sức trèo vào. Nó chỉ sợ các anh nghi là
Việt gian, trèo rào vô ăn cắp. Đã hàng mấy chục lần
nó đi vòng quanh hàng rào sắt ngôi lầu này, mắt hong
hóng ngó vô vườn... Các anh lính gác liền sinh nghi,
một lần nó đã bị một anh gọi lại, nghiêm mặt hỏi: "Làm
chi mà ngày mô tôi cũng bắt gặp chú loanh quanh lẩn
quẩn ở đây, hả? Tôi mà còn bắt gặp một lần nữa tôi sẽ
cho chú vô tù nghe chưa?" Sau cái lần đó, nó không
còn dám bén mảng đến gần ngôi lầu này nữa. Chỉ dám đứng
từ xa mà ngó lại.
Sau ngày Mặt trận Huế nổ súng, nó đoán chắc ngôi lầu
bỏ trống, vì bộ đội phải ra Mặt trận, ở lại đó làm chi?
Nó tìm cách lọt qua cầu Bao Vinh, chạy một mạch đến
ngôi lầu, bụng mừng khấp khởi, chuyến ni răng cũng tìm
được thuốc cho mạ. Nhưng ai ngờ bộ đội người lớn rút
đi rồi, lại có bộ đội con nít tới đóng. Nó buồn phát
khóc lên lúc đó ở nhà mạ lại đang lên cơn hen suyễn.
Nó về nằm nghĩ mãi, cuối cùng tìm ra được một mẹo: "Vọt
qua cầu Bao Vinh thật sớm, chạy theo toán bộ đội con
nít đó, rồi lừa lúc không ai để ý lén chui vào giữa
hàng mà về ngôi lầu. Khi đã vào được bên trong rồi,
nó sẽ lẻn ra vườn, trèo tót lên ngọn cây bút bút, nằm
chờ trên dó cho đến lúc nửa đêm... Chờ cho đến lúc lá
tầm gửi ăn no khí trời, uống no sương móc, như lời cụ
Ba Trà dặn. Nó sẽ hái một ôm thật to, đủ cho mạ uống
được mấy chục lần rồi trèo rào ra ngoài, trở về. Cái
mưu mẹo hay ho đó, làm cho nó thao thức hoài không ngủ
được. Nó tin chắc lần này công việc răng cũng trót lọt.
Nhưng nó còn lo bộ áo quần. Nó để ý cả đội không ai
mặc áo quần như mình. Đứa nào áo quần cũng rất oai như
bộ đội người lớn. Mặc áo quần xấu xí như nó chui vô
hàng e không khéo lộ mất... Hồi đầu năm, mạ có may cho
nó một bộ áo quần rất đẹp. Cái áo "thơ-mi"
có cổ tai chó với cái quần"soọc" vải xanh,
hai bên có hai cái túi, mỗi túi đựng được một lon đầy
bắp rang. Quần không có dải rút mà xung quanh cạp có
những cái quai để luồn nịt da. Nhưng mạ nó chưa mua
được nịt. Lấy áo quần ở thợ may về là mạ cất luôn vô
rương. Nó xin mặc mạ nói: "Cất đó khi mô đến Tết
hoặc con được vô Đội Thiếu nhi đánh trống cà rùng như
mấy đứa trên phố thì mạ lấy cho mà mặc. Chứ bây giờ
con mặc chỉ nhảy mấy bữa là rách tan thôi. Mình là con
nhà nghèo, phải ăn mặc tùng tiệm con ạ!". Nó liền
tung chăn chạy xuống bếp, nói với mạ: "Mạ ơi, sáng
mai mạ cho con mặc bộ áo quần mới mạ hí!". Nó không
dám nói lộ cho mạ biết chuyện "Ngoài phố, tụi bạn
con đứa mô cũng mặc áo quần mới cả. Mạ cũng cho con
mặc chứ cất hoài làm chi mạ?" Mạ nói: "mạ
đã nói rồi, mình là con nhà nghèo, ngày thường ăn mặc
tùng tiệm răng xong thì hôi. Bộ áo quần đẹp đó phải
để dành khi mô có lễ lạt rồi hẵng mặc." Nó nối
dỗi "Rứa thì thôi, con không mặc nữa. Mạ cứ cất
cho đến mục thì thôi!" Mạ nổi tức, quay lại phát
cho nó một cái vào mông: "Không mặc thì tao cho
đứa khác mặc! Đi lên đi ngủ". Nó leo lên giường
nằm khóc tấm tức mãi...
