NGUYỄN DU
Cái nhìn
thời cuộc và thân phận
Thanh Tâm
Văn chương không phải là thứ để bàn luận hay tiêu khiển
vui chơi mà nó chuyển tải tâm tình, ý nguyện, tư tưởng,
thao thức và cảm nhận của người viết đối với cuộc đời,
với thời cuộc, với sự thay đổi “thương hải tang điền”
của xã hội.
Có nhiều tâm tình không thể nói ra trực tiếp bởi “trung
ngôn nghịch nhĩ”, cho nên thường gởi gắm vào trong thi
ca. Thi sĩ Tố Như cũng không ngoại lệ. Chính nhà phê
bình văn học Hoài Thanh cũng thấy điều ấy. “Văn chương
của Nguyễn Du, bằng chữ Hán cũng như chữ Nôm, không
bao giờ là thứ văn chương viết để mà chơi, có cũng được
và không cũng được. Một điều rất rõ là Nguyễn Du đã
viết dưới sự thôi thúc của những nỗi niềm không nói
ra được….”1
Không phải căn cứ vào các bài thơ chữ Hán cũng như
chữ Nôm của Nguyễn Du để lại mà phỏng đoán. Chính thi
sĩ Tố Như tự bộc lộ điều này. Trong bài My Trung Mạn
Hứng, ông viết:
“Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ
Hồng Sơn sơn hạ Quế Giang thâm”
(Ta có tâm sự không biết tỏ cùng ai!
Dưới chân núi Hồng, sông Quế sâu thẳm)
Ông Đào Duy Anh cho rằng, “lòng trung trinh là phần
chủ yếu trong tâm tính của Nguyễn Du…Cái lòng ấy đến
lúc ông chết vẫn chung chú vào nhà Lê…” và thái độ bất
đắc chí của Nguyễn Du khi làm quan triều Nguyễn là luôn
luôn mang tâm sự của kẻ bầy tôi phải thờ hai vua và
“hình như nhà thơ thấy rằng, nhà Lê mất là mất luôn
lẽ sống của mình…”2
Nhưng theo ông Trương Chính, trong phần tựa quyển Thơ
chữ Hán Nguyễn Du, nhà xuất bản Văn Học năm 1965 thì
ông không phủ nhận trung nhà Lê và chống Tây Sơn của
Nguyễn Du, nhưng khi thi sĩ ra làm quan cho Nhà Nguyễn
thì ông chỉ nhớ nhà Lê như nhớ “cái sự muôn năm cũ”
chứ không phải cô trung. Nhà thơ hiểu rằng, vận mệnh
nhà Lê đã dứt, ông buồn; và bất đắc chí là cái buồn
của một ông quan bị chèn ép.
Và theo Hoài Thanh, không những Nguyễn Du nhớ nhà Lê
mà có khi dường như nhớ tiếc cả Tây Sơn nữa:“Tây Sơn
cơ nghiệp tận tiêu vong -
Ca kỹ không lưu nhất nhơn tại”. Tâm sự của Nguyễn Du
thật rắc rối !
“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, nhìn vào thơ
của ông, chúng ta luôn luôn đón nhận ấn tượng sâu sắc
nhất là nhà thơ rất buồn. Buồn thương như tiếng đàn
réo rắc, âm hưởng não ruột vang lên trong hầu khắp các
thi phẩm của ông. Ngày Xuân đến, “chốn tha hương người
cùng năm trước từ biệt”, bất giác nhà thơ “nhìn bãi
cỏ xanh bên bến Nam mà đau lòng”3. Một đêm trời trở
lạnh, không ngủ, ông nằm nghe tiếng chày nện vải, tiếng
cóc nhái kêu quanh bếp, ông “thầm đọc bài ca hỏi trời”
nhưng “trời cao biết đâu mà hỏi”4. Đêm mùa hè, nghe
tiếng trống canh, “tiếng trống làm lạnh cả luồng gió
đêm hè”, nhà thơ lắc đầu “người đến bước đường cùng
không còn mộng đẹp.”5
Hình ảnh đầu bạc là hình ảnh tượng trưng cho người
có nhiều tâm sự, suy nghĩ. Chính thi sĩ đầu đã bạc lúc
còn trẻ:
“Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên?”
