| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Nguyễn
Gia Thiều - người đối thoại với bóng
Đỗ Lai Thúy
Bóng ơi mời bóng vào nhà,
Ngọn đèn khơi tỏ, đôi ta cùng ngồi .
Ngồi đây ta nói sự đời
Ta ngồi ta nói, bóng ngồi bóng nghe.
- Tản Đà -
Nguyễn Gia Thiều [1] làm các nhà nghiên cứu khiếp
phục [2] và lảng tránh. Ấy bởi thiên tài và những
mâu thuẫn trong tác phẩm của ông. Mâu thuẫn, dĩ
nhiên chưa hẳn đã phải là thiên tài, nhưng mọi thiên
tài hình như đều có bản chất mâu thuẫn. Vẫn đề là
đi tìm cái thống nhất đằng sau cái mâu thuẫn ấy.
Đọc Cung oán ngâm khúc, xưa nay, các nhà nghiên
cứu đều nói nhiều đến hai mâu thuẫn: một, giữa tác
giả và nhân vật, hai, giữa cuộc đời Nguyễn Gia Thiều
và triết lý sống của ông.
Cung oán ngâm khúc nói về cuộc đời một cung nữ,
từng được vua yêu chiều khi mới vào cung, sau bị
chán bỏ, sống trong tâm trạng buồn khổ, oán hận,
song vẫn không nguôi thoi thóp một hy vọng... Nguyễn
Gia Thiều đã cực tả tài năng và sắc đẹp của nàng.
Điều ấy không lạ, nhưng người ta quá ngán cái đứa
trẻ đành hanh lại để cho một cô gái khuê phòng đang
choai choai uống rượu giỏi hơn cả Lưu Linh và triết
lý về cuộc đời già như ông Bành tổ. Thế là người
ta phê phán Nguyễn Gia Thiều đã bỏ vai nhắc vở nhảy
ra sân khấu cướp diễn đàn, tạo thành một “hạt sạn”
khó nuốt cho Cung oán ngâm khúc. Ở đây, hẳn các
nhà phản ánh luận quên mất đặc trưng ước lệ của
thơ trung đại và thể loại ngâm khúc. Cung oán ngâm
khúc vốn nằm ở trong thể tài cung oán thi của văn
học trung đại Việt Nam và Trung Hoa. Thi nhân mượn
đời cung nữ để nói đời mình, “Tài tử với giai nhân
nợ sẵn” là vậy. Cô gái kia không chỉ là sự thác
lời của Nguyễn Gia Thiều, nên ông không cần vì người
cung nữ, một phân thân của ông, mà hy sinh chính
bản thân mình. Vả lại, làm như vậy không chứng tỏ
Nguyễn Gia Thiều kém tài, trái lại về mặt tâm lý
ông còn hơn cả Nguyễn Du và Đoàn Thị Điểm. Ông dám
vượt qua phép “biện chứng tâm hồn” của thứ tâm lý
học mặt phẳng để đến với những phi lý của tâm lý
học các bề sâu. Hơn nữa, ngâm khúc vẫn là thơ trữ
tình, chưa phải là một loại chuyện kể. Bởi vậy,
cái hạn sạn kia, từ một góc nhìn khác, biết đâu
lại chẳng như hạt cát dính vào da thịt con trai
biển để kết nên viên ngọc?
Điều mà Nguyễn Gia Thiều muốn mượn mồm cung nữ
là nỗi sầu nhân thế và triết lý bi quan của mình.
Đến đây, các nhà phản ánh luận lại thắc mắc, ở đâu
ra cái nhìn chán đời ấy trong cái con người già
đời sống trong nhung lụa ở phủ Chúa? Phải chăng
đó là thói không đau mà rên của đám ăn không ngồi
rồi? Ở đây, họ, những nhà phản ánh luận, cũng lại
quên mất rằng, thi nhân, xưa nay, vốn là kẻ khóc
mướn thương vay, không chỉ sáng tạo trên cái tiểu
sử xã hội của mình, mà, chủ yếu, trên cái phận người
phổ quát. Nếu, may hoặc không may, cái phận phổ
quát ấy lại ứng với người sáng tạo, thì sự rung
động kép sẽ tạo nên sự cộng hưởng nghệ thuật. Tác
phẩm có cơ neo được trên dòng nước bạc của thời
gian.