Sáng hôm sau, nó lọt qua cầu Bao Vinh, chạy theo Đội
lên đến cầu Đông Ba rồi chui bậy vào hàng...
Đội trưởng hỏi:
-Thế cái hôm đầu tiên nhập đội em có ra vườn trèo lên
cây bút bút hai lá tầm gửi không?
-Dạ có...
-Sao em không trèo rào trốn đi như đã định mà ở lại?
-Tại..anh với các bạn thương em quá. Với thêm anh Vịnh
nói với em: "Không chi xấu xa bằng đã vô bộ đội
lại đào ngũ". Sau đó em còn được nghe anh giảng
đánh đuổi hết tụi Tây cướp nước, giành được độc lập
rồi thì ai ai cũng được sung sướng. Những người cực
khổ như mạ em dù có mắc bệnh chi nặng mấy cũng được
Chính phủ chữa cho lành... Em muốn theo các anh đánh
Tây cho nước nhà được độc lâỵp, để sau ni lỡ mạ em có
mắc bệnh chi còn nặng hơn cả bệnh hen suyễn, cũng được
Chính phủ chữa cho lành...
Đội trưởng gật gật đầu, mỉm cười"
-Em biết lo xa như thế là rất phải. Thế bó lá tầm gửi
hái được em có còn giữ không?
-Dạ còn chớ!... Tối ni em định trốn về một lúc để mang
bó lá thuốc đó về cho mạ em. Em sợ mai lên mặt trận
lỡ bom đạn làm cháy mất thì tiếc lắm...
-Em để nó ở đâu rồi?
-Em giấu trong cái hốc dưới chân cầu thang. Em sợ anh
biết, anh la...
-Em xuống lấy lên đây cho anh coi thử. Anh cũng chưa
được biết mặt mũi thứ lá thuốc quý đó.
Nét mặt Mừng vụt tươi hẳn lên. Em ngước nhìn anh như
còn chưa thật tin. Rồi bất ngờ, em đứng lên chạy vụt
ra khỏi phòng. Mấy phút sau, em chạy voà, tay ôm một
cái gói. Em rụt rè đặt nó lên bàn cạnh đèn bão. Cái
gói khá to, bọc bằng một miếng vải bạt nhem nhuốc xé
bằng dây điện thoại. Đội trưởng mở ra, bên trong còn
hai lớp giấy báo cũ nữa. Những cành lá khô màu xám nhạt,
rất dài, được bẻ gập lại thành nhiều đoạn: thoảng bốc
lên mùi nắng và hương nông đắng của lá cây phơi khô.
-Em phơi từ bao giờ mà khô được thế này?
-Dạ, em phơi từ bữa lâu rồi... Hễ hôm mô có nắng là
em đem ra phơi, em phải trèo lên nóc nhà trải phơi trên
mái ngói.
-Trời đất! - Đội trưởng kêu lên, giọng không giấu được
sợ hãi. - Mái nhà lầu ba tầng trơn tuột, lỡ trượt chân
một cái thì còn gì là người!
-Dạ!... Phơi trên đó cao, nhiều nắng, nhiều gió, lá
mau khô... với lại em sợ phơi ở dưới các bạn không biết,
lỡ nghịch vứt đi...
-Nếu gặp phải một cây bút bút cao gấp hai gấp ba ngôi
lầu ni liệu em có dám trèo lên hái không?
-Dạ cao mấy em cũng trèo... Miễn sao cho mạ em được
lành bệnh...
Nghe giọng nói và nhìn vẻ mặt chú đội viên nhỏ của mình,
đội trưởng bỗng thấy tin một cách lạ lùng rằng, chú
ta sẽ sẵn sàng trèo tuốt lên bất kỳ một cây nào trên
trái đất để tìm thuốc cho mẹ.