Cái hùng tâm muốn mưu đồ nghiệp chung và cái sinh kế
lo cho tấm thân mình đều mờ mịt cả; người tráng sĩ bạc
đầu vẫn buồn, ngẫng mặt lên trời! Bi hướng thiên với
cái đầu bạc của một người còn trẻ tuổi!
Đằng sau hình ảnh buồn ủ rủ ấy, có thể thấy được những
suy nghĩ của nhà thơ về con người, về xã hội; là cái
nhìn phanh phui đến đáy lòng những nhân vật lịch sử,
cũng là sự chiêm nghiệm sâu kín và đầy trắc ẩn về những
bạo động thời cuộc diễn ra trước mắt ông.
Không đơn thuần chỉ là thái độ của Nguyễn Du đối với
nhà Lê, Tây Sơn hay nhà Nguyễn mà trong cái khuynh hướng
phức tạp của tư tưởng ấy, chúng ta có thể rút ra một
thái độ nhân sinh bao hàm trong đó về những quan điểm
đạo đức, lý tưởng sống v.v. Tất cả những thứ ấy hình
thành trong nhân sinh quan của ông một ý thức thường
trực, một cảm hứng bi thiết về sự mong manh của đời
người, của số phận. Hiện diện đâu đó trong thơ ông một
tiếng nói sâu thẳm về thế giới ảo ảnh nhưng có sức cuốn
hút lạ thường. Nguyễn Du gần với Phạm Đình Hổ và Nguyễn
Ánh, khi ông khái quát vũ trụ dưới khía cạnh “bãi bể
nương dâu”. Nguyễn Du gặp Nguyễn Gia Thiều trong một
khía cạnh hết sức ảm đạm:
“Cổ kim hiền ngu nhất khâu thổ”
Một tất yếu lịch sử không thể hiện thực, xã hội Việt
Nam trì trệ và rên xiết trong gông cùm phong kiến; điều
này tạo nên một bi kịch sâu sắc bao trùm toàn bộ đời
sống xã hội. Cho nên nỗi buồn của Nguyễn Du mênh mang:
“Vô cùng kim cổ thương tâm xứ” hay “Nhất phiến hàn thanh
tống cổ kim”.
Khi ra làm quan nhà Nguyễn, tâm trạng của ông không
có gì sáng sủa:
“Chinh phu hoài vãng lộ
Dạ sắc thượng mông mông”
(Người lữ hành nghĩ về phía trước
Sắc đêm mờ mịt, bóng trăng đâu?)
Vốn là người chuộng đời sống tự do, đối với chuyện
công danh Nguyễn Du thường bày tỏ sự ghê sợ; khi vào
“bể hoạn” của nhà Nguyễn, ông chua chát nghĩ mình đã
vào tròng:
“Thử thân dĩ tác phàn lung vật
Hà xứ trùng tầm hãn mạn du”6
(Thân này đã là vật trong cũi
Còn đâu tung cánh vượt trời cao?)
Trên đường đi sứ qua trấn Nam Quan, ông than: “xuân
vũ như cao cốt tự hàn”. Trong bài Xuân Tiêu Lữ Thứ,
ông nói rõ danh lợi làm mình không còn đến cả cái tự
do được cười được khóc cho hồn nhiên (Danh lợi doanh
trường luỵ tiếu tần); ngẫu nhiên, câu thơ này giống
tâm sự của Cao Bá Quát, mấy chục năm về sau: “Duyệt
thế phương tri kiệm tiếu tần.”7
Tuy nhiên, Nguyễn Du không có khí phách “quyết xoay
bạch ốc lại lâu đài” như Cao Bá Quát. Con người ấy chỉ
biết nâng khổ đau thành triết lý, rồi lẫn quẩn trong
triết lý đó đến nỗi không nhìn thấy nguyên nhân mọi
khổ đau hiện thực của mình. Trọn đời nhà thơ vẫn nhẫn
nhục đóng vai “hàng thần lơ láo” dưới trướng Gia Long.
Lúc chưa làm quan, sự ngột ngạt tâm hồn khiến ông phải
kêu gọi ánh sáng:
“An đắc huyền quang minh nguyệt hiện
Dương quang hạ chiếu phá quần âm”8
(Ước gì vầng trăng ngay trước cửa
Ánh sáng rọi xuống bóng tối tan)
Nhưng làm quan rồi, ông thấy cũng vậy:
“Cưỡng khởi thôi song vọng minh nguyệt
Lục âm trùng điệp bất di quang”9
(Gắng dậy mở cửa xem trăng sáng
Bóng râm lớp lớp, giọt nào rơi?)
