Nhân
sinh nhật của Đại văn hào Nguyễn Du ( 3-1-1766)
Nguyễn
Du Có Thực sự Hoài Lê?
Nhà
lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du
Thơ Chữ
Hán Nguyễn Du Bắc Hành Tạp Lục
Cái
nhìn thời cuộc và thân phận
Mộng
Đắc Thái Liên - Nguyễn Du
VĂN TẾ
THẬP LOẠI CHÚNG SINH ( NGUYỄN DU)
Toàn
bộ Truyện Kiều
Nguyễn Du tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt
hiệu là Hồng Sơn lạp hộ, sinh năm Ất Dậu dưới triều
Lê Cảnh Hưng (1765); người xã Tiên Điền, huyện Nghi
Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh.
Là dòng dõi trâm anh thế phiệt: cha là Xuân Quận
Công Nguyễn Nghiễm, từng làm tới Tể Tướng triều Lê mạt;
mẹ là người vợ thứ ba, nhũ danh Trần Thị Tần người Kinh
Bắc; anh là Toản Quận Công Nguyễn Khản cũng làm tới
Tham Tụng, Thái Bảo trong triềụ
Sinh ra trong một gia Đình quan lại, có truyền
thống văn học, năng khiếu thơ văn của Nguyễn Du sớm
có Điều kiện nảy nở và phát triển. Từ nhỏ ông Đã nổi
tiếng thông minh dĩnh ngộ. Năm 1783, Nguyễn Du thi hương
Đậu Tam Trường. Vì lẽ gì không rõ, ông không tiếp tục
thi lên nữạ
Năm 1789, Nguyễn Huệ kéo binh ra Bắc, Đại thắng
quân Thanh. Nguyễn Du, vì tư tưởng trung quân phong
kiến, không chịu ra làm quan cho nhà Tây Sơn.
Năm 1802, Nguyễn Ánh lật Đổ Tây Sơn Nguyễn Quang
Toản, vời Nguyễn Du ra làm quan; ông từ mãi mà không
Được nên miễn cưỡng tuân mệnh. Năm 1805, ông Được thăng
Đông Các Điện học sĩ, tước Du Đức Hầụ Năm 1813, thăng
Cần Chánh Điện học sĩ, Được cử làm Chánh Sứ Đi Trung
Quốc. Sau khi về nước, năm 1815, ông Được thăng Lễ Bộ
Hữu Tham Trị
Đường công danh của Nguyễn Du với nhà Nguyễn chẳng
có mấy trở ngạị Ông thăng chức nhanh và giữ chức trọng,
song chẳng mấy khi vui, thường u uất bất Đắc chí. Theo
Đại Nam Liệt Truyện: ``Nguyễn Du là người ngạo nghễ,
tự phụ, song bề ngoài tỏ vẻ giữ gìn, cung kính, mỗi
lần vào chầu vua thì ra dáng sợ sệt như không biết nói
năng gì...''
Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, cử ông Đi sứ lần
nữa, nhưng lần này chưa kịp Đi thì ông Đột ngột qua
Đờị
Đại Nam Liệt Truyện viết: ``Đến khi ốm nặng, ông
không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ
thưa Đã lạnh cả rồị Ông nói "Được" rồi mất;
không trối lại Điều gì.''
Tác phẩm tiêu biểu: ngoài Truyện Kiều nổi tiếng
ra, Nguyễn Du còn Để lại Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh,
Văn Tế Sống Hai Cô Gái Trường Lưu, Thác Lời Trai Phường
Nón bằng chữ Nôm, và ba tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên
Thi Tập, Nam Trung Tạp Ngâm, và Bắc Hành Tạp Lục.
