VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Lời
Giới Thiệu Tập Thơ Hàn Mạc Tử.
Hàn Mặc Tử -
nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 1: Duyên kỳ ngộ với nhà
yêu nước vĩ đại ( Nguồn: Thanh Niên)
Hàn
Mặc Tử là một nhà thơ có cuộc đời và số phận hết sức
lạ kỳ. Trong hơn nửa thế kỷ qua, rất nhiều cuốn sách,
bài báo viết về con người này nhưng dường như vẫn còn
nhiều điều không thể nói hết. Nhân dịp Đài Truyền hình
TP.HCM chiếu bộ phim Hàn Mặc Tử, Thanh Niên xin giới
thiệu loạt bài tư liệu về nhà thơ này. Hàn Mặc Tử tên
thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh vào giờ thìn ngày 22/9/1912
tại làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình. Lúc còn nhỏ, chàng
đã được người anh đầu là một người rất giỏi thơ Đường
luật động viên, hướng dẫn làm thơ, nhờ thế chàng có
thể sáng tác thành thạo thơ Đường từ rất sớm. Chính
những bài thơ này đã dẫn dắt chàng gặp gỡ nhà yêu nước
vĩ đại Phan Bội Châu. Và cuộc gặp gỡ định mệnh đó đã
làm thay đổi cả cuộc đời chàng về sau.
Ấy là vào năm 1925, Phan Bội Châu bị thực dân Pháp
bắt ở Trung Quốc và đưa về Việt Nam xét xử. Nhưng dưới
áp lực đấu tranh đòi ân xá của các tầng lớp nhân dân
trong nước cũng như dư luận quốc tế, chúng phải đưa
nhà yêu nước về giam lỏng ở Huế. Từ đó Phan Bội Châu
trở thành Ông già Bến Ngự, sớm tối lấy văn thơ làm vui.
Để giao lưu tâm tình với bạn hữu và những người đồng
chí hướng, Phan Bội Châu mở ra Mộng Du thi xã, kêu gọi
mọi người gửi thơ văn đến xướng họa. Lời kêu gọi của
nhà yêu nước được hưởng ứng sôi nổi. Thơ từ các nơi
gửi về cho Mộng Du thi xã rất nhiều. Và trong số các
bài thơ gửi đến, Phan Bội Châu đặc biệt tâm đắc với
ba bài thơ của Hàn Mặc Tử
Chàng đã gửi đến ba bài thơ Đường luật có tên là Thức
khuya, Chùa hoang và Gái ở chùa. Đó là vào khoảng năm
1931.
Hàn
Mặc Tử năm 12 tuổi.
Những bài thơ của chàng đã xoáy đúng tâm trạng nhà
yêu nước. Phan Bội Châu đã họa lại ba bài thơ độc đáo
này và cho đăng tất cả trên Báo Tràng An, một tờ báo
có nhiều bạn đọc xuất bản ở Huế với lời đề dẫn: "Từ
khi về nước đến nay, được nghe nhiều về văn thơ quốc
âm, song chưa gặp được bài nào hay đến thế. Hồng Nam
nhạn Bắc, ước ao có ngày gặp gỡ để bắt tay nhau cười
to một tiếng, ấy là thỏa hồn thơ".
Việc xướng họa thơ văn với nhà yêu nước Phan Bội Châu
đã làm cho Hàn Mặc Tử, khi đó lấy bút hiệu Phong Trần,
nổi tiếng ngay lập tức. Làng văn xôn xao trước sự xuất
hiện đầy ấn tượng của một thi sĩ mới. Đặc biệt hơn nữa,
tác giả còn được Phan Bội Châu tôn xưng là tiên sinh.
Tiếp sau đó, Hàn Mặc Tử ra Huế để tìm thăm Phan Bội
Châu. Đây là một việc làm hết sức nguy hiểm, vì thực
dân Pháp sẽ chú ý đến tất cả những ai có mối quan hệ
mật thiết với nhà yêu nước này. Sau cuộc gặp gỡ, Hàn
Mặc Tử thường xuyên liên hệ thư từ với Phan Bội Châu,
chàng còn gửi thơ của những người bạn khác ra cho ông.
Mật thám Pháp sau một thời gian theo dõi, cuối cùng
đã quyết định gạt tên chàng ra khỏi danh sách những
người được bảo trợ sang Pháp du học. Tiếp đó, Sogny,
Chánh sở mật thám Huế gửi công văn vào Quy Nhơn yêu
cầu điều tra về chàng. Chánh sở mật thám Quy Nhơn là
Véran gọi chàng lên tra hỏi nhiều lần làm cho gia đình
hết sức lo lắng. Người anh đầu của chàng phải gửi thư
ra Huế nhờ Thượng thư Nguyễn Hữu Bài, một người quen
thân với gia đình chàng xưa nay, can thiệp với chính
quyền thì chuyện mới êm.
Không được đi du học, cuộc đời Hàn Mặc Tử rẽ sang một
ngả khác. Từ đây, chàng bắt đầu bước chân vào con đường
viết báo. Thời gian này, tình hình kinh tế nói chung
rất khó khăn. Nạn thất nghiệp tràn lan. Chàng làm thêm
công việc biên chép các tờ trích lục cũ cho Sở Đạc điền
Quy Nhơn. Nhưng công việc này chỉ đem đến cho chàng
một khoản tiền đủ để mua báo, giấy viết và tem thư gửi
bài. Rồi xảy ra cơn bão lớn năm 1934 làm sập căn nhà
của chàng đang ở. Nợ nần ập đến. Hàn Mặc Tử quyết định
rời Quy Nhơn, vào Sài Gòn lập nghiệp bằng con đường
làm báo chuyên nghiệp.
Hàn Mặc Tử -
nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 2: Nhà báo được nhiều
chính khách nể trọng

Hàn Mặc Tử lúc làm báo ở Sài Gòn.
Tháng 7 năm 1934, từ Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử khăn gói lên
đường vào Sài Gòn để làm báo theo lời thúc giục, rủ
rê của mấy người bạn thân. Sau một thời gian lang thang
chờ việc ở Sài Gòn, chàng được mời phụ trách trang văn
chương cho tờ báo Trong khuê phòng...
Chàng vừa sáng tác, vừa biên tập bài vở, lại kiêm luôn
việc sửa bản in, vì thế thu nhập cũng khá. Nhưng chàng
luôn cảm thấy áy náy vì tờ báo mang tên Trong khuê phòng
mà nói chuyện văn chương thì có vẻ không ổn. Tuy thế,
do chủ báo đối xử quá tử tế nên chàng cũng lấy làm vui.
Nhưng có một lần, những người bạn của chàng viết bài
gây sự với ai đó, bị công kích lại. Trên một tờ báo
ở Sài Gòn, trong mục "Câu chuyện tầm phào"
có bài viết mỉa mai "những trang nam tử lập nghiệp
trong phòng the", ý nói nhóm làm báo Trong khuê
phòng sống nhờ vào việc khai thác "thông tin khuê
phòng", với nhiều câu mỉa mai rất dung tục khiến
chàng bị sốc, không đến tòa soạn nữa. Chủ bút phải cử
người tới nhà trọ của chàng lấy bài và an ủi mãi chàng
mới trở lại làm việc.
Ở Sài Gòn ít lâu chàng đã trở nên nổi tiếng. Nhiều
chính khách kính nể và đến làm quen khi biết chàng từng
có mối liên hệ với Phan Bội Châu và bị mật thám Pháp
theo dõi. Từ đó chàng quan tâm hơn đến những thông tin
chính trị. Chàng định làm một nhà cách mạng chăng? Từ
những xướng họa với nhà yêu nước Phan Bội Châu, bỏ qua
cả cơ hội quan trọng là sang Pháp du học đến chỗ giao
du với các nhân vật chính trị không đơn thuần là những
việc làm ngẫu hứng của một chàng thanh niên trẻ tuổi.
Nhà báo De Lachevrotière, một nghị viên Pháp lai da
màu rất thích tìm chàng để nói chuyện. Qua De Lachevrotière,
chàng quen nhiều nhóm chính trị khác nhau. Một số nhóm
còn bày tỏ thái độ chống Pháp. Tuy nhiên, lâu dần chàng
cảm thấy chán nản khi nhận ra những nhóm chính trị này
dù hô hào cách mạng nhưng họ chỉ là những con bài của
Pháp mà thôi.