Rõ ràng, con người Nguyễn Du khao khát chân lý, biết
“tỉnh táo để nhìn đời”, nên có thể tránh được những
lầm lạc trong mọi hoàn cảnh tối tăm. Nhưng càng nhìn
đời, càng thấy xung quanh có nhiều thống khổ, bế tắc;
càng đưa suy nghĩ lên mức khái quát thì chìm sâu vào
nỗi đau “vô hình”. Suốt cả cuộc đời mối u sầu đó chưa
hề gở ra, ông vẫy vùng trong mớ bòng bong này, “Nhất
sinh u tứ vị tằng khai”.
Hình ảnh con người đi trong đêm tối dày đặc hãi hùng,
bị gió lạnh dồn vào, cứ mong chóng sáng mà không thấy
sáng:
“Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân
Hắc dạ hà kỳ mê thất hiểu”
“Thật là phản ảnh đúng tuyệt vọng của con người mất
phương hướng”10. Đây là hình ảnh có ý nghĩa rộng lớn,
tấn bi kịch của chế độ phong kiến vào giai đoạn tàn
rữa. Mọi biến cố đầy kịch tính của lịch sử Việt Nam
cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX đã ập vào Nguyễn
Du một cách dồn dập, “làm cho ông như sống trong một
tình trạng choáng váng về tư tưởng và không phải dễ
dàng tìm ngay được một lẽ sống, một chỗ đứng nào vững
vàng ổn định”11. Nên khi đi sứ, vượt qua một khúc sông
hiểm trở, ông cảm thấy khái niệm trung nghĩa không còn
đủ sức để tin tưởng và nương tựa: “Trung tín đáo đầu
vô túc thị”.
Nói tóm lại, tầng lớp Nho sĩ, lợi khí của chính quyền
phong kiến tập trung, hết sức hoang mang và bất lực
trước xu thế tan rã của xã hội phong kiến. Lý tưởng
của nó sụp đổ, con đường đi luẩn quẩn, bế tắt. Nguyễn
Du cũng bị lôi cuốn vào con đường của tầng lớp mình.
Cho nên mâu thuẫn vốn có trong tầng lớp ấy; đó là mâu
thuẫn giữa nhiệm vụ lịch sử của các nho sĩ với nhiệm
vụ bảo vệ chính quyền phong kiến và cái tan rã của xã
hội. Và riêng Nguyễn Du, ông lại “đem cái bịnh của thời
đại làm cái bịnh của chính mình; mâu thuẫn xã hội trong
thời đại mình không giải quyết được, không biết cách
thế nào để giải quyết, tích lại một nỗi u uất trong
tâm hồn riêng”12, cho nên thi sĩ Tố Như cũng như nàng
Kiều trong cái lầu Ngưng Bích :
“Mặc người mưa Sở mây Tần
Những mình nào biết có xuân là gì!”
Cái đau đớn cho thi sĩ là căm tức xã hội phong kiến
mà không đánh đổ được nó, Nguyễn Du hầu như tự đánh
mất bản thân bằng một lời nói tuyệt diệu: “Khuất Nguyên
ơi, Khuất Nguyên! Người chớ nghe lời mời của Tống Ngọc
mà về đây. Đi luôn, đi mãi đi…!”
Chúng ta hãy xem, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng phê phán hiện
thực phong kiến nhưng lập trường gần với Lê Thánh Tông
và Hội Tao Đàn. Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn đứng trên lập
trường đạo đức phong kiến để phê phán những sự tiêu
cực, làm sai lạc đạo đức, nhưng vẫn mơ ước một xã hội
phong kiến lý tưởng nên ông không bế tắc. Ông cũng đi
ở ẩn, bất hợp tác với xã hội nhưng ông thong dong, thảnh
thơi:
“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, Đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, Hạ tắm ao”13
Nhưng trái lại, thi sĩ Tố Như hoàn toàn bế tắc. Do
hạn chế lịch sử, nhà thơ phê phán bản chất đạo đức phong
kiến, nhưng căn bản của lập trường phê phán không phải
lập trường đạo đức phong kiến mà là lập trường nhân
sinh. Mặc dù nhiều lần không ý thức, thông qua khuynh
hướng khách quan của tác phẩm, ông cũng nói đến những
vấn đề thuộc về bản chất đạo đức phong kiến, nói rộng
ra là sự áp bức bóc lột nhân cách con người.