Là một người thuộc tầng lớp quý tộc, chứ không
phải nho sĩ thư lại, từ nhỏ Nguyễn Gia Thiều đã
sống trong phủ Chúa, được tận hưởng vinh hoa phú
quý. Lệ thường, sự thụ hưởng vật chất đến no đủ,
thừa mứa dễ trở thành chán ngán, thấy cuộc sống
vật chất là vô nghĩa, muốn đi tìm một đời sống tinh
thần. Nhất là với Nguyễn Gia Thiều, một người có
nhiều tài năng: âm nhạc, hội họa, kiến trúc.[3]
Hơn nữa, Nguyễn Gia Thiều lại xuất thân là quan
võ, thuộc đẳng cấp quan binh, một tầng lớp trong
lịch sử Việt Nam chỉ xuất hiện và giữ vai trò quan
trọng thời Lê - Trịnh, do sự suy tàn của đẳng cấp
nho sĩ thư lại. Nguyễn Gia Thiều đến với đạo Phật
bấy giờ đang hưng thịnh trở lại để tìm một triết
lý sống tưởng cũng là tất nhiên. Ông đã nhìn thấy
tính chất hư vô của cuộc đời. Cô đơn. Người nghệ
sĩ - triết gia này bèn lấy hoàn cảnh người cung
nữ -một nhân vật văn chương quen thuộc và, có thể,
một con người thực không lạ lẫm với Nguyễn Gia Thiều
- để trình bày những suy tưởng triết học của mình.
Người cung nữ, bởi vậy, chỉ là cái bóng của Nguyễn
Gia Thiều. Trong cô đơn ông tự dặt ra để đối thoại.
Nhà thơ Nga Lermontov, khi dịch một bài thơ của
Heine nói về một cây thông giống {đực} ở phương
bắc mơ về một cây cọ { giống cái } ở phương Nam
ấm áp, đã chuyển cây cọ thành cây sồi {cũng giống
đực}, biến bài thơ tình thành một bài thơ nói về
sự cô đơn. Cô đơn đến mức phải phân thân ra thành
một đối tưởng để mà mơ tưởng. Người thiếu phụ Nam
Xương trong nỗi lòng chinh phụ cũng đã chỉ bóng
mình để nói chuyện với con. Gần đây nhất, thi sĩ
Tản Đà trong cô đơn cũng đốt đèn lên nói chuyện
với bóng... Thế giới của Nguyễn Gia Thiều tràn ngập
những bóng: bóng dương {bóng người đàn ông, nhà
vua}: “Cái đêm hôm ấy hôm gì, Bóng dương lồng bóng
đồ mi trập trùng”, “Bóng dương bên ấy đứng trông
bên này”, bóng thỏ (mặt trăng): “chiều tịch mịch
đã gầy bóng thỏ”; bóng đèn: "Bóng đèn tà nguyệt
tẻ mùi ký sinh" “Mùi hương tịch mịch, bóng
đèn thâm u”; bóng nguyệt: “Khi bóng nguyệt chênh
vênh trước ốc”, bóng bội hoàn {đồ trang sức bằng
vàng ngọc }: “Bóng bội hoàn lấp ló trăng thanh”;
bóng huỳnh {đom đóm}: “Bên tường thấp thoáng bóng
huỳnh, Vách sương nghi ngút đèn xanh lờ mờ”; bóng
câu {bóng ngựa, bóng thời gian}: “Bóng câu thoáng
bên mành mấy nỗi, Những hương sầu phấn tủi bao xong”;
bóng râm: “Hang sâu chút hé mặt trời lại râm”; chiếc
bóng {chỉ người cung nữ}: “Trong cung quế âm thầm
chiếc bóng, Đêm năm canh trông ngóng lần lần”; bào
ảnh {bóng nước, bóng sáng }: “Sóng cồn cửa bể nhấp
nhô, Chiếc thuyền bào ảnh lô xô mặt ghềnh”; nhân
ảnh {bóng người}: “Ai đem nhân ảnh nhuốm mùi tà
dương”, “Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”... Một
thế giới chập chùng bóng. Bóng của Nguyễn Gia Thiều
đổ vào tác phẩm là người cung nữ; những chiếc bóng
của người cung nữ; bóng của những sự vật, đồ vật
soi chiếu vào nhau; bóng lồng bóng, bóng của bóng,
bóng bội nhân như trong chiếc nhà kính vạn gương,
tạo ra một ý niệm trùng phức về cái bóng. Đó là
chưa kể đến thi ảnh của bóng, cũng là một thứ bóng.
Có thể nói, trong Cung oán ngâm khúc cái bóng là
lăng kính của Nguyễn Gia Thiều, cái nhìn nghệ thuật
của ông.
Để hình thành chiếc bóng, cần có ba yếu tố: nguồn
sáng, hình và nền. Trong Cung oán ngâm khúc, nguồn
sáng là ngọn lửa, sinh khí của tác phẩm, hình là
con người và những vật thể của thế giới khách quan,
thế giới thực, nền là những vật thể có mặt phẳng,
là không gian nghệ của tác phẩm.
Nguồn sáng trong Cung oán ngâm khúc là những ngọn
lửa. Ngọn lửa cung cấp ánh sáng và nhiệt độ. ở đây,
ngọn lửa phong phú và đa dạng đến mức có thể làm
một “loại hình học” về ngọn lửa. Có ngọn lửa bên
ngoài và ngọn lửa bên trong. Ngọn lửa bên ngoài
lại có thể chia thành hai loại: ngọn lửa tự nhiên
và ngọn lửa nhân tạo. Ngọn lửa tự nhiên trước hết
là mặt trời {“Hang sâu chút hé mặt trời lại râm”},
ánh nắng {“Vườn thượng uyển hoa cười với nắng”,
“Góc vườn giãi nắng cầm bông hoa đào”}, mặt trăng
{“Chiều tịch mịch đã gầy bóng thỏ”, “ Nguyệt thu
kia chưa hé hàn quang”, “Cảnh hoa lạc nguyệt minh
dường ấy”...}, lửa đom đóm { “Bên tường thấp thoáng
bóng huỳnh”... Những ngọn lửa tự nhiên này xuất
hiện không phải ở thời điểm huy hoàng rực rỡ, mà
ở giai đoạn suy tàn, khi nó đã đi gần hết một chu
kỳ phát sáng. Đó là lúc mặt trời xế tây {“Lửa hoàng
hôn như cháy tấm son”, “ Quán thu phong đứng rũ
tà huy”}, còn mặt trăng, thì mọc ban ngày, nhợt
nhạt {“Chiều tịch mịch đã gầy bóng thỏ”}, hoặc trăng
lu trăng mờ, trăng tàn nguyệt {“Cảnh hoa lạc nguyệt
minh dường ấy”}, hoặc trăng mùa thu tỏa ra một thứ
hàn quang, ánh sáng lạnh {“Nguyệt thu kia chưa hé
hàn quang”}, ánh đom đóm cũng là ánh sáng lạnh của
chất lân tinh. Tóm lại, ngọn lửa tự nhiên xuất hiện
vào lúc ngày chưa hết và đêm chưa đến, mặt trời
chưa lặn mà mặt trăng đã mọc, nên ánh sáng yếu ớt.
Đó là không gian hàm hồ. Bóng xuất hiện không rõ
rệt, nhạt nhòa. Chúng tan biến vào nhau, nhòe nhoẹt
hình thù...
Trong khung cảnh đó thì ngọn lửa nhân tạo càng
thảm hại hơn: đèn {“vách sương nghi ngút đèn xanh
mờ mờ”, “Mùi hương tịch mịch bóng đèn thâm u”, “Chiều
tịch mịch đã gầy bóng thỏ, Vẻ tiêu tao lại võ hoa
đèn”}, đuốc {“Đuốc vương giả trí công là thế, chẳng
soi cho đến khóe âm nhai”}, lửa hương {Đốt phong
hương hả mà hơ áo tàn”}. Nói chung, nguồn sáng nhân
tạo ở đây cũng rất yếu ớt: đèn xanh mờ mờ, bóng
đèn thâm u, hương hả thì cháy kém, đuốc thì không
soi nổi một khoé âm nhai...
Ngọn lửa nhân tạo được nhắc đến nhiều nhất là đèn.
Đèn ở đây có thể là đèn dầu lạc, hoặc đèn cầy, tức
ngọn nến. Nếu tạo ra một quầng sáng hạn chế. Nến
là đốt mình ra thành lửa. Lửa càng cháy thì thân
thể nến càng ngắn dần đưa ngọn lửa đến chỗ tàn lụi.
Ngọn lửa nến làm ta nhớ đến ngọn lửa lòng của người
cung nữ. Đó là ngọn lửa của lòng yêu đời. Người
cung nữ trước khi nhập cung tin tưởng rằng tài sắc
của mình sẽ mang lại cho mình hạnh phúc. Sau khi
giấc mơ thành hiện thực thì ngọn lửa yêu đời đó
chuyển thành nỗi đam mê tình yêu và dục vọng. Ngọn
lửa tình yêu bùng cháy mãnh liệt tạo ra một sức
lan toả {ánh sáng và nhiệt độ} rất lớn làm cho Cung
oán ngâm khúc vốn thấm đẫm một thứ triết lý diệt
dục, lại có những câu thơ ám ảnh sắc dục nhất trong
văn học Việt Nam {“Cái đêm hôm ấy hôm gì? Bóng dương
lồng bóng đồ mi chập chùng, Chồi thược dược mơ mòng
thụy vũ, Đoá hải đường thức ngủ xuân tiêu”...}.
Lửa dục vọng là thứ lửa đốt cháy. Bởi vậy, khác
với tình trạng đun nóng, làm sôi sục lên của vật
thể lỏng, cơ thể người phụ nữ ở đây bị đốt cháy,
tự đốt cháy mình đến cùng cho đến khi thiêu rụi
hết chỉ còn tro than. Nhiều lúc không chịu đựng
nổi nàng muốn lấy nước, lấy triết lý diệt dục của
Phật giáo để dập tắt tình trạng đó: Nước dương muốn
rẩy nguội dần lửa duyên. Ngọn lửa lòng của người
cung nữ càng cháy mạnh mà không được đáp ứng, thoả
mãn, thì hình hài của nàng càng bị hao mòn: Ngọn
tâm hỏa đốt rầu nét liễu. Nhưng, trò đời, khác với
những thứ lửa khác, “lửa tâm càng dập càng nồng”...
Như vậy, trong Cung oán ngâm khúc, ngọn lửa bên
trong và ngọn lửa bên ngoài đối lập nhau. Trong
khi lửa thiên nhiên và lửa nhân tạo tàn tụi, làm
cho bóng loãng tan và biến mất vào đêm đen, thì
lửa lòng càng cháy tỏ. Như ngọn nến trong lòng đèn
kéo quân soi sáng và làm sinh động những hình thù
ở vách đêm, ngọn tâm hỏa trong người cung nữ vừa
làm nổi bật vừa tiêu hao hình nàng.
Hình là thế giới hiện thực khách quan, thế giới
của vật thể, mà trước hết là thân xác người cung
nữ: Trộm nhớ thủa gây hình tạo hoá, Vẻ phù du một
đoá khoe tươi. Đòi những kẻ thiên ma bách chiết,
Hình thì còn bụng chết đòi nau. Thế giới vật thể,
cũng như hình hài con người, đều bị chi phối bởi
sức mạnh tàn phai:
Hình mộc thạch vàng kim ố cổ
Sắc cầm ngư ủ vũ ê phong
Mộc - chỉ các loại cây nói chung, thạch chỉ các
loại đá, ở đây là núi: cây núi là vũ trụ vô tri;
cầm - chỉ các loại biết bay trên mặt đất, mặt nước
và bầu trời, ngư chỉ các loài biết bơi dưới nước:
chim cá là vũ trụ hữu tri. Cả hai loại vũ trụ này
đều bị phôi phai, tàn lụi.
Cho nên :
- Phong trần đến cả sơn khê,
Tang thương đến cả hoa kia cỏ này.
- Tiêu điều nhân sự đã xong
Sơn hà cũng ảo, côn trùng cũng hư.
Lệ thường, hình nhờ có nguồn sáng mà tạo ra bóng.
Hình chi phối bóng. Hình bóng có liên quan như vậy
nên người ta có tìm hiểu qua bóng. Tìm hiểu người
cung nữ qua bóng của nàng. Điều này đặc biệt có
ý nghĩa trong những thế giới bất bình thường, thế
giới bị đảo ngược, ở đó chiếc bóng có một sự tồn
tại độc lập. Đó là thế giới của Cung oán ngâm khúc,
thế giới của một tâm tình buồn quạnh vắng trong
một lề lối sinh họat mỏi mòn, rũ rượi.
Yếu tố cuối cùng để tạo ra bóng, bóng của người
cung nữ, sau khi đã có nguồn sáng và hình, là nền
. Cái bóng chỉ xuất hiện và họat động trên một cái
nền nào đó. Trong Cung oán ngâm khúc, cái nền này
trước hết là bức tường, bức vách: “Bên tường thấp
thoàng bóng huỳnh”, “Vách sương nghi ngút đèn xanh
mờ mờ ...”. Những chiều cô đơn này ngồi một mình
một bóng bất động trên vách. Những đêm cô đơn này
thơ thẩn trong phòng, bóng nàng vật vờ trên vách
{“Đêm năm canh lần nương vách quế”}. Vách như tấm
gương phản chiếu vào tâm hồn nàng: Chả thế mà mở
đầu Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều đã viết:
“Trải vách quế gió vàng hiu hắt”!
