

Con
đường của nhà thơ
Năm 1941, khi ấy Nguyễn Bính 23 tuổi, Nguyễn viết
bài thơ Oan nghiệt. Bài thơ nôm na, không phải câu
nào cũng hay cả:
Hôm
nay bắt được thư Hà Nội
Cho biết tin Dung đã đẻ rồi
Dung là tên nhân vật trong bài thơ, theo nghề ca
xướng (kỹ nữ). Đứa con gái lớn lên, theo nghề mẹ,
một bữa kia bỗng gặp bố vốn là thi sĩ ở chốn lầu
xanh:
Chàng
chàng thiếp thiếp vui bằng được
Bố bố con con chẳng nhận ra
Bài thơ hay, tê tái bởi chuyện loạn luân oan nghiệt
tình cờ (môtíp Ơđíp). Đoạn cuối bài thơ có câu:
Nhất
kiêng đừng lấy chồng thi sĩ
Tôi tiếc Nguyễn Bính giải thích lý do đừng lấy chồng
thi sĩ tầm thường. Có thể trong thâm tâm, Nguyễn
cay cú nghề thơ, coi nhà thơ chẳng ra gì. Đa số
nhà thơ chẳng ra gì, điều ấy thực, bởi một phần
do lối nói quá lên và đặc tính xảo ngôn (nghệ thuật
tu từ) của thể loại. Thiên tư mơ mộng ở nhà thơ
và lối thể hiện uốn éo (hoạn quan hoặc pê-đê) những
thiên tư ấy đã chứa ẩn suy đồi. Một số (rất ít)
thoát khỏi sự tầm thường phải là người có thiên
nhãn. Song, những nhà thơ như thế thì người bình
thường không ai chịu nổi: cách luyện công của họ
na ná như trò làm loạn. A.Rimbô (là một người như
thế) nói: Thi sĩ làm cho mình thành người có thiên
nhãn bằng sự gây rối loạn lâu dài, rộng khắp và
có suy tính tất cả các giác quan. Tất cả các nền
chuyên chính quân chủ, chuyên chính cộng hòa, chuyên
chính dân chủ khi nghe A.Rimbô nói vậy đều cau mặt
xiết tay lại: họ không cần đến thứ công dân như
thế.
Ta nên lưu ý đến câu suy tính tất cả giác quan mà
A.Rimbô nhấn mạnh. Điều ấy là gì nếu không phải
là ý thức kiểm soát chặt chẽ mọi nhận thức? Vậy,
sự gây rối loạn ở nhà thơ khác hẳn sự gây rối loạn
phàm phu tục tử. Dù cho A.Rimbô có thời đi buôn
vũ khí nhưng ông chưa bao giờ là người chủ trương
bạo động xã hội. Các nhà thơ nếu có bắn thì bắn
chỉ thiên: đó cũng là một lầm lỗi nữa ở trong thiên
tư của họ tinh thần cải lương (hóa giải) với địch!
Tôi rất khó chịu với những câu thơ đầu môi chót
lưỡi về lòng nhân từ bản năng, tính thiện bản năng
hoặc là trò ngâm ngợi thứ lòng tốt nhỏ kiểu từ thiện
xã hội. Tác giả của nó mới chỉ la liếm ở vành ngoài
của tính thiện. ở vành ngoài của tính thiện bao
giờ cũng nhơ bẩn: nó là máu me, là những cuống nhau
sót lại của bà mẹ ác. Chỉ có đối mặt thẳng thắn,
lý giải nó bằng triết học, nhà thơ mới tìm ra được
một giải pháp tương đương, có tính chất toàn bộ
nhằm chống chọi và giữ được thế cân bằng với cái
ác trong bản chất sự sống. Thực ra thiện ác cũng
chỉ là nhất nguyên thể (Bởi chưng hay ghét cũng
là hay thương). Vậy thì nhà thơ phải đứng cao hơn
điều mình viết. Y bắt buộc phải thấm nhuần ý tưởng
siêu thiện ác nếu như y muốn trở thành một người
đáng kể.
Phải thừa nhận rằng hầu như tất cả những ai làm
công việc sáng tạo (viết văn, làm toán, xây dựng,
làm chính trị
) đều chịu ơn thơ. Thơ giữ vai trò
người mẹ lẩm cẩm, người mẹ lẫn lộn cho công việc
sáng tạo. Nhưng nước mắt chảy xuôi khi thành đạt,
những kẻ thành danh đều ngượng nghịu khi phải thú
nhận rằng mình có lúc để cho tình cảm chi phối mà
ngâm ngợi...
- Thế còn các nhà thơ chuyên nghiệp?
Tôi rất ngạc nhiên bởi danh hiệu nhà thơ chuyên
nghiệp! Làm gì có thứ đó! Ta chỉ có các viên công
chức, các bác thợ, các ông kễnh, bà kễnh
Có ai
làm thơ mà sống được và có ai chỉ sống để làm thơ?
Thơ vô vọng đến nỗi kẻ nào dính vào nó, có ý định
đi hết đường với nó nghĩa là bất hạnh, là hiểm họa,
quá lên nữa sẽ là sung sướng trong tan nát. Dấu
hiệu của nghệ thuật thơ ở đỉnh cao (thậm chí có
thể của tất cả các loại hình nghệ thuật) là làm
cho kẻ sáng tạo ra nó sung sướng trong tan nát.
Có một viên thanh tra cảnh sát nói về nghề nghiệp
của mình:
- Muốn tôn trọng nó, đến một lúc nào đó phải biết
rút lui khỏi nó.