Đầu năm 1935, chàng về Huế, trong một đêm buồn lang
thang trên bến sông Hương, chàng đã làm bài thơ Đêm
khuya tự tình với sông Hương để tặng Phan Bội Châu với
nhiều tâm sự ray rứt: "Bây giờ chỉ có đôi ta/Bao
nhiêu tâm sự Hằng Nga biết rồi/Thuở nước non đến hồi
non nước/Sông Hương đành xuôi ngược đông tây/Soi lòng
chỉ có đám mây/Đám mây phú quý những ngày lao đao/Sao
mặt sông xanh xao ra dáng/Sao tình sông lai láng khôn
ngăn". Bài thơ được đăng trên báo Công Luận số
ra ngày 2/3/1935. Nhiều câu chữ bộc lộ rất rõ ý hướng
của chàng: "Mặc ai khanh tướng công hầu/Không thèm
chung đỉnh, lưng bầu gió trăng/Sao trời đất đãi đằng
ra thế/Sao mưa nguồn chớp bể luôn đêm", "Nhà
ai khiêu vũ năm canh/Hơi men sực nức dưới thành đô xưa/Sao
tức tối trôi bừa đi mãi/Chẳng buồn nghe cô lái thở than/Thuyền
em đậu bến Hương giang/Chờ người quân tử lỡ làng tình
duyên". Đêm khuya tự tình với sông Hương mang hơi
hướng Trên dòng Hương giang của Tố Hữu. "Ô hay!
Sóng chảy dạt dào/Chiếc thuyền vô định lạc vào bến mê".
Hơi thơ tuy ủy mị hơn nhưng tình thơ cũng là thế. Hàn
Mặc Tử nhìn thế sự bằng con mắt của một người muốn làm
một cái gì để vỡ tung sự đè nén.
Ngoài việc phụ trách trang văn chương cho tờ Trong
khuê phòng, Hàn Mặc Tử còn viết cho khá nhiều báo nên
kiếm được nhiều tiền nhuận bút. Ngoài báo tiếng Việt,
chàng còn viết cho một số báo tiếng Pháp như Impartial,
Opinion, La Lutte... Tuy nhiên chàng vẫn luôn thiếu
trước hụt sau. Lãnh nhuận bút được bao nhiêu cũng bị
bạn "mượn đỡ" mà không bao giờ có chuyện trả
lại. Thậm chí quần áo cũng để cho bạn bè dùng chung.
Mỗi lần từ Sài Gòn về đến Quy Nhơn chàng chỉ còn chiếc
va-ly trống rỗng. Người em kế của chàng tên Nguyễn Bá
Tín kể, có lần vào Sài Gòn thăm anh, chẳng những anh
ấy không có tiền cho về xe mà còn xin tiền của em mình
để tiêu nữa.
Hàn Mặc Tử là một người sống rất vì bạn. Thời kỳ ở
Quy Nhơn chưa vào Sài Gòn làm báo, ngôi nhà của chàng
là nơi bạn bè tụ tập đến để chơi đùa, nói chuyện văn
chương, chuyện trên trời dưới đất. Nhiều người ăn tại
trong nhà chàng nhiều hơn ở nhà mình. Tuy nhiên có một
điều đặc biệt, chơi hết lòng với bạn nhưng không bao
giờ theo bạn chơi bời buông thả. Chàng nhất quyết không
dính vào những thứ như gái, thuốc phiện. Hoàng Trọng
Miên, một người bạn làm báo thân thiết với chàng tiết
lộ: "Có cám dỗ anh Trí vào nếp sống buông thả nhưng
tâm hồn anh trinh trắng quá, ngay cả đất Sài Gòn ăn
chơi tội lỗi này cũng không cám dỗ anh sa ngã được".
Hàn Mặc Tử -
nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 3: Thực hư quanh chuyện
tình Mộng Cầm
Mộng
Cầm lúc quen Hàn Mặc Tử
Hàn Mặc Tử quen Mộng Cầm trong thời gian phụ trách trang
văn chương cho tờ Trong Khuê Phòng. Mộng Cầm là cháu
gọi Bích Khê bằng cậu, vì "lây nhiễm tinh thần
thơ văn" của ông cậu trẻ tuổi nên cũng tập tành
làm thơ gửi đăng báo. Hàn Mặc Tử đã nhận được một số
bài thơ như thế của Mộng Cầm gửi đến và từ đó làm quen
với Mộng Cầm.
Hai mươi năm sau ngày Hàn Mặc Tử mất, vào năm 1961,
nhà thơ Nguyễn Vỹ, chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Phổ
Thông có tòa soạn tại Sài Gòn đã cử ông Châu Mộng Kỳ
tìm gặp Mộng Cầm để thực hiện bài phỏng vấn về mối tình
Hàn Mặc Tử - Mộng Cầm. Nhờ mối quan hệ đặc biệt, ông
Châu Mộng Kỳ là thầy dạy con riêng của chồng Mộng Cầm,
nên bài phỏng vấn mới thực hiện được. Trước đó nhiều
nhà báo đã bị từ chối. Trong bài trả lời phỏng vấn nói
trên đăng ở tạp chí Phổ Thông số 63, ra ngày 15 tháng
8 năm 1961, Mộng Cầm đã phủ nhận hoàn toàn chuyện tình
cảm giữa mình và Hàn Mặc Tử: "Một dịp thứ bảy đi
chơi lầu Ông Hoàng, anh thổ lộ mối tình với tôi. Tôi
có trả lời anh: Chắc là không thể đi đến chỗ trăm năm
được, tôi nói trước để anh đừng hy vọng. Anh hỏi lý
do. Tôi viện lẽ tôn giáo khác nhau, nhưng thật ra vì
biết Hàn Mặc Tử mang chứng bệnh hiểm nghèo, không thể
sống lâu được, ý tôi muốn một người chồng mạnh khỏe,
tráng kiện... Tuy vậy chúng tôi vẫn giao thiệp thân
mật một hai năm như thế. Trong thời gian này, có nhiều
lần, Hàn Mặc Tử năn nỉ tôi dẫn về Quảng Ngãi thăm nhà
và trong nhiều bức thư anh đề cập đến vấn đề hôn nhân.
Tôi vẫn trả lời, nhưng luôn luôn ngụy biện để từ chối:
Em thiết nghĩ chúng ta sống như thế này thanh cao hơn,
tôn giáo bất đồng, chữ hiếu bắt buộc em phải nghe lời
thân mẫu em".
Bài phỏng vấn này đăng lên, Nguyễn Vỹ cho biết Mộng
Cầm đã đọc và không có điều chi thắc mắc và ông kết
luận "đã giải đáp dứt khoát một nghi vấn thường
bị nhiều người xuyên tạc". Tuy nhiên với độc giả,
bài trả lời phỏng vấn của Mộng Cầm đã gây sốc. Bởi mối
tình Mộng Cầm - Hàn Mặc Tử đã được người đời nâng lên
thành huyền thoại. Ngay cả Ngọc Sương, dì ruột của Mộng
Cầm cũng phản đối. Rồi đến Quách Tấn, người đã ủng hộ
việc Mộng Cầm đi lấy chồng khi hay tin Hàn Mặc Tử bị
bệnh nan y cũng giận dữ trước lời phát biểu này. Quách
Tấn viết: "Cuộc tình duyên giữa Hàn Mặc Tử và Mộng
Cầm, tôi biết rõ lắm. Nhưng tôi chỉ nói những gì có
thể nói được, nói những gì có thể giúp cho bạn đọc hiểu
thêm tâm hồn Tử, văn chương Tử mà thôi". Quách
Tấn là người đã từng bênh vực việc Mộng Cầm đi lấy chồng
làm cho nhà thơ Bích Khê giận ông mấy ngày. Nhưng ông
vô cùng tức giận khi Mộng Cầm phủ nhận mối tình với
Hàn Mặc Tử. Mộng Cầm đã nói thật hay nói dối ? Vì sao
nàng lại phủ nhận mối tình này ? Thật ra, trong thời
gian quen biết với Mộng Cầm, căn bệnh phong của chàng
chưa bộc phát. Ngay cả chàng cũng không hề "cảm
thấy", làm sao Mộng Cầm có thể "nhận ra".