Luẩn quẩn mãi trong sự bế tắt, thi sĩ Tố Như mong thoát
ra bằng cách đi ở ẩn, vui thú với thiên nhiên. Theo
quan điểm Nho giáo, cái mẫu mực thuộc về quá khứ, và
cái trong sạch chủ yếu ở trong thiên nhiên. Các nhà
nho quan niệm, với xuất xử của Nho giáo, gặp thời thịnh
ra phò vua giúp nước, gặp thời loạn về ẩn lấy thiên
nhiên di dưỡng tính tình. Họ tìm thấy “trong thiên nhiên
những phẩm chất đạo đức cao quý của con người theo quan
niệm Nho giáo như : Cây tùng là hình ảnh người đại trượng
phu; cây trúc là hình ảnh người sĩ quân tử; hoa cúc,
hoa mai là biểu hiện sự trong trắng…”14. Cho nên thi
sĩ Tố Như tìm vào thiên nhiên ở ẩn là vậy.
Đôi khi, ông muốn vứt bỏ hết để tìm vào Đạo Phật, Đạo
Lão, tìm vào hành lạc, thậm chí “gọt tóc” mà trốn vào
rừng. Ông mơ ước “ngọa thính tùng phong hưởng bán vân”
hay “sài môn trú tĩnh sơn vân bế”. Nhưng đó chỉ là ước
mơ, là mơ mộng. Có khi, ông tự biện bạch:
“Tri giao mạc quái sầu đa mộng
Thiên hạ hà nhân bất mộng trung?”
(Bạn thân, chớ trách ta sầu mộng
Thiên hạ, ai người chẳng mộng đây?)
Ông muốn chìm vào trong mộng để quên cuộc đời đắng
cay, nhưng nào có được. “Mộng trung ngộ mộng trùng mê
mộng – Thân ngoại phi thân khước thị thân”. Nên những
bước chân của ông dẫu đi vào những nơi xa vắng ấy vẫn
mang nặng sự không thoải mái. Ở ẩn ông vẫn thấy buồn,
vì với đời lòng không thôi vương vấn:
“Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm?
Tiểu song khai xứ liễu âm âm”15
(Đêm tối, thấy đâu cảnh Xuân tươi ?
Mở nhẹ cửa xem bóng liễu rơi)
Chúng ta thấy, cái buồn không phải nằm bên ngoài, ngoại
cảnh chỉ là phương tiện để nỗi buồn ấy biểu lộ. Nỗi
buồn ấy tồn tại trong tâm thức; nên khi Nguyễn Du trốn
vào rừng thì chính ông cũng mang nỗi buồn ấy theo trong
lòng. “Vậy nên những chốn thong dong – Ở không yên ổn
ngồi không vững vàng”.
Ông cũng nói đến hành lạc, nhưng không giống Nguyễn
Công Trứ. Ban đầu Nguyễn Công Trứ rất hăng hái, muốn
phò vua giúp nước, đem tài năng của mình ra mà phụng
sự nên ông luôn đề cao vai trò kẻ sĩ. Và dù chưa gặp
được thời, kẻ sĩ cũng góp tay vào xây dựng xã hội: “Xe
bồ luân dù chưa gặp Thang Văn”, “Phù thế giáo một vài
câu thanh nghị”…
Nhưng khi bế tắc, không làm được gì với chí nguyện
của mình, ông ta đâm vào hành lạc, vui trong niềm vui
xác thịt; ông than thở:
“Chen chúc lợi danh đà chán ngắt,
Cúc tùng phong nguyệt mới vui sao!”
Nên cuối cùng, cảm thấy mình sống cô độc giữa xã hội,
ông ta không muốn làm người nữa mà chỉ muốn:
“Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.”
Rồi, Nguyễn Gia Thiều đi tìm giải pháp và nguyên nhân
cho cuộc đời. Bởi vì ông thấy khắp cỏ cây đất nước,
cái gì cũng ảm đạm, tang thương. “Ai bày trò bãi bể
nương dâu”. Cây đá ố vàng, chim chóc ủ dột:
“Phong trần đến cả sơn khê
Tang thương đến cả hoa kia cỏ này”
Ông ta cho rằng, “Phật giáo hay Đạo giáo, chỉ là liều
thuốc an thần trong chốc lát cho một con người đã dằn
vặt quá nhiều về ý nghĩa cuộc đời, chứ không phải là
liều thuốc hồi sinh cho cuộc đời”16. Vì vậy ông Lê Trí
Viễn nhận xét:” Thơ của ông chưa bao giờ có cái thanh
thản của Nguyễn Bỉnh Khiêm, trái lại còn tràn trề dục
vọng, còn sôi nỗi oán hờn…”.
