| 

Nhân
ngày mất của Thi sĩ Nguyễn Bính ( 20-1-1966 )
Những
bài thơ hay của Nguyễn Bính
Vài
Cảm Nghĩ Chợt Tới Khi Đọc "Đời Nguyễn Bính"
Con
đường của nhà thơ
Chị
Trúc Trong Thơ Nguyễn Bính
Hệ
luỵ Nguyễn Bính
Nguyễn
Bính
Nguyễn
Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh năm 1918
tại xã Đồng Đội, Huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam Định (hiện
nay đã được đổi lại là Hà Nam Ninh); ông lấy bút
hiệu Nguyễn Bính.
Theo tài liệu được Hội Nhà
Văn ở Hà Nội công bố về tiểu sử của ông: thuở nhỏ
Nguyễn Bính không được đi học ở nhà truờng mà chỉ
đuợc học ở nhà với cha là ông đồ nho Nguyễn Đạo
Bình và đồng thời cũng được người cậu ruột là Bùi
Trinh Khiêm dạy kèm. Ông mồ côi mẹ rất sớm, gia
đình túng quẫn, nên khi lên 10 tuổi đã phải theo
anh ruột là Nguyễn Mạnh Phác ra Hà Nội sinh sống.
Thời gian này ông được người anh dạy học ở nhà...
Những năm đầu thập niên 40, Nguyễn Bính nhiều lần
lưu lạc vào Miền Nam. Lúc này ông đổi tên là Nguyễn
Bính Thuyết. Năm 1 43, Nguyễn Bính lại đi vào Miền
Nam lần thứ ba và đã gặp Đông Hồ, Kiên Giang. Có
lúc ông cư ngụ trong nhà Kiên Giang... Đó là thời
ông viết những bài Hành Phương Nam, Tặng Kiên Giang,
Từ Độ Về Đây#...
"Từ độ về đây sống rất
nghèo
Bạn bè chỉ có gió trăng theo
Những thằng bất nghiã xin đừng tới
Hãy để thềm ta xanh sắc rêu#."
(Từ Độ Về Đây - 1943)
Năm 1947, Nguyễn Bính tham
gia kháng chiến chống Pháp ở Miền Nam. Đến
Năm 1954, khi Hiệp định Genève
chia đôi đất nước, Nguyễn Bính tập kết về Bắc năm
1955 và được bố trí phục vụ trong Hội Nhà văn ở
Hà Nội một thời gian.
Năm 1956, Ông được giao nhiệm
vụ phụ trách tờ TRĂM HOA (nguyên văn trong tài liệu
của Hội Nhà văn);
Đến năm 1958, Nguyễn Bính chuyển
về tỉnh nhà Nam Định và phục vụ trong Ty Văn Hoá
Nam Định cho đến ngày ông từ giã cõi đờị
Nguyễn Bính chết ngày 20-1-1966,
những ngày cuối năm Ất Tị;
Suốt 30 năm sinh hoạt văn nghệ,
nhà thơ đã sáng tác nhiều thể loại như làm thơ,
viết kịch, truyện thợ.. Ông sáng tác rất mạnh, viết
rất đều và sống hết mình cho sự nghiệp thi cạ Ông
đã xuất bản được 20 tác phẩm đủ loại:
-
Lỡ Bước Sang Ngang (Thơ 1940)
- Tâm Hồn Tôi (Thơ 1940)
- Hương Cố Nhân (Thơ 1941)
- Một Nghìn Cửa Sổ (Thơ 1941)
- Người Con Gái Ở Lầu Hoa (Thơ 1942)
- Mười Hai Bến Nước (Thơ 1942)
- Mây Tần (Thơ 1942)
- Bóng Giai Nhân (Kịch Thơ 1942)
- Truyện Tỳ Bà (Truyện Thơ 1942)
- Ông Lão Mài Gươm (Thơ 1947)
- Đồng Tháp Mười (Thơ 1955)
- Trả Ta Về (Thơ 1955)
- Gửi Người Vợ Miền Nam (Thơ 1955)
- Trong Bóng Cờ Bay (Truyện Thơ 1957)
- Nước Giếng Thơi (Thơ 1957)
- Tiếng Trống Đêm Xuân (Truyện Thơ 1958)
- Tình Nghĩa Đôi Ta (Thơ 1960)
- Cô Son (Chèo cổ 1961)
- Đêm Sao Sáng (Thơ 1962)
- Người Lái Đò Sông Vỵ (Chèo 1964)
Ngoài những tác phẩm kể trên,
còn một số thơ rời viết trong năm 1964, 1965 và
1966 chưa kịp xuất bản.

|