Rất dễ thấy rằng đó là những lời nói dối của một người
con gái muốn quên quá khứ để bảo vệ hạnh phúc hiện tại.
Một lý do rất thường tình và đáng thông cảm. Mối tình
Hàn Mặc Tử - Mộng Cầm đã được rất nhiều người gần gũi
xác nhận. Trần Thanh Mại, một người bạn của chàng đã
công bố những chi tiết của mối tình này trong cuốn sách
Hàn Mặc Tử xuất bản năm 1942. "Ấy là câu chuyện
một đôi trai tài gái sắc yêu nhau, câu chuyện muôn đời
ấy mà! Người con trai là Hàn Mặc Tử, người con gái,
ta cứ theo nhà thi sĩ mà gọi là Mộng Cầm đi, mặc cái
tên thực của họ. Hai bên đã thề nguyền cùng nhau những
lời mà ta hiểu là thiết tha đằm thắm lắm. Thường thường
thì họ hay gặp nhau ở hai tỉnh: Qui Nhơn và Phan Thiết.
Họ đưa nhau đi chơi bờ bể, họ đi viếng các danh lam
thắng cảnh, nhất là lầu Ông Hoàng. Rồi họ xa nhau. Họ
nhớ nhau, và tặng ảnh cho nhau. Họ coi như một cặp vợ
chồng chưa cưới".
Hàn Mặc Tử đã sáng tác nhiều bài thơ đầy nước mắt về
mối tình này. Trong bài Muôn năm sầu thảm, chàng đã
kêu tên nàng lên một cách thảm thiết: "Nghệ hỡi
Nghệ muôn năm sầu thảm / Nhớ thương còn một nắm xương
thôi". Bài Phan Thiết Phan Thiết, chàng nhắc tới
những kỷ niệm xưa về lầu Ông Hoàng, nơi chàng và Mộng
Cầm từng dạo chơi thuở nào: "Ta lang thang tìm
tới chốn lầu Trăng/Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn
vang/Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết/Ôi trời ôi!
là Phan Thiết! Phan Thiết!/Mà tang thương còn lại mảnh
trăng rơi".
Hàn Mặc Tử -
nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 4: Hoàng Cúc - nàng thơ
bí ẩn
Hoàng
Cúc trong trang phục nữ y tá tình nguyện năm 30 tuổi.
Hoàng Cúc là người liên quan đến bài thơ tình đẹp nhất
trong kho tàng thơ ca Việt Nam: Bài thơ thôn Vỹ. Nàng
tên thật là Hoàng Thị Kim Cúc, sinh ngày 5/12/1913,
kém Hàn Mặc Tử 1 tuổi.
Cũng như Hàn Mặc Tử, nàng phải theo gia đình vào Quy
Nhơn sinh sống vì cha nàng là công chức, làm việc tại
Quy Nhơn. Năm 1933, Tử vào làm cho Sở Đạc điền Quy Nhơn
và quen Hoàng Tùng Ngâm - em thúc bá của Hoàng Cúc.
Hoàng Tùng Ngâm sống trong ngôi nhà nhỏ cạnh nhà Hoàng
Cúc, anh em bè bạn thường tụ tập để chơi đùa, bình phẩm
văn thơ. Hoàng Cúc khi đó cũng đang tập tành viết báo
làm thơ với bút hiệu Hoàng Hoa nữ sĩ nên cũng quen biết
Hàn Mặc Tử.
Với bản tính đa tình, Hàn Mặc Tử đã đem lòng si mê
Hoàng Cúc. Chàng đã làm một số bài thơ tặng nàng như
bài Vịnh hoa cúc, Trồng hoa cúc... Một số bài đã đến
tay Hoàng Cúc qua Hoàng Tùng Ngâm. Hoàng Cúc biết rất
rõ tình cảm của chàng.
Rồi Hàn Mặc Tử vào Sài Gòn làm báo. Sau một thời gian,
chàng về lại Quy Nhơn. Lúc này gia đình chàng đã dời
đến cách nhà Hoàng Cúc chỉ vài căn. Tình xưa dậy sóng
trở lại. Giờ đây, chàng đã ít nhiều bạo dạn hơn trước.
Hàn Mặc Tử sáng tác bài Hồn cúc: "Bấy lâu sát ngõ,
chẳng ngăn tường/Không dám sờ tay sợ lấm hương/Xiêm
áo đêm nay tề chỉnh quá/Muốn ôm hồn cúc ở trong sương".
Năm 1936, Hoàng Cúc theo gia đình về Huế sinh sống.
Sau đó, nàng bắt đầu ăn chay trường, trở thành cư sĩ,
sống cuộc đời lặng lẽ bí ẩn. Cũng trong năm đó, Hàn
Mặc Tử in tập thơ Gái quê, là tập thơ mới đầu tiên kể
từ khi chàng bỏ làm thơ Đường luật. Chàng mang theo
một số tập Gái quê ra Huế. Và chàng đã gặp lại Hoàng
Cúc trong một dịp hội chợ nhưng không dám tặng thơ cho
nàng. Chàng cũng tìm đến Vỹ Dạ - nơi ở của Hoàng Cúc
- nhưng chỉ đứng ngoài cổng một lúc rồi bỏ đi.
Nhiều năm sau đó, giữa hai người không có liên lạc
gì với nhau. Một hôm Hoàng Cúc nghe tin chàng bị bệnh
phong, nàng liền gửi thư cho chàng. Và chàng đã cảm
động sáng tác bài Đây thôn Vỹ Dạ gửi tặng nàng.
Chuyện tình Hoàng Cúc - Hàn Mặc Tử cũng có những điều
gây tranh cãi như trường hợp Mộng Cầm. Bởi Hoàng Cúc
đã có lần công khai phủ nhận chuyện nàng có tình cảm
với Hàn Mặc Tử. Đó là vào năm 1969, nhà thơ Quách Tấn,
người bạn thân thiết của Hàn Mặc Tử đã viết một hồi
ký lấy tên là Đôi nét về Hàn Mặc Tử đăng trên tạp chí
Văn, trong đó có phần nói đến mối quan hệ giữa Hoàng
Cúc và Hàn Mặc Tử. Quách Tấn cho rằng hai người không
thành duyên nợ là do thân sinh của Hoàng Cúc chê Hàn
Mặc Tử không xứng. Hoàng Cúc đã đọc được hồi ký này
và ngày 15/3/1971, nàng gửi thư cho Quách Tấn để "nói
lại cho rõ". Hoàng Cúc đã phản bác một số chi tiết
nhỏ mà Quách Tấn nêu ra và cuối cùng nói về mối quan
hệ của mình với Hàn Mặc Tử: "Hồi ấy tuy Tử ở gần
nhà tôi, song Tử và tôi cách xa nhau như hai ngọn núi.
Tử thì kín đáo và bẽn lẽn như con gái, còn tôi thì bí
mật và xa lạ như cung trăng! Tuy thế Tử cũng đã tìm
cách để gặp, nhưng vẫn chưa toại nguyện..."
Thế nhưng Quách Tấn kiên quyết bảo vệ lập trường của
mình trong các chi tiết thể hiện việc Hàn Mặc Tử và
Hoàng Cúc có yêu nhau: "Còn về những chi tiết trong
cuộc tình duyên của Tử - Cúc, thì nhất định ký ức tôi
không phản tôi, vì không có gì phức tạp khó nhớ. Việc
Tử nhờ người đến dạm là việc có thật. Người ấy là nhà
thầu khoán Bùi Xuân Lang ở Quy Nhơn, vừa thân với Tử,
vừa quen với cụ Hoàng Phùng".