Nguyễn Du
Nguyễn Du (13-1-1766 - 16-9-1820),
tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê gốc làng Tiên Điền,
huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh và trải qua
thời niên thiếu ở Thăng Long. Cha là Nguyễn Nghiễm đã
làm tới chức tể tướng triều Lê. Mẹ là bà Trần Thị Tần,
vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, người xứ Kinh Bắc (Nguyễn
Nghiễm có tám vợ, hai mươi mốt người con). Mười tuổi,
Nguyễn Du mồ côi cha, mười ba tuổi mồ côi mẹ. Vì thế
tiếng là con quan đại thần nhưng ngay từ thời thơ ấu
Nguyễn Du đã phải sống vất vả thiếu thốn. Truyện Kiều
và Văn chiêu hồn, hai kiệt tác chữ Nôm của Nguyễn Du,
rộng xin được giới thiệu riêng vào dịp khác. Tập sách
này chỉ chọn lựa một số bài thơ chữ Hán tiêu biểu của
ông.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du cho thấy phần sâu kín trong tâm
trạng ông. Nó như một thứ nhật ký, giãi bày mọi nỗi
niềm, mọi ý nghĩ trong cảnh sống thường nhật của chính
ông. Cả ba cuốn Thanh Hiên thi tập (viết trong khoảng
1785-1802, khi Nguyễn Du lánh ẩn ở quê vợ, Thái Bình,
rồi trở về Hồng Lĩnh và ra lại Bắc Hà làm quan triều
Gia Long) Nam trung tạp ngâm (1805 - 1812, khi Nguyễn
Du làm quan ở Huế rồi cai bạ Quảng Bình) và Bắc hành
tạp lục (1813-1814, thơ viết trên đường đi sứ Trung
Hoa) đều có một giọng u trầm thấm thía, đầy cảm xúc
nội tâm. Thơ chữ Hán Nguyễn Du như một tiếng thở dài
luận bàn nhân tâm thế sự và xót thương thân phận. Một
hình ảnh trở đi trở lại là mái tóc bạc, Nguyễn Du có
mái tóc bạc sớm, mái tóc như biểu tượng của lo nghĩ,
của những nghiền ngẫm buồn thương và bế tắc Tráng sỹ
bạch đầu bi hướng thiên/ Hùng tâm sinh kế lưỡng mang
nhiên, Tráng sỹ ngẩng mái đầu tóc bạc, bi thương than
với trời xanh: chí lớn một đời và miếng ăn hàng ngày
cả hai đều mờ mịt. Với một tài năng, lại từng là con
quan tể tướng, lời than ấy thật xót xa. Tây Sơn ra Bắc
1786, Nguyễn Du ôm mối ngu trung với nhà Lê, không cộng
tác, tìm đường lánh ẩn chịu sống nghèo khổ. Những thiếu
thốn vật chất đôi lúc lộ ra trong thơ: Quê nhà đại hạn,
mười đứa con sắc mặt xanh như rau (thập khẩu hài nhi
thái sắc đồng). Hoặc: Trong bếp suốt ngày không có khói
lửa. Trước đèn phải mượn chén rượu cho gương mặt được
hồng hào. Do vậy, ông thấy Nhất sinh từ phú như vô ích/
Mãn giá cầm thư đồ tự ngu. Một đời chữ nghĩa thành vô
ích. Sách đàn đầy giá chỉ làm ta ngu dốt. Lời nhận xét
thật chua chát, bế tắc. Mái tóc bạc như một chứng tích
tiều tụy cho cái nghịch lý ấy: Phơ phơ tóc bạc sống
gửi ở nhà người, rồi: Già đến, tóc bạc đáng thương cho
ngươi. Nói là già đến, nhưng lúc viết Thanh Hiên thi
tập Nguyễn Du chỉ ở tuổi 20 đến 37. Trù trướng lưu quang
thôi bạch phát. Ngậm ngùi vì ngày tháng giục tóc bạc.