Câu nói trên rất hợp với việc bình luận nghệ thuật
nói chung. Có điều, đối với nhà thơ, việc rút lui
ở đây nghĩa là buộc anh ta tiến tới triết học con
đường đau khổ để tránh hổ thẹn. ở nhà thơ - nhà
triết học dứt khoát phải biết gạt các cảm xúc sang
bên để nghiền ngẫm về bản chất. Bản chất ở đây nghĩa
là bản chất con người chứ không phải là bản chất
đồ vật hoặc cảnh trí thiên nhiên. Thái độ của Spinoza
với các hành vi của con người là thái độ duy nhất
đúng mà ta học tập: Tôi đã cố gắng một cách thận
trọng để không chế giễu hay thương hại hoặc ghê
tởm những hành vi của con người, mà chỉ để thấu
hiểu chúng. Hỡi ơi, thấu hiểu nghĩa là đau đớn tột
cùng, nghĩa là gánh chịu nỗi đau của Chúa đóng đanh
câu rút.
Khi ai đó nói thơ là kinh nghiệm thì đây chắc chắn
phải là kinh nghiệm tâm linh chứ không có kinh nghiệm
gì khác. Kinh nghiệm tâm linh tột cùng nằm ở nơi
kết thúc các sự kiện, nằm ở sự chết của sự kiện.
Con người xông pha trong cuộc đời (đuổi theo danh
vọng, tình ái, tiền bạc, thậm chí danh dự(!), làm
cách mạng gia đình(!) với ý niệm cho rằng ta có
thể tìm được hạnh phúc ở ngoại giới (!) (thực sự
là một ý định kiếm chác phàm phu), lúc nào cũng
nghĩ rằng mình gần đạt được điều mình mong muốn.
Họ chỉ dừng chân khi nào họ bị cuộc đời hắt hủi,
chơi cho một búa. Những cú pan ấy, những nhát búa
triết học ấy có ít chất thơ nhưng làm tăng nhanh
số người điềm đạm. ở một xã hội điềm đạm dễ chịu
hơn nhiều so với một xã hội cuồng nhiệt hăng say
Đây không phải nhận xét cá nhân mà là bài học về
lịch sử văn minh nhân loại.
Tôi nghĩ thơ là kết quả của trạng thái sáng tạo
trong đó Sự Thật biểu hiện. Quan niệm ấy na ná như
một quan niệm tôn giáo nhưng thật ra không thể hiểu
khác được. Quan niệm ấy về khía cạnh nào đó sẽ dị
ứng với yêu cầu xã hội hóa. Muốn gì thì gì, thực
tại thế giới bên ngoài vẫn tồn tại vô cùng tàn nhẫn
giữa thiện một bên và ác một bên, hư và thực, tử
tế và đểu cáng, địch và ta
Nhà thơ đứng ở ranh
giới giữa hai làn đạn để làm một việc là biểu hiện
sự Thật mà thôi.
Đừng lấy chồng thi sĩ. Lời khuyên ấy của Nguyễn
Bính là một lời khuyên chân thành xuất phát từ nhu
cầu an toàn của một nếp sống nhỏ. Nhưng đấy chỉ
là lời khuyên cho người tình của nhà thơ. Thế còn
nhà thơ? Anh cũng phải lựa chọn hoặc là bậc thánh
nhân hoặc là tên đê tiện. Cần lưu ý là bọn đê tiện
cũng có thơ và thơ của chúng còn nhiều là khác.
Tôi không dám khẳng định rằng một dân tộc đi đâu
cũng thấy tiếng thơ véo von là một dân tộc suy đồi
nhưng bất hạnh là chắc chắn.
Cần phải tiến tới triết học. Đấy là đích đi đến
của nhà thơ. Nhưng muốn tiến tới triết học, nhà
thơ bắt buộc phải vượt qua nhịp cầu tâm lý học.
Nhà thơ - nhà tâm lý không thiếu việc làm: anh ta
liên tục quan sát, liên tục nhận xét và liên tục
tìm cách cải thiện các mối quan hệ để thể nghiệm
những nhận xét ấy.
Nhà tâm lý theo Nitsơ - phải quay mặt đi đừng nhìn
mình để nhìn thấy tất cả. Và đây, một điển hình
cho một bài tập tâm lý mà tôi thấy không chê trách
được: Giữa đám quần thoa Chân lý! ồ! Chị không biết
chân lý là gì rồi! Nó chẳng phải là một toan tính
xâm phạm pudeurs (tiết hạnh) của chúng ta sao? (Nitsơ
- Làm thế nào triết lý với cây búa).
Vậy nhà tâm lý học có chối từ thơ hay không? Đối
với các vĩ nhân tỉnh lẻ thì chịu, câu hỏi này không
sao trả lời được. Nhưng với Đăngtơ, Gơtơ, Nguyễn
Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương... thì họ quả
có chối từ một vài thứ thơ nào đấy.
Nhà thơ, nhà nghệ sỹ đáng quý hay không đáng quý?
Không biết. Nhưng theo phân tích tâm lý của Nitsơ
thì đây là kẻ tự bản chất có thể thiết yếu là một
người đa dục, xúc động trước tất cả mọi sự kích
thích và những gì gợi ra sau sự kích thích này.
Nhưng dưới ảnh hưởng của sứ mệnh hắn, của ý chí
đi tới tự chủ của hắn, hắn thường tiết độ nghĩa
là trinh khiết.
Trinh khiết giữa cuộc đời ô trọc và phàm phu, hướng
tới sự sống, tuyệt giao với mọi biểu hiện suy đồi
theo tôi, đấy chính là đạo đức rồi.
Chỉ cần một thứ để làm nên bất tử thôi: Tác phẩm.
Con đường của nhà thơ thật dài (*)
Nguyễn
Huy Thiệp

|