Hiểu như thế nào về chuyện này? Theo chúng tôi, Hoàng
Cúc ngày ấy là một thiếu nữ trẻ trung yêu đời, lại ít
nhiều có tâm hồn văn chương thì việc đáp lại những tình
cảm của một người như Hàn Mặc Tử là có thể xảy ra. Nhưng
sau này cũng như Mộng Cầm, nàng đã cố gắng chôn chặt
những điều thầm kín riêng tư vào cõi lòng. Là một người
xa lánh cuộc đời để tìm đến cõi thiền, thì những chuyện
tình cảm dù có cũng không thể phơi bày cho công chúng
biết. Cho nên việc Hoàng Cúc phủ nhận chuyện có đáp
lại tình cảm với Hàn Mặc Tử là điều dễ hiểu. Nguyễn
Bá Tín cho biết tại nhà riêng của Hoàng Cúc, khi đã
quy y, nàng vẫn "dành riêng một căn phòng ngày
đêm hương hoa tụng niệm, tưởng nhớ mối tình bất diệt
của anh mà cũng là tình đầu của chị".
Mối tình Hàn Mặc Tử - Hoàng Cúc như là khói sương bảng
lảng. Nàng thực sự là một nàng thơ hơn là một người
tình để chàng có thêm thi hứng mà thôi.
Hàn Mặc Tử -
nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 5: Đây thôn Vỹ Dạ - bài
thơ nhiều ẩn số
Bến
đò Vỹ Dạ
Năm 1936, Hàn Mặc Tử từ Sài Gòn trở lại Quy Nhơn. Lúc
này thân phụ Hoàng Cúc về hưu nên gia đình phải dọn
về Huế. Cũng trong năm đó, chàng bắt đầu phát hiện những
dấu hiệu của căn bệnh phong, nhưng chàng vẫn chưa quan
tâm đến nó. Một thời gian rất lâu, căn bệnh mới phát
mạnh.
Năm 1939, Hoàng Cúc nhận được hung tin nói trên từ Hoàng
Tùng Ngâm. Nàng chuẩn bị một số tiền định gửi cho Hàn
Mặc Tử uống thuốc nhưng không dám gửi. Nàng bèn gửi
cho Hàn Mặc Tử một bức ảnh chụp cảnh nàng mặc áo lụa
dài trắng đứng dưới vòm cây xanh mát. Nhận được ảnh,
Hàn Mặc Tử rất vui. Chàng liền làm ngay bài thơ Đây
thôn Vỹ Dạ gửi ra Huế cho Hoàng Cúc.
Chi tiết trên là theo Nguyễn Bá Tín. Còn theo nhiều
tác giả khác thì Hoàng Cúc không gửi ảnh mình mà gửi
một tấm bưu ảnh có mây nước, có chiếc đò ngang với cô
gái chèo đò, có khóm tre, có cả ánh trăng hoặc là ánh
nắng chiếu xuống. Một thời gian sau, nàng nhận được
thư của Hàn Mặc Tử. Kèm theo bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ
gửi tặng, Hàn Mặc Tử viết: "Túc hạ! Có nhận được
bức ảnh bến Vỹ Dạ lúc hừng đông hay là một đêm trăng?
Và mấy hàng chữ của túc hạ gửi thăm, muôn vàn cảm tạ.
Túc hạ còn nhớ đến người năm xưa, thế là phúc phận lắm
rồi. Mong ơn trên xuống độ cho túc hạ thật đầy và mong
rằng một mùa xuân nào đấy sẽ gặp lại được túc hạ cho
phỉ dạ. Thăm túc hạ bình an vui vẻ".
Đây thôn Vỹ Dạ là bài thơ nhẹ nhàng nhất của Hàn Mặc
Tử trong tập thơ Điên. Bởi lúc này chàng đang trong
thời kỳ bệnh tật, đau đớn điên cuồng cả thể xác lẫn
tâm hồn. Thơ của chàng luôn luôn là những gào thét uất
hận, nghẹn ngào. Bài thơ này, Nguyễn Bá Tín cho biết
nguyên cái tựa ban đầu của nó là Ở đây thôn Vỹ Dạ. Nhưng
về sau đã được biên tập lại, bỏ đi chữ Ở. Trong bài
thơ, hình ảnh hàng cau được nhiều người khen ngợi, nhưng
lại đem đến thắc mắc cho chính người được tặng thơ là
Hoàng Cúc. Nàng đã không hiểu vì sao Hàn Mặc Tử lại
viết câu thơ "Sao anh không về chơi thôn Vỹ/Nhìn
nắng hàng cau nắng mới lên". Thôn Vỹ Dạ, nằm bên
kia Đập Đá, cư dân ở đây phần lớn thuộc tầng lớp thượng
lưu. Kế thôn Vỹ Dạ là thôn Nam Phổ, một thôn bình dân,
sống bằng nghề trồng cau. "Mua vôi chợ Quán chợ
Cầu. Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh". Cau Nam
Phổ nổi tiếng khắp cả nước. Hằng năm đến mùa cau, già
trẻ gái trai trong làng đều có thể trèo cau, hái cau
để bán. Các cô gái Nam Phổ nổi tiếng trèo cau giỏi.
Vì thế có câu "Con gái Nam Phổ ở lổ trèo cau".
Những cô gái khuê các vùng Vỹ Dạ rất sợ bị xếp vào diện
câu ví đó. Và vì thế ít ai chịu trồng cau ở Vỹ Dạ. Như
vậy, thì vì sao Hàn Mặc Tử lại lấy hình ảnh cây cau
như là một biểu tượng cho thôn Vỹ Dạ?
Bài thơ cũng tạo ra rất nhiều sự khó hiểu đối với độc
giả trong các chi tiết khác. Chẳng hạn mấy câu thơ "Mơ
khách đường xa, khách đường xa. Áo em trắng quá nhìn
không ra" và "Ở đây sương khói mờ nhân ảnh.
Ai biết tình ai có đậm đà?". Có nhiều ý kiến lý
giải khác nhau, trong đó thậm chí có người cho rằng
khổ thơ này chỉ những nàng kỹ nữ sông Hương như trên
báo Giáo Viên Nhân Dân số tháng 1/1990. Theo ý kiến
một số người, hình ảnh "áo trắng nhìn không ra"
là do Hoàng Cúc mặc chiếc áo dài màu trắng mà tấm hình
cũ quá nên Hàn Mặc Tử không thấy rõ. Còn "sương
khói mờ nhân ảnh" thì Nguyễn Bá Tín cho rằng có
thể là Hàn Mặc Tử muốn nói đến đời sống khói nhang cõi
thiền của Hoàng Cúc.
Ngày tháng ra đời của bài thơ cũng gây bàn cãi. Trên
Tuổi Trẻ Chủ Nhật số ra ngày 7/1/1990, tác giả Đào Quốc
Toàn viết: "Bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ chỉ có thể được
viết trong khoảng 1936-1937 chứ không thể viết vào năm
1939 được, bởi vì bài thơ này được Hàn Mặc Tử tập hợp
lại ở tập Đau thương trong thời gian cuối 1937 đầu 1938.
Tập thơ này gồm khoảng 50 bài thơ, lúc đầu lấy tên là
Thơ điên".
Đây cũng là vấn đề khó làm sáng tỏ. Hàn Mặc Tử sáng
tác bài thơ này trong thời điểm nào? Nếu căn cứ vào
trí nhớ của Hoàng Cúc thì bài thơ ra đời vào năm 1939.
Trong thư gửi cho Quách Tấn vào ngày 15/10/1971, Hoàng
Cúc viết: “Vào khoảng hè 1939, Ngâm viết thư về Huế
cho biết Tử mắc bệnh nan y, và khuyên tôi nên viết thư
thăm Tử, để an ủi một tâm hồn đã vô cùng đau khổ. Thay
vì viết thư thăm, tôi gửi bức ảnh phong cảnh vừa bằng
cái carte-visite. Trong ảnh có mây, có nước, có chiếc
đò ngang với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cả
ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước. Tôi viết
sau tấm ảnh mấy lời hỏi thăm sức khỏe Tử mà không ký
tên, rồi nhờ Ngâm trao lại. Sau đó một thời gian, tôi
nhận được bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ...".
Hàn Mặc Tử -
nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 6: Mai Đình - tình thơ
hay tình yêu ?

Mai Đình lúc gặp Hàn Mặc Tử.