Mái tóc bạc thành bạn tri âm cho Nguyễn Du than thở:
Tóc sương là bạn đi cùng. Mái tóc bạc bay trước gió
thu. Mái tóc bạc nhuốm bụi hồng là chân dung tâm hồn
của Nguyễn Du. Cả đời chưa thấy lúc nào ông đắc ý. Một
sự chọn hướng trái chiều với bước đi của lịch sử làm
Nguyễn Du ngùi ngẫm giằng xé cả một đời, ngay cả thời
gian ra làm quan với Gia Long: Ơn vua chưa trả đỉnh
đinh, Mưa xuân nhuần thấm nhưng mình lạnh xương. Tạ
ơn mưa móc của vua nhưng lại thấy buốt lạnh trong xương
cốt. Nỗi niềm ấy chúng ta hiểu cho Nguyễn Du. Nguyễn
Du ôm một nỗi niềm éo le. Giáo lý Khổng Mạnh dạy: tôi
trung không thờ hai vua. Nhưng với Nguyễn Du, vua phải
thờ thì hèn kém, thậm chí rước voi về giày mồ (Lê Chiêu
Thống), còn vua phải chống thì lại anh hùng, bảo vệ
độc lập dân tộc (Quang Trung). Đau đớn, bế tắc của Nguyễn
Du là ở đấy. Biết mà không vượt qua được, ông mong được
hậu thế cảm thông: Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên
hạ hà nhân khốc Tố Như. Ba trăm năm nữa nào biết được
thiên hạ ai người khóc Tố Như. Tương truyền: "Khi
ốm nặng, ông không uống thuốc, bảo người nhà sờ tay
chân. Họ nói: đã lạnh rồi. Ông bảo: Được! Rồi mất. Không
trối lại một lời." Có một nỗi niềm đến phút cuối
Nguyễn Du vẫn phải nén lại và mang đi. Buồn thương,
cô đơn đã thành thuộc tính của đời ông như màu xanh
là thuộc tính của cỏ Nhân tự bi thê, thảo tự thanh (Người
tự buồn thương, cỏ tự xanh).
Hiện thực cuộc sống bi thương trong xã hội phong kiến
cả ở nước ta lẫn ở Trung Hoa thuở ấy, từ cảnh ngộ dâu
bể của cô Cầm đánh đàn ở Thăng Long đến nỗi cơ cực của
ông già hát rong ở đất Thái Bình (Trung Quốc) đã cho
Nguyễn Du thấy thân phận bèo bọt và những bất công mà
kiếp người phải chịu. Từ chính cảnh ngộ của mình ông
thông cảm sâu sắc, tạo nên tình cảm thấm thía cho những
bài thơ thương đời. Thương đời và thương mình đều da
diết như nhau. Nguyễn Du hay nói tới thân phận tha hương,
lưu lạc. Nỗi nhớ quê nhà luôn luôn bàng bạc trong các
bài thơ. Ông thấy tài năng văn chương như con chim phượng
nhốt trong lồng nát và công danh thì cùng đường như
con rắn đã chui trong hang (Bình sinh văn thái tàn lung
phượng/ Phù thế công danh tẩu hác xà). Ông viết bài
thơ chống lại bài Chiêu hồn Khuất Nguyên của Tống Ngọc,
ông xui Khuất Nguyên đừng về vì thành quách vẫn còn
nguyên mà người đã đổi khác, bụi bặm cuồn cuộn làm nhơ
nhớp cả quần áo. Ông khái quát: Đời bây giờ người người
đều đều là Thượng Quan (Thượng Quan là kẻ gièm pha làm
hại Khuất Nguyên) và mặt đất thì chỗ nào cũng là sông
Mịch La (con sông Khuất Nguyên trẫm mình). Ở các bài
vịnh nhân vật và luận về các sự kiện lịch sử Trung Hoa
trong Bắc hành tạp lục, Nguyễn Du đã xuất phát từ quyền
sống, quyền được hưởng hạnh phúc của con người để cân
đo lại trọng lượng các vĩ nhân và các chiến công ầm
ỹ một thời.
Đọc thơ chữ Hán Nguyễn Du chúng ta hiểu cội nguồn chủ
nghĩa nhân đạo của ông thể hiện trong Truyện Kiều và
những ký thác đời ông vào hình tượng Kiều, nhân vật
sắc tài mà bạc mệnh.
Hà Nội 16-10-2000
VŨ QUẦN PHƯƠNG
|