| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

CUNG
OÁN NGÂM KHÚC
CẦN TRẢ LẠI GIÁ TRỊ
NGHỆ THUẬT ĐÍCH THỰC CHO KIỆT TÁC "CUNG OÁN
NGÂM KHÚC"
Trần Mạnh Hảo
Trong bộ
giáo trình khá đồ sộ, khá công phu gồm hai tập,
với gần một nghìn trang sách của Phó Giáo Sư Nguyễn
Lộc : " Văn học Việt Nam - nửa cuối thế kỷ
thứ XVIII, nửa đầu thế kỷ thứ XIX", do NXB
Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp tái bản 1992,
trong đó có chương thứ hai "Cung oán ngâm khúc",
từ trang 283 đến trang 316 còn khá nhiều điều bất
cập, nhiều nhận xét và đánh giá chưa tương xứng
với giá trị đích thực của thi phẩm lớn lao trên
( Bộ giáo trình này lại vừa được tái bản năm 1999
). Chúng tôi viết bài này nhằm trao đổi với PGS
Nguyễn Lộc về chương thứ hai "Cung oán ngâm
khúc". Còn một số chương khác trong XII chương
của bộ giáo trình trên ví như những chương viết
về "Chinh phụ ngâm", "Truyện Kiều",
Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát... chúng
tôi sẽ có bài phê bình trong một dịp khác.
Với "Cung oán ngâm khúc", quả tình Nguyễn
Gia Thiều phần nào có bị ảnh hưởng tinh thần và
cảm hứng nghệ thuật nơi bản Việt ngữ "Chinh
Phụ ngâm" của Đoàn Thị Điểm dịch từ Hán tự
của Đặng Trần Côn. Cũng như sau này, chúng ta tìm
thấy một phần ảnh hưởng của hơi thơ lục bát Đoàn
Thị Điểm và nhất là của Nguyễn Gia Thiều trong "Truyện
Kiều " của Nguyễn Du, góp phần đưa thể thơ
này tới tuyệt đỉnh nghệ thuật. Đoàn Thị Điểm phải
thông qua bản chữ Hán của Đặng tiên sinh mới có
tuyệt tác song thất lục bát. Nguyễn Du phải thông
qua cốt truyện của Thanh Tâm tài nhân bên Trung
Quốc mới có được hồn Việt ngữ diệu kỳ của đại kiệt
tác "Truyện Kiều". Nguyễn Gia Thiều không
cần thông qua một môi giới Trung Hoa nào cả, ông
tự sáng tác ra 356 câu thơ song thất lục bát tuyệt
vời bằng chữ Nôm. Đấy là một ưu thế, một nét nổi
trội rất đáng ghi nhận của Nguyễn Gia Thiều so với
Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Du. Nguyễn Gia Thiều qua
"Cung oán ngâm khúc " với nghệ thuật cung
đình, nghệ thuật quý tộc tột đỉnh, rất đài các,
hàn lâm kiểu "Trải vách quế gió vàng hiu hắt",
lại nâu sồng dân dã tựa "Lau nhau ríu rít cò
con cũng tình", đã làm một bước đột phá từ
tâm thức Hán, thi pháp Hán sang tâm thức Nôm, thi
pháp Nôm. Đấy là công đầu, công khai mở lớn nhất
của Nguyễn Gia Thiều với quá trình phát triển của
nghệ thuật thi ca Việt Nam.
Trong bài viết của mình, Nguyễn Lộc đã phần nào
nhìn nhận giá trị nội dung và "nghệ thuật bậc
thầy" của "Cung oán ngâm khúc". Tác
giả cũng nhận ra giá trị hiện thực và nhân đạo trong
nội dung, cũng như giá trị của nghệ thuật quý tộc
đặc trưng phong kiến nơi khúc ngâm này, điều mà
một số nhà nghiên cứu trước ông từng đặt ra. Tác
giả nhấn mạnh đến ý nghĩa nhận thức của thi phẩm,
thông qua việc tố cáo chế độ phong kiến tàn bạo,
cũng như lòng thương cảm, xót xa của Nguyễn Gia
Thiều trước số phận hẩm hiu, đau xót của người cung
nữ, một tiếng kêu đòi quyền sống, quyền ân ái. Tuy
nhiên, Nguyễn Lộc còn khá nhiều đánh giá, kết luận,
theo chúng tôi là chưa thoả đáng, chủ quan, áp đặt,
thiếu nhãn quan lịch sử tối thiểu mà một nhà nghiên
cứu văn học nhất thiết phải có. Chúng tôi xin trích
một số trong những đánh giá áp đặt của ông:
..."...Những kết luận của nhà thơ không chính
xác, không có ý nghĩa tích cực. Quan niệm về cuộc
đời của Nguyễn Gia Thiều phát biểu trong "Cung
oán ngâm khúc" là sự tập hợp những yếu tố tiêu
cực nhất trong tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo
và Đạo giáo. Đó là thứ tư tưởng thường thấy ở giai
cấp phong kiến thống trị trong thời kỳ suy tàn.