Mai Đình thực ra không phải là một nàng thơ, cũng không
phải là một người tình của Hàn Mặc Tử...Đúng nghĩa,
nàng là một người bạn văn chương của chàng. Nàng gặp
Hàn Mặc Tử khi chàng đã lâm trọng bệnh, xa lánh tất
cả mọi người để về ẩn mình trong một cái chòi tranh
ở Gò Bồi, cách thành Quy Nhơn khoảng 15 cây số.
Mai Đình xuất thân trong một gia đình khá giả, nhưng
mang trong mình dòng máu lãng mạn, nàng theo tiếng gọi
bốn phương cất bước ra đi. Nhờ có nghề dạy nữ công gia
chánh cho những gia đình giàu có nên Mai Đình kiếm kế
sinh nhai khá dễ dàng. Nàng đã đặt chân đến nhiều vùng
đất xa xôi, có khi qua tận Nam Vang. Năm 1937, Mai Đình
đến Quy Nhơn. Trước đó nàng đã nghe danh Hàn Mặc Tử
từ lâu. Là một người có cá tính mạnh mẽ, nàng không
câu nệ, tìm cách giáp mặt chàng. Lần đầu tiên, Hàn Mặc
Tử vì tự ti bệnh tật nên không chịu tiếp. Nàng bèn vào
Nha Trang, thông qua Quách Tấn để "tiếp cận"
chàng. Trong hồi ký của mình, Quách Tấn nhớ lại: "Gặp
tôi, nàng không chút e lệ, ngồi nói chuyện như người
quen biết đã lâu. Phê bình bài thơ Gái quê xong, nàng
tỏ thật nỗi lòng đối với Tử: “Biết Tử mang bệnh ngặt
nghèo, lòng tôi hết sức thương cảm. Tôi mong sao chia
sớt được nỗi đau khổ của Tử một đôi phần”. Rồi nàng
trách Mộng Cầm sao đành lòng bỏ Tử".
Mai Đình sau hơn nửa thế kỷ.
Nàng gửi cho Quách Tấn bài thơ Biết anh để tặng Hàn
Mặc Tử với những câu thơ thật mạnh dạn: "Còn anh
em đã gặp anh đâu!/Chỉ cảm vần thơ có những câu/Âu yếm
say sưa đầy cả mộng/Xui lòng tư tưởng lúc đêm thâu".
Đây là bài thơ đầu tiên mở ra một tình bạn văn chương
thú vị giữa hai người. Hàn Mặc Tử nhận được thơ, liền
hồi âm nhưng Mai Đình đã đi khỏi Nha Trang. Chàng buồn
rầu sáng tác bài Lưu luyến: "Chửa gặp nhau mà đã
biệt ly/Hồn anh theo dõi bóng em đi/Hồn anh sẽ nhập
trong luồng gió/Lưu luyến bên em chẳng nói gì".
Điều đặc biệt nhất trong mối quan hệ Mai Đình - Hàn
Mặc Tử là nàng đã hành xử rất đúng với tinh thần văn
chương: Tứ hải giai huynh đệ. Theo tài liệu của Trần
Thanh Mại thì mùa hè năm 1938, Mai Đình từ biệt Quy
Nhơn để vào Sài Gòn thu xếp công việc. Khi trở ra, Mai
Đình đưa Hàn Mặc Tử một món tiền để lo thuốc thang và
nói ý định của mình: sẽ ở lại trong cái chòi tranh cùng
với chàng. Hàn Mặc Tử từ chối nhưng nàng mặc kệ, cứ
ở đấy đi chợ nấu ăn, sắc thuốc cho chàng. Mai Đình không
hề ngần ngại bệnh tật cũng như dư luận người đời.
Hàn Mặc Tử từ chỗ không muốn gặp mặt đến xúc động trước
việc làm của Mai Đình nên đã có nhiều câu thơ tặng nàng:
"Đây Mai Đình tiên nữ ở Vu Sơn/Đêm muộn xuống gieo
vào muôn sóng mắt/Nàng, ôm nàng hai tay ta ghì chặt/Cả
bài thơ êm mát lạ lùng thay!". Ngoài lo việc cơm
nước thuốc thang cho chàng, thời gian còn lại nàng cùng
chàng ngâm thơ vịnh cảnh. Hai tâm hồn thi sĩ sống bềnh
bồng với những vần thơ như thế suốt một thời gian dài.
Nhưng số tiền Mai Đình mang theo cũng đã hết. Nàng khuyên
chàng vào Bệnh viện phong Quy Hòa để điều trị, nàng
sẽ đi theo và ở luôn trong ấy để chăm sóc cho chàng.
Nhưng Hàn Mặc Tử từ chối. Cuối cùng hai người phải từ
giã nhau. Nàng lại cất bước giang hồ bốn phương. Lâu
lâu, chàng lại nhận được cánh thư của nàng từ phương
trời xa nào đó. Trong một lần ngồi buồn, chàng đem những
từ ngữ trong bức thư nàng gửi xếp lại thành bài thơ.
Đó là bài Thao thức với những câu thơ da diết: "Lạnh
quá ánh trăng không sáng mấy/Cho nên muôn dặm ở ngoài
kia/Em đang mong mỏi, em đang nhớ/Bứt rứt lòng em muốn
trở về".
Mối tình thơ kỳ lạ giữa Mai Đình và Hàn Mặc Tử cùng
với việc Mai Đình chăm sóc cho Hàn Mặc Tử được Trần
Thanh Mại công bố vào năm 1942, một năm sau ngày Hàn
Mặc Tử mãi mãi ra đi. Nhưng câu chuyện trên đây không
được gia đình Hàn Mặc Tử thừa nhận và Quách Tấn thì
cho rằng Trần Thanh Mại đã hoàn toàn bịa đặt. Tuy nhiên,
những tài liệu của Trần Thanh Mại công bố đã thuyết
phục được không ít người. Có người cho rằng, trước đây
giữa nhà thơ Quách Tấn và nhà phê bình Trần Thanh Mại
xảy ra vụ kiện bản quyền thơ Hàn Mặc Tử, liên quan trực
tiếp đến cuốn sách Hàn Mặc Tử mà Trần Thanh Mại xuất
bản năm 1942, xuất phát từ mâu thuẫn này mà nhà thơ
Quách Tấn đã nói như vậy chăng?
Hàn Mặc Tử -
nhà thơ có số phận kỳ lạ: Kỳ 7: Hình bóng giai nhân,
nguồn sống của mạch thơ Hàn Mặc Tử

Ngọc Sương lúc còn trẻ
Thương Thương là một nàng thơ huyền diệu nhất của Hàn
Mặc Tử. Bởi chàng không chỉ đơn thuần làm thơ về nàng
như những hình bóng giai nhân khác. Trong tâm tưởng
chàng, Thương Thương không phải là người của cõi trần.
Trong bài thơ Tiêu sầu, chàng đưa mình bay lên tận
cung trăng để gặp "Hằng Nga Thương Thương",
trong vở kịch thơ Duyên kỳ ngộ và Cẩm châu duyên, Thương
Thương là tiên nữ. Chính vì vậy, có một số tài liệu
cho rằng Thương Thương không phải là người có thật mà
chỉ là cái tên mượn. Trần Thị Huyền Trang, cháu nhà
thơ Quách Tấn viết trong Hàn Mặc Tử - hương thơm và
mật đắng: "Thương Thương không phải là một nhân
vật có thật. Tất cả mọi chuyện đều do Trần Thanh Địch
sắp đặt ra".
Chúng tôi đã trực tiếp gặp nhà văn Trần Thanh Địch
tại tư gia ở đường Nguyễn Đình Chính, quận Phú Nhuận,
TP.HCM để tìm hiểu về nàng thơ này. Trần Thanh Địch
là một trong hai người bạn thân nhất của Hàn Mặc Tử
(người kia là nhà thơ Quách Tấn). Thương Thương chính
là Trần Thị Thương Thương, là con của ông Trần Thanh
Đạt, anh trai hai nhà văn Trần Thanh Mại và Trần Thanh
Địch. Hàn Mặc Tử cũng là bạn của Trần Tái Phùng, anh
ruột Thương Thương.