Anh cẩn thận bọc bó lá tầm gửi lại như cũ, đặt vào tay
mừng và nói:
-Có dịp anh sẽ cho em về phép, mang về cho mẹ, còn bây
giờ em phải xuống đi ngủ. Đã quá nửa đêm rồi, mà sáng
mai chúng ta còn phải lên Mặt trận sớm.
Mừng đứng lên, đội mũ, đứng nghiêm chào anh rồi cùng
với Vịnh-sưa bước ra khỏi phòng.
Anh cũng đứng lên, nhìn hút theo em, tim đau nhói, thầm
nghĩ:
-Nhỏ nhoi thế kia, mà chú ta đã phải chịu đựng những
nỗi khổ nhường ấy!
***
Đang ngủ rất say, Vịnh-sưa vụt choàng tỉnh dậy. Có tiếng
khóc thổn thức ngay cạnh tai em. Nó ngồi hẳn lên. Hoá
ra Mừng khóc, vừa khóc, vừa nói mớ(nói mê, nói mơ).
Vịnh đưa tay sờ má bạn. ui chao, cả hai má nó ướt đẫm
nước mắt nóng hổi. Nước mắt chảy xuông thấm ướt cả vạt
áo trấn thủ cậu tra đang gối đầu. Vịnh phải lay gọi
một hồi lâu, Mừng mới tỉnh ngủ.
Vịnh cúi xuống thì thào hỏi:
-Mi nằm mơ chuyện chi mà khóc dữ rứa?
-Tui nắm mê được Đội trưởng cho phép về thăm mạ. - Giọng
Mừng còn ướt nước mắt. - Tui mặc bộ áo quần Vệ Quốc
Đoàn rất oai, lại còn đeo trên vao khẩu súng mới vừa
cướp được của tụi Tây. Tui vừa bước vô đến sân, mạ tui
đang ngồi nấu xáo bò dưới bépe, chỵa ra đon đả chào
mời: "Anh vô nhà xơi nước, ăn bún bò". Mạ
tui tưởng tui là anh Vệ Quốc Đoàn mô. Tui bỏ mũ ra,
ngó mạ, mà cười. Rứa là mạ tui đứng sững, ngõ tui trân
trân rời kêu oà lên: "Úi chao ôi, con ơi! Rứa chớ
mấy lâu con bỏ mạ con đi mô, làm mạ khóc hết nước mắt
nước mũi rứa con ơi là con ơi!". Rui nói: "Con
đi Vệ Quốc Đoàn đánh Tây cho nước được độc lập chớ đi
mô nữa mạ. Nước được độc lập thì sướng lắm mạ nờ. Lỡ
mạ có mắc bệnh chi nặng mấy cũng được chính phủ cho
vô nhà thương chữa cho lành hết mạ ạ. Mạ ơi, con đã
tìm được lá tầm gửi đậu trên chót ngọn cây bút bút,
chỗ Đội con ở. Thứ lá ni chwũa bệnh hen xuyễng là hay
nhất hạng mạ ạ. Hay hơn thuốc tiên! Để con vô lấy nồi
sắc ngay cho mạ uống mạ hí!". Mạ tui liền cầm bó
lá tầm gửi, chạy long tong khắp xóm, gặp ai cũng níu
lại khoe: "Thằng con tui nó chưa chết. Nó đi Vệ
Quốc Đoàn đánh Tây. Nó kiếm được lá tầm gửi hay hơn
thuốc tiên về chữa bệnh cho rui... E chỉ nay mai là
tui lành bệnh bà con ạ... Bà con mừng cho tui đi..."
Vừa lúc tui vô nhà tìm được cái nồi đất để sắc thuốc
cho mạ, thì anh gọi thức tui dậy... Tiếc quá!
---------------------------------------
*Việt gian
*Plongeon: nhảy (tiếng Pháp)
*Champion: vô địch (tiếng Pháp)
*cô-soong:con lợn (lời xỉ vả, tiếng Pháp)
hết: Phần Thứ Nhất, xem tiếp: Phần Thứ Hai
Chuyển sang dạng đả tự và hiệu đính: Mọt sách
Nguồn: VN Thư Quán - Thư viện Online
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
|