Và cũng có nhiều thi nhân khác trong giai đoạn này,
thể hiện sự bất lực, u uất của mình với thời cuộc chẳng
hạn: thực hiện tinh thần bất hợp tác như Nguyễn Hành…;
bên cạnh các nhà thơ bất mãn hiện tại thì có những nhà
thơ hoài cổ như Bà Huyện Thanh Quan…17
Tuy nói vậy, nhưng không phải chỉ thi sĩ Tố Như hay
các văn nhân trong giai đoạn này mà luôn cả chúng ta;
dù Nho sĩ, Tăng sĩ hay là người mang trong mình một
tư tưởng, một học thuyết nào đi nữa và sống ở thời đại
nào chăng nữa, mà không có bản lĩnh của bậc trượng phu,
không có nội công hay hạo khí cao thượng, siêu việt
thì rất khó đứng vững trước những chuyển biến, xung
đột của cuộc đời. Người lữ khách đi ngang dòng lịch
sử. Gảy cung đàn xua bóng tối nhân sinh. Thắp mặt nhật
xoa dịu mấy ân tình. Cho nhân thế soi mình gương mộng
ảo…Trái lại, còn bị nó xoay vần, quay tít trong quỹ
đạo bế tắc, không bao giờ thấy được ánh sáng mặt trời.
Mặc dù, chân lý hay ánh sáng mặt trời mãi mãi tồn tại
và toả chiếu xung quanh chúng ta.
Do đó, vấn đề quan trọng là có khả năng, có chí khí
siêu tuyệt hay không. Nếu không có các chất liệu ấy
thì dù có hét to, than vãn nhiều cũng chẳng ích lợi
gì. Sự bế tắc hay sự hanh thông chỉ cách nhau trong
gang tấc; xoay qua là bế tắc, xoay về là thông lộ. Khi
vừa vượt qua ngưỡng cửa của sự bế tắc thì ánh sáng chân
lý có mặt ngay, chứ không phải tìm kiếm ở một thời gian
nào hay một phương sở nào khác. Chúng ta hãy lên đường.
“Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn. Tào khê nước chảy vẫn còn
trơ trơ”…
T.T
--------------------------------------------------------------------------------
1 Hoài Thanh, Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ
chữ Hán, Tạp chí Văn nghệ, tháng 3, 1960.
2 Đào Duy Anh, Khảo luận về Kim Vân Kiều, Quan Hải
tùng thư, Huế, 1943.
3 Nguyễn Du, bài Xuân Nhật Ngẫu Hứng
4 Nguyễn Du, bài Bất Mỵ
5 Nguyễn Du, bài Trệ Khách.
6 Nguyễn Du, bài Tân Thu Ngẫu Hứng.
7 Cao Bá Quát,bài Tặng Di Xuân, trong Cao Chu Thần
thi tập.
8 Nguyễn Du, bài Ngọa Bệnh
9 Nguyễn Du, bài Ngẫu Hứng.
10 Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Du và Thế giơí nhân vật của
ông trong thơ chữ Hán, Tạp chí Văn học, tháng 11, 1966.
11 Nguyễn Huệ Chi, sđd
12 Xuân Diệu, Con người Nguyễn Du trong văn thơ chữ
Hán, Theo Thi Hào Dân Tộc Nguyễn Du, Nxb. Văn Học, H.,
1966.
13 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thơ Nôm bài 79.
14 Nguyễn Lộc, Văn Học Việt Nam – nửa cuỗi thế kỷ XVIII
– hết thế kỷ XIX, Nxb. Giáo Dục, 1999, Tr. 39.
15 Nguyễn Du, bài Thu Dạ.
16 Nhóm Lê Quý Đôn, Lược khảo lịch sử Văn Học Việt
Nam, Nxb. Xây dựng, HN., 1957, tập 2, Tr. 185.
17 Xin tham khảo thêm Nguyễn Lộc – Sách đã dẫn, Tr.
130 đến 140.
|