Ông Địch cho biết, vào năm 1936, khi Hàn Mặc Tử ra
Huế lần cuối cùng để tặng tập Gái quê cho bạn bè, thì
Thương Thương chỉ mới 12 tuổi, nên Hàn Mặc Tử chẳng
hề chú ý đến làm gì. Đến năm 1939, Hàn Mặc Tử đã trải
qua nhiều biến cố đau buồn trong cuộc đời như người
anh cả dạy chàng làm thơ năm nào qua đời, Hoàng Cúc
theo gia đình về quê, Mộng Cầm bỏ đi lấy chồng, bệnh
tình chàng ngày một nặng hơn. Lúc này, chàng đã sống
ẩn mình, chỉ biết làm thơ. Làm được bài nào, chàng chép
lại để gửi ra Huế cho Trần Thanh Địch và Trần Tái Phùng
đọc.

Nhà văn Trần Thanh Địch, người nắm rõ câu chuyện
về Thương Thương
Lúc này, tiếng tăm của chàng đã nổi như cồn. Thơ chàng
làm ra được học sinh trung học chép tay chuyền nhau
đọc thuộc lòng. Đặc biệt là những nữ sinh, rất thích
chép và đọc thơ Hàn Mặc Tử. Trần Thị Thương Thương bấy
giờ đang học Trường Trung học Đồng Khánh, cũng bắt đầu
say mê thơ Hàn Mặc Tử.
Trần Thanh Địch kể, một hôm ông đang ngồi viết thư
cho Hàn Mặc Tử thì Thương Thương đến gần, nói đại ý
nếu có gửi thư cho Hàn Mặc Tử thì xin cho Thương Thương
gửi lời thăm. Trần Thanh Địch khuyên Thương Thương viết
một bức thư ngắn gửi kèm cho lịch sự. Thương Thương
nghe lời chú, viết bức thư xã giao, nói đại ý đã đọc
thơ của chàng nhiều và rất thích, nay gửi lời chúc chàng
mau bình phục để sáng tác.
Nhận được thư Thương Thương, chàng hồi âm ngay. Chàng
nói rất vui và sẽ có thơ gửi tặng Thương Thương. Quả
nhiên chỉ vài hôm Thương Thương bắt đầu nhận được thơ
chàng gửi tặng. Đó là các đoạn trích hai vở kịch thơ
Duyên kỳ ngộ và Quần tiên hội. Chàng cũng đặt cho Thương
Thương biệt danh Người lụa bến sông Hương.
Hai vở kịch thơ Duyên kỳ ngộ và Quần tiên hội là những
sáng tác độc đáo của Hàn Mặc Tử. Trần Thanh Địch cho
biết cứ vài ngày ông và Trần Tái Phùng lại nhận được
một đoạn thơ từ Quy Nhơn gửi ra. Phùng đọc xong chuyển
cho người anh rể vốn là giáo viên Trường Trung học Khải
Định. Người này đem lan truyền trong các học trò của
mình. Điều đặc biệt trong Duyên kỳ ngộ lẫn Quần tiên
hội, tên tuổi của Thương Thương và Hàn Mặc Tử được nêu
đích danh. Chẳng hạn trong Duyên kỳ ngộ, chàng viết:
"Em là Trần Thương Thương/Anh là Hàn Mặc Tử/Không
phải cách âm dương/Còn có khi hội ngộ".
Thương Thương lập tức nổi tiếng theo. Giới học sinh
ở Huế xôn xao. Trong một thời gian ngắn, chuyện đến
tai ông Trần Thanh Đạt, thân sinh của Thương Thương.
Gia đình Thương Thương là gia đình quan lại, ông nội
Thương Thương làm Thừa biện Bộ Binh, ông ngoại làm Thượng
thư Bộ Lễ. Ông Trần Thanh Đạt khi đó cũng đang làm Tham
tri Bộ Quốc gia giáo dục, ba năm sau được thăng Thượng
thư Bộ Quốc gia giáo dục. Trong một gia đình như vậy,
việc Thương Thương trở thành một người nổi tiếng kiểu
đó khó mà được chấp nhận. Ông Trần Thanh Đạt đã gọi
anh Thương Thương là Trần Tái Phùng đến, yêu cầu tìm
cách làm nguội dư luận. Trần Tái Phùng bèn viết thư
gửi Hàn Mặc Tử, đề nghị chàng thôi sử dụng hình ảnh
của Thương Thương trong sáng tác. Tử nhận được thư và
lập tức làm theo đề nghị của bạn. Từ đó, Quần tiên hội
mãi mãi bị bỏ dở dang.
Thương Thương là một nàng thơ đúng nghĩa của Hàn Mặc
Tử. Không gặp mặt, không nghe tiếng. Chỉ là những tưởng
tượng. Thế nhưng những sáng tác của chàng về nàng thật
diệu kỳ. Về tuổi tác Thương Thương, nhiều tài liệu nói
rất khác nhau. Nhưng theo nhà văn Trần Thanh Địch, khi
Hàn Mặc Tử viết Quần tiên hội thì Thương Thương khoảng
15 tuổi. Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Tuyển, người đã bỏ
công tìm hiểu rất kỹ về cuộc đời Hàn Mặc Tử cho biết,
Thương Thương sinh ngày 8/10/1924. Như vậy là vào năm
1939, Thương Thương đã 15 tuổi chứ không phải mới 12
tuổi như một số tác giả khác.
Hàn Mặc Tử là một người đa sầu đa cảm. Gặp ai cũng
đem lòng thương nhớ. Vì thế có rất nhiều hình bóng giai
nhân đã đi vào thơ chàng. Ngoài Mộng Cầm, Hoàng Cúc,
Mai Đình, Thương Thương là bốn người phụ nữ ảnh hưởng
sâu sắc tới thơ Hàn Mặc Tử, trong từng giai đoạn còn
có những người phụ nữ khác để lại dấu ấn trong thơ chàng.
Đầu tiên là Ngọc Sương. Nàng là chị ruột của Bích Khê,
bạn Hàn Mặc Tử, đồng thời là dì ruột của Mộng Cầm. Nguyên
khi Mộng Cầm đi lấy chồng, Bích Khê thấy bạn buồn quá
bèn tặng tấm hình của hai chị em cho Hàn Mặc Tử và giới
thiệu đôi chút về Ngọc Sương. Do đó mà Ngọc Sương cũng
đã đi vào thơ Hàn Mặc Tử. Tuy nhiên Ngọc Sương không
hề có mối giao lưu nào với Hàn Mặc Tử dù qua thư từ.
Mãi đến khi Bích Khê mất vào năm 1946, Ngọc Sương soạn
lại di cảo của em mới biết rõ một số bài thơ Hàn Mặc
Tử viết về mình.
Một người nữa là Thanh Huy. Nàng tên thật là Võ Thị
Thu Huy, là chị vợ nhà văn Trần Thanh Địch, khi đó đang
sinh sống ở Phan Thiết. Cũng như Ngọc Sương, Thanh Huy
chỉ làm quen qua thư chứ chưa gặp mặt Hàn Mặc Tử. Đó
là lúc chàng đã phát bệnh nặng. Thanh Huy cũng đang
tập tành làm thơ, được Bích Khê khuyên nên viết thư
động viên Hàn Mặc Tử. Vì thế một hôm Tử đang chán nản
buồn phiền thì có bức thư bỏ trong phong bì màu xanh
của Thanh Huy gửi đến. Lập tức chàng sáng tác bài Bức
thư xanh: "Thanh Huy hỡi nàng chưa là châu báu/Cớ
làm sao phước lộc chảy ra thơ/Duyên làm sao cho Trí
đến dại khờ/Mắt mờ lệ ở sau hàng chữ gấm/Ta đã nuốt
và hình như đã cắn/Cả lời thơ cho vãi máu nàng ra".
Bài thơ viết một cách dữ dội, Thanh Huy đọc và thôi
không liên lạc với Tử nữa vì khiếp đảm.
Mỹ Thiện cũng là một nàng thơ để lại dấu ấn mạnh trong
thơ Hàn Mặc Tử. Nàng người gốc Huế, ở cạnh nhà Hàn Mặc
Tử tại thành phố Quy Nhơn. Nàng sống với cha và bà mẹ
kế xấp xỉ tuổi nàng. Mỹ Thiện rất giỏi âm nhạc dân tộc,
nổi tiếng là một cây đàn tỳ bà tài hoa, đặc biệt có
thể chơi đủ năm cây đàn tranh, nhị, nguyệt, bầu, tỳ
bà. Những đêm khuya, nàng thường dạo đàn tranh réo rắt.
Hàn Mặc Tử chưa một lần gặp mặt Mỹ Thiện nhưng chàng
bị ám ảnh bởi tiếng đàn. Ở thành phố Quy Nhơn dạo ấy,
không chỉ riêng Hàn Mặc Tử mà nhiều chàng trai khác
cũng mơ tưởng đến người ngọc. Khi bệnh tình càng nặng,
tiếng đàn Mỹ Thiện càng làm cho chàng khó ngủ.
Mỹ Thiện không thoát khỏi hồng nhan bạc phận. Sống
với người mẹ kế, nàng thường xuyên chịu đựng những ganh
ghét. Một ngày kia nàng đã kết liễu đời mình bằng mười
viên thuốc ngủ Véronal. Cái chết của Mỹ Thiện đánh tan
mọi ngờ vực của những người ác ý và bà mẹ kế, là nàng
đã hoang thai. Các bác sĩ đã công bố nàng vẫn còn là
cô gái trinh tiết. Ngay lập tức Hàn Mặc Tử vào buồng
đóng cửa lại và bài Cô gái đồng trinh ra đời tức khắc:
"Đêm qua trăng vướng trên cành trúc/Cô láng giềng
bên chết thiệt rồi/Trinh tiết vẫn còn nguyên vẹn mới/Chưa
hề âu yếm ở đầu môi/Xác cô thơm quá thơm hơn ngọc/Cả
một mùa xuân đã hiện hình". Hình bóng Mỹ Thiện
từ đó còn trở lại nhiều lần trong thơ chàng. Nguyễn
Bá Tín em chàng kể lại: "Cô gái đồng trinh từ đó
trở thành một hiện tượng kỳ lạ, một nàng thơ dẫn dắt
anh vào những nhớ thương bàng bạc bâng quơ, hoặc hòa
nhập vào những lời thơ quằn quại xót xa mà cuộc đời
nàng đã đi qua ngắn ngủi"...
Hàn Mặc Tử đã sáng tác được 5 tập thơ, trong đó Lệ
Thanh Thi Tập là tập thơ đầu tiên. Trong tập này bài
Buồn thu có những câu khá hay: "Ngàn trùng bóng
liễu trông xanh ngắt/Cảnh sắp về đông mắt sẽ vơi".
Đây là bài thơ liên quan đến một người phụ nữ: đó là
cô Trà. Nàng là người về bên ngoại của Hàn Mặc Tử nhưng
không bà con. Chàng đã gặp nàng vào cái thời còn rất
trẻ, tính tình khi ấy hết sức nhút nhát. Nàng chờ chàng
ngỏ lời nhưng mãi không thấy chàng lên tiếng. Mà con
gái Huế thời ấy luôn lấy chồng sớm. Chàng chưa nói được
gì thì nàng đã sang sông. Sực tỉnh, chàng làm bài Buồn
thu với nhiều tiếc nuối. Đây có thể coi là hình bóng
người phụ nữ đầu tiên đi vào thơ chàng...
Hàn Mặc Tử
- nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 8: Những câu thơ lạ
và căn bệnh tâm thần
Hàn
Mặc Tử lúc còn ở Quy Nhơn, trông khỏe mạnh hơn thời
kỳ đi làm báo
Ai cũng biết Hàn Mặc Tử mắc bệnh phong. Nhưng ngoài
căn bệnh mà người ta cho rằng đã ảnh hưởng đến thơ của
Tử, bật ra thành những lời gào thét uất hận, thì trong
thơ Tử còn có những hình ảnh thật kỳ dị khó hiểu có
thể liên quan đến một nguyên nhân khác. Chính người
em ruột của Tử đã đặt vấn đề về một căn bệnh tâm thần
mà Tử mắc phải. Có thể như thế được chăng?
Trong thơ Tử có những hình ảnh thật kỳ dị, đôi lúc
ma quái rùng rợn. Đến nỗi Hoài Thanh đã phải công nhận
là: "Chính như lời Hàn Mặc Tử nói trong bài Thơ
điên, vườn thơ của người rộng thinh không bờ bến, càng
đi xa càng ớn lạnh".
Quả đúng như thế. Đọc thơ của chàng đôi lúc thấy sởn
da gà: "Tôi ngồi dưới bến đợi nường Mơ/Tiếng rú
ban đêm rạng bóng mờ!/Tiếng rú lòng tôi xô vỡ sóng/Rung
tầng không khí, bạt vi lô/Ai đi lẳng lặng trên làn nước/Với
lại ai ngồi khít cạnh tôi?/Mà sao ngậm cứng Thơ đầy
miệng/Không nói không rằng nín cả hơi", "Lụa
trời ai dệt với ai căng?/Ai thả chim bay đến Quảng Hằng?/Và
ai gánh máu đi trên tuyết/Mảnh áo da cừu ngắm nở nang",
"Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm/Cho trăng
ngập, trăng dồn lên tới ngực/Cho hai chúng tôi lặng
yên trong thổn thức/Rồi bay lên cho tới một hành tinh/Cùng
ngả nghiêng lăn lộn với muôn hình/Để gào thét một hơi
cho rởn ốc".
Quách Tấn đã nghe Hàn Mặc Tử kể lại những câu chuyện
liên quan đến các hình ảnh người gánh máu đi trên tuyết
và người ngồi khít cạnh tôi như sau: "Đêm ấy -
theo lời Tử kể - vì tiết sắp sang đông nên bãi biển
không một bóng người qua lại, mặc dù trời không lạnh
và trăng sáng như ban ngày. Đêm tạnh hết sức, tạnh đến
nỗi nghe cả tiếng chiêm bao! Cảnh trời thật mênh mông
bát ngát. Lòng tôi lại mênh mông bát ngát bằng hai...
Thân tôi chìm trong không gian vô tận và hồn tôi chìm
trong cõi lòng rộng vô biên. Tôi có một cảm giác ngờm
ngợp... Chợt nhìn lên trời thấy bóng trăng đã đứng đầu,
và nhìn bên cạnh thấy một bóng người ngồi sát. Liền
đó từ trong bóng người ngồi cạnh tôi, bước ra một bóng
người thứ hai, đi từ từ ra biển và bước lững thững trên
mặt nước... Rồi hai bóng đều biến mất và mặt biển đông
lại thành tuyết sáng ngời dưới bóng trăng khuya. Thoạt
hiện ra một người, thân vóc nở nang, mình khoác chiếc
áo lông, vai khoác hai thùng thiếc đựng đầy nước óng
ánh. Người ấy bước đi thì nước trong thùng tung ra và
hóa thành huyết đổ lã chã trên tuyết. Người gánh máu
đi lần vào bờ... Tôi khiếp quá hét lên thành tiếng,
vụt đứng dậy, chạy một mạch về nhà. Vừa đến nhà, mệt
quá, té nằm trước thềm, ngút hơi... Từ ấy cảnh tượng
kia ám ảnh tôi mãi...". Quách Tấn viết tiếp: "Tử
lại nói: Cảnh tượng người gánh máu đi trên tuyết khi
trông thấy thì rùng rợn hơn cảnh tượng người ngồi bên
cạnh tôi. Song về sau mỗi lần nghĩ lại, cảnh tượng người
ngồi bên cạnh lại gây một cảm giác rùng rợn hơn".
Đó là những trạng thái "xuất thần" mà hàng
mấy chục năm, tất cả những người nghiên cứu về thơ Hàn
Mặc Tử không ai lý giải được nguyên nhân, kể cả Quách
Tấn. Người ta chỉ cho rằng nó bật ra từ sự đau khổ nung
nấu mà Tử phải gánh chịu mà thôi.
Người em kế của Tử, sau nhiều năm lặng lẽ chiêm nghiệm,
đã công bố một kết luận vào năm 1991: "Trong quá
trình chung sống bên anh, tôi ghi nhận anh có hiện tượng
suy nhược tâm thần, bệnh đó đã được nhiều người bạn
tôi, chuyên khoa tâm lý sau này xác nhận là hiện tượng
"névrose", một chứng rối loạn thần kinh nào
đó, mà con người vẫn còn sáng suốt và rung cảm bén nhạy,
vẫn làm chủ được trí óc mình".
Nguyễn Bá Tín cho biết, có một tai nạn đã xảy ra đối
với Tử vào lúc nhỏ, có thể ảnh hưởng đến tâm thần chàng
về sau. Đó là lúc chàng khoảng 17-18 tuổi, suýt bị chết
đuối ở biển Quy Nhơn. Sau khi thoát chết, Tử trở nên
hoảng loạn khác thường. Từ đó chàng bỏ luôn thói quen
tắm biển, sợ nước, ít hoạt động, hình thể gầy nhỏ đi.
Nhiều biểu hiện làm cho gia đình sợ rằng Tử bị tâm thần,
nhưng sau đó thấy chàng bình thường, thậm chí còn tập
làm thơ nên cũng quên đi nỗi lo lắng.
Tuy nhiên với Tử thì khác. Chàng quả quyết rằng trong
cơn nguy biến đó, chàng đã được tận mắt thấy Đức Mẹ
hiện ra. Đó là giây phút mà chàng run sợ đến ớn lạnh
toàn thân. Sau này Tử đã sáng tác bài Ave Maria: "Cho
tôi dâng lời cảm tạ phò nguy/Cơn lâm lụy vừa trải qua
dưới thế/Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ/Giòng thao
thao bất tuyệt của nguồn thơ". Chi tiết này càng
củng cố cho nhận định của Nguyễn Bá Tín là đúng.
Hàn Mặc Tử
- nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 9: “Trường thơ loạn”
Từ
trái qua phải: Quách Tấn, Nguyễn Đình, Chế Lan Viên
năm 1941.
Những vần thơ Chế làm ra đã khiến Tử kinh ngạc. Đọc
thơ của Chế, Hàn Mặc Tử đã tìm ra được một hướng sáng
tác: những bài thơ điên loạn.Quy Nhơn - Bình Định là
vùng đất thiêng. Năm trăm năm trước, vùng đất này là
chiến trường đẫm máu. Một vương triều sụp đổ, bao nhiêu
chiến binh tử trận. Thành Đồ Bàn ngày nào còn lại một
dãy gò sỏi mênh mông với những tháp Chàm đổ nát. Từ
xưa, nhiều thi sĩ khi qua đây đã cảm xúc bật ra những
vần thơ thống thiết.
Vào những năm 1930 - 1945, Quy Nhơn - Bình Định bỗng
trở thành vùng đất cực thịnh của văn chương nghệ thuật.
Thật kỳ lạ, nơi đây tập trung toàn những thi sĩ tầm
cỡ. Thuở ấy, có cậu học trò nhút nhát thích làm thơ
tên là Phan Ngọc Hoan. Đắm mình trong không gian huyền
hoặc của cõi Đồ Bàn, Hoan đã đặt cho mình cái tên Chế
Lan Viên rồi khóc than người đã khuất bằng tập thơ Điêu
tàn với những câu thơ thật lạ lùng: "Đây, chiến
địa nơi đôi bên giao trận/Muôn cô hồn tử sĩ hét gầm
vang/Máu Chàm cuộn tháng ngày niềm oán hận/Xương Chàm
luôn rào rạt nỗi căm hờn".
Năm 1936, từ Sài Gòn trở lại Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử đã
gặp Chế Lan Viên. Chế tìm đến Tử như tìm đến một ông
thầy dạy làm thơ. Thế nhưng những vần thơ của Chế đã
khiến Tử kinh ngạc: "Chiều hôm nay bỗng nhiên ta
lạc bước/Vào nơi đây thế giới vạn cô hồn/Hơi người chết
tỏa đầy trong gió lướt/Tiếng máu kêu rung chuyển cỏ
xanh non/Trên một nấm mồ tàn ta nhặt được/Khớp xương
ma trắng tựa não cân người/Tủy đã cạn nhưng vẫn đầm
hơi ướt/Máu tuy khô còn đượm khí tanh hôi". Trước
đó, Hàn Mặc Tử đã nghiên cứu rất kỹ về trường phái thơ
tượng trưng của Pháp. Chàng mong muốn tạo ra một trường
phái thơ cho riêng mình. Giờ đây Chế đã làm lóe lên
trong đầu Tử cái mà lâu nay chàng đi tìm nhưng chưa
thấy. Trước đó, khi Yến Lan hoàn thành bản thảo tập
Giếng loạn, Tử đã mơ hồ nghĩ đến một thứ thơ "không
giống ai". Bây giờ đọc thơ của Chế, Hàn Mặc Tử
đã tìm ra được một hướng sáng tác: những bài thơ điên
loạn. Vì vậy ngay trong ngày Chế Lan Viên và Yến Lan
đem bản in đặc biệt của tập Điêu tàn đến cho chàng xem,
chàng hồ hởi công bố ngay việc thành lập “Trường thơ
loạn”.
Từ đó, dưới ngọn cờ của chủ soái Hàn Mặc Tử, các thành
viên trong “Trường thơ loạn” say sưa sáng tác. Có những
đêm cả bọn đem chăn màn ra bờ biển ở lại suốt đêm để
thả hồn theo những vần thơ kỳ dị. Thơ của các thi sĩ
“Trường thơ loạn tràn ngập trăng, hồn, máu, bóng ma,
sọ người, xương cốt, tinh tủy... Tất cả say sưa bước
chân vào cái thế giới rùng rợn đó. Nếu Hàn Mặc Tử thích
thú với hồn để viết "Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn
bút/Mỗi hồn thơ đều dính não cân ta/Bao nét chữ quay
cuồng như máu vọt/Như mê man chết điếng cả làn da"
thì Chế Lan Viên lại khoái... sọ người hơn: "Hỡi
chiếc sọ, ta vô cùng rồ dại/Muốn riết mi trong sức mạnh
tay ta/ Để những giọt máu đào còn đọng lại/Theo hồn
ta tuôn chảy những lời thơ/Ta muốn cắn mi ra từng mảnh
nhỏ/Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô".
Việc nhóm thơ Bình Định cho ra đời “Trường thơ loạn”
khiến văn thi hữu khắp nơi bàn tán xôn xao. Nhiều người
hoan nghênh nhưng cũng không ít người chê bai. Hoài
Thanh kể: "Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mặc
Tử nhiều lắm. Có người bảo: Hàn Mặc Tử thơ với thẩn
gì, toàn nói nhảm ! Có người còn nghiêm khắc hơn nữa:
Thơ gì mà rắc rối thế! Mình tưởng có ý nghĩa khuất khúc
gì, cứ đọc đi đọc lại hoài, thì ra nó lừa mình!".
Đặc biệt Xuân Diệu là người ghét cay ghét đắng những
vần thơ điên của Tử. Hoài Thanh kể tiếp: "Xuân
Diệu có lẽ cũng nghĩ đến Hàn Mặc Tử khi viết đoạn này:
Hãy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ những nhà chân
thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên
mà cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: Tôi điên đây!
Tôi điên đây! Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng
đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo như
thường mà yên lặng sống”.
Đúng là những vần thơ điên của các thi sĩ này đã gây
sốc cho nhiều người. Nhưng thật ra đó chỉ là một cách
giải quyết sự bế tắc trong tư tưởng của mình mà thôi.
Hàn Mặc Tử đã dẫn dắt các thi sĩ sáng tác khá nhiều
những vần thơ kỳ dị cho đến lúc chàng rời bỏ cuộc đời
vào năm 1941. Sang năm 1942, đến lượt Bích Khê cũng
vĩnh viễn ra đi. “Trường thơ loạn” từ đó tan rã.
(còn tiếp)
1. HAN
MAC TU I
2 HAN MAC TU II
|