Nhưng xét cho kỹ, phải nói những triết lý tiêu cực,
thậm chí có thể là phản động nữa, ở Nguyễn Gia Thiều
không phải là cứu cánh của nhà thơ..."(297)...."Nếu
gạt đi phần sai lầm trong nhận thức chủ quan của
nhà thơ, "Cung oán ngâm khúc" vẫn cho
ta một ý niệm chân thực, sâu sắc về sự sụp đổ không
phương cứu chữa của xã hội phong kiến lúc bấy giờ.
Đấy là phần còn lại, phần giá trị nhận thức trong
quan niệm về cuộc đời của Nguyễn Gia Thiều trong
"Cung oán ngâm khúc" "(298)...Có
thật "Những kết luận của nhà thơ không chính
xác, không có ý nghĩa tích cực. Quan niệm về cuộc
đời của Nguyễn Gia Thiều phát biểu trong "Cung
oán ngâm khúc " là tập hợp những yếu tố tiêu
cực nhất của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Đó
là thứ tư tưởng thường thấy ở giai cấp phong kiến
thống trị trong thời kỳ suy tàn " như Nguyễn
Lộc kết luận trên ư ? Dù có rào trước đón sau, nhưng
những kết luận áp đặt trên của Nguyễn Lộc với kiệt
tác "Cung oán ngâm khúc" quả tình không
thể chấp nhận. Nếu chỉ bằng kiểu phê bình xã hội
học cực đoan như trên của Nguyễn Lộc thì ngay cả
Đặng Trần Côn-Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Trãi, Nguyễn
Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát...những
con người từng bị chi phối bởitư tưởng tam giáo,
chắc thảy họ đều kết luận không chính xác, chắc
đều "không có ý nghĩa tích cực", đều "tập
hợp những yếu tố tiêu cực nhất" như tác giả
áp đặt trên trước tác của Ôn Như hầu ? Ngay ở chỗ
rốt ráo này, Nguyễn Lộc đã thiếu nhãn quan duy vật
lịch sử, nên mới lấy những tiêu chí, những hệ quy
chiếu đương thời để áp đặt lên tác phẩm văn học
của thời đại trước. Thực ra, trong "Cung oán
ngâm khúc", ngoài một vài yếu tố tiêu cực như
yếm thế, thậm chí có chút hư vô, ta còn tìm ra rất
nhiều mặt tích cực trong chính tư tưởng nghệ thuật
của tác phẩm như lòng thiết tha yêu đời, như tinh
thần phản kháng "muốn đạp đổ tiêu phòng mà
ra", đạp đổ những tù hãm của thời đại tìm đến
tự do, vươn tới sự giải thoát toàn diện của tinh
thần Phật, Lão. Chúng tôi rất lấy làm lạ lùng khi
PGS Nguyễn Lộc, một người được coi là chuyên gia
có hạng về văn học cổ Việt Nam trên bục giảng đường
đại học trên ba mươi năm nay, lại tỏ ra không hiểu
nổi từng câu thơ cụ thể trong kiệt tác "Cung
oán ngâm khúc". Một phần những câu thơ trong
khúc ngâm của Ôn Như hầu này khi được dẫn ra trong
bài viết, đều bị tác giả giảng giải, chú dẫn chưa
đúng với tinh thần câu thơ. Chúng tôi xin dẫn một
số thí dụ làm bằng.
Đây là một đoạn phân tích thơ của Nguyễn Lộc :"Nguyễn
Gia Thiều khai thác hình tượng theo cái nghĩa đen
tối nhất của nó. Tiếng khóc chào đời của trẻ thơ
đối với ông là tiếng khóc đưa ma cuộc đời:"
Thảo nào khi mới chôn nhau / Đã mang tiếng khóc
ban đầu mà ra / Khóc vì nỗi thiết tha sự thế ..."(294).