Một cái nền khác, mang tính không gian ba chiều,
như màn ảnh nổi, là hậu cung nơi nàng cung nữ đang
sông như một chiếc bóng: Trong cung quế âm thầm
chiếc bóng! Đây là không gian giam nhốt nàng. Hình
ảnh thâm cung trong tâm trí nàng là hình ảnh của
một chiếc hang, - nấm mồ {hang sâu, âm nhai} nơi
ít có ánh sáng mặt trời soi đến, nơi có ít ánh lửa
mang lại nguồn sống cho nàng: Thâm cung cũng là
biểu tượng nội tâm của người cung nữ. Một cõi lòng
u uẩn và nhiều khát khao, nhưng cũng ít được người
khác biết đến, hoặc có biết thì cũng làm lơ:
- Hang sâu chút hé mặt trời lại râm.
- Đuốc vương giả chí công là thế
Chẳng soi cho đến khóe âm nhai.
Cho nên đây là một không gian cô đơn, vắng lặng
và lạnh lẽo :
- Thâm khuê lặng ngắt như tờ
Cửa châu gió lọt rèm ngà sương gieo.
- Huống chi cũng lạm phần son phấn
Luống năm năm chực phận buồng không..
- Ai ngờ tiếng dế ran ri rỉ
Giọng bi thu gọi kẻ cô phòng.
Không gian của gian phòng, của thâm cung được phóng
chiếu vào không gian vũ trụ, tạo thành một cái nền
lớn cho bóng họat động. Đó là nền trời tà huy, là
không gian lúc tranh tối tranh sáng .Và sau đó là
đêm, lúc không gian vũ trụ nhập vào không gian riêng
tư của nhân vật: vũ trụ thu lại trong quầng sáng
của ngọn đèn và nàng còn lại một mình với bóng.
(Còn nữa)
(c) eVăn 2004
Các bài viết khác của Đỗ Lai Thúy:
Phê bình văn học là gì?
Phân tâm học và phê bình văn học ở Việt Nam
___________________
Chú thích:
[1] Nguyễn Gia Thiều sinh ngày 5 tháng 2 năm Tân
Dậu, tức ngày 22 tháng 3 năm 1741, mất ngày 9 tháng
Năm Mậu Ngọ tức 22 tháng 6 năm 1798, thọ 57 tuổi
,quê ở làng Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, huyện Siêu
Loại, phủ Thuận Thành, xứ Kinh Bắc, nay là thôn
Liễu Ngạn,Thuận Thành, Bắc Ninh .
Ông nội Nguyễn Gia Thiều là Nguyễn Gia Châu một
võ quan mà thông kinh sử được phong tước công. Thân
sinh là Nguyễn Gia Ngô ,cũng là một võ quan ,được
phong tước hầu. Ông là người học rộng ,sành thơ
quốc âm, tính tình phóng khoáng ,giao du rộng. Ông
là người có nhiều con. Bốn người con đầu của Nguyễn
Gia Ngô đều giỏi văn, có một tác phẩm chung là Tứ
trai thi tập, gồm sáng tác của Tâm Trai {tức Nguyễn
Gia Thiều}, Kỷ Trai {Nguyễn Gia Cơ}, Hoà Trai {Nguyễn
Gia Diễm và Thanh Trai {Nguyễn Gia Chu}.
[2] Nguyễn Gia Thiều, theo Nguyễn Lộc, có sự hiểu
biết sâu rộng về văn học, sử học và triết học. Ngoài
ra, ông còn tinh thông nhiều môn nghệ thuật khác
nữa. Chẳng hạn như về âm nhạc là tác giả của Sơn
trung âm và Sở điện từ ,về hội hoạ có bức tranh
lớn Tống sơn đồ ,vvề kiến trúc ông trông coi việc
trang hoàng phủ Chúa và xây tháp trên chùa Tiên
tích... Tiếc rằng những công trình ngệ thuật ấy
đến nay không còn lưu lại. Ngay cả hàng ngàn bài
thơ chữ Hán của ông trong hai tập Ôn như thi tập
cũng chẳng còn. Thơ nôm chỉ còn lại hai bài là Cảnh
trong vườn và Miếng tình.
- Lởm chởm gừng vài khóm
Lơ thơ tỏi mấy hàng
Vẻ chi tèo teo cảnh
Thế mà cũng tang thương.
- Khạc chẳng ra cho, nuốt chẳng vào .
Miếng tình nghẹn lắm biết làm sao.
Muốn kêu một tiếng cho to lắm,
Rằng ối ai ôi, nó thế nào

|