Trời ơi, những câu thơ kiệt xuất trên lại được phân
tích thành "Tiếng khóc chào đơi của trẻ thơ
đối với ông là tiếng khóc đưa ma cuộc đời"
như thế thì làm sao tiếp nhận được thi pháp thơ
cổ Việt Nam "thi tại ngôn ngoại", nói
vậy không phải vậy. Nghĩa đen câu thơ đã hiện rõ
như ban ngày, rằng vì cuộc đời bể khổ, thảo nào
khi mới sinh ra, đứa trẻ đã khóc lên chào đời, chứ
nào phải "khóc đưa ma cuộc đời" như Nguyễn
Lộc phân tích. Tiếng khóc của con người có thể được
biểu lộ ở nhiều trạng thái tình cảm trái ngược.
Đau khổ mà khóc. Đến khi đau khổ quá không còn khóc
nổi thì lặng im. Hạnh phúc quá, sung sướng quá cũng
bật khóc. Nguyễn Công Trứ từng viết :" Khi
vui muốn khóc buồn tênh lại cười " đó sao ?
Tiếng khóc chào đời của đứa trẻ trong câu thơ Ôn
Như hầu kia bao hàm cả hai yếu tố tình cảm đó, vừa
sợ quá, thấy đời khổ quá, vừa sung sướng quá vì
được làm người mà khóc thét lên như muốn báo hiệu
rằng ta đã xuất hiện như một tồn tại không thể phủ
nhận. Nhưng trong nghĩa bóng câu thơ này, chính
Nguyễn Gia Thiều đã hướng ta vào ý nghĩa hạnh phúc
quá, sung sướng quá mà khóc lên vì :"Khóc vì
nỗi thiết tha sự thế ". Nỗi "thiết tha
sự thế" chính là nỗi niềm xuyên suốt kiệt tác
này, sao Nguyễn Lộc có thể giải thích thành "Tiếng
khóc đưa ma cuộc đời" như vậy được ?
Xin hãy nghe PGS Nguyễn Lộc giải thích rất sai
những câu thơ khác của "Cung oán ngâm khúc
" bằng cách chê Nguyễn Gia Thiều không nắm
được tâm lý nhân vật như sau :"Hoặc kiêu căng
về nhan sắc mà nói một cách trắng trợn :" Bóng
gương thấp thoáng trong mành / Cỏ cây cũng muốn
nổi tình mây mưa " thì không thể là cách kiêu
căng của phụ nữ trong xã hội phong kiến, mà chỉ
có thể là cách nói của những người đàn ông thuộc
giai cấp bóc lột trong thời kỳ suy tàn. Ngay cái
ý nghĩ bực bội muốn thoát khỏi cảnh cung cấm của
người cung nữ mà diễn tả là :"Dang tay muốn
dứt tơ hồng / Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra
"...thì không phải chỉ cái thế của câu thơ,
mà ngay cái cử chỉ ấy, đúng như có nhà nghiên cứu
nhận xét, nó phù hợp với một võ tướng ( như Nguyễn
Gia Thiều) hơn là với người cung nữ chân yếu tay
mềm "(292-293). Phàm những cung tần mỹ nữ được
tuyển vào cung, không ai là người không tự cho mình
đẹp nhất, nên khi Nguyễn Gia Thiều viết ra lời tự
kiêu của người cung nữ như sau là rất đúng với tâm
lý nhân vật :" Bóng gương thấp thoáng trong
mành / Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa",
sao Nguyễn Lộc lại chê Nguyễn Gia Thiều "là
cách nói của những người đàn ông thuộc giai cấp
bóc lột trong thời kỳ suy tàn" như vậy được
? Câu thơ "Dang tay muốn dứt tơ hồng / Bực
mình muốn đạp tiêu phòng mà ra" là câu thơ
hay nhất của "Cung oán ngâm khúc " tả
khát vọng tự do, muốn đạp đổ ngục tù "tiêu
phòng", "vách quế" của thời đại phong
kiến của cung nữ và của nhà thơ, biểu hiện tinh
thần phản kháng, căm hận tộc cùng của con người
trước thực tại buồn đau, rất hợp với tâm lý nhân
vật. Hẳn chúng ta còn nhớ trong sử Trung Hoa có
chép chuyện một số cung nữ đã nổi dậy giết vua Gia
Tĩnh triều Minh nhưng không thành đó sao ? Việc
Nguyễn Gia Thiều phổ nỗi phẫn uất, muốn đạp tung
chế độ "cung nữ " tàn bạo vào câu thơ
kia là rất đúng tâm lý nhân vật, sao Nguyễn Lộc
lại cho rằng tinh thần câu thơ đó chỉ có trong viên
võ tướng ? Một thí dụ khác về việc lời bình một
nẻo, câu thơ được bình một nẻo khi Nguyễn Lộc bình
những câu thơ này như sau :" thê thảm vất vưởng
như bóng ma không hồn :" Đất bằng bỗng rấp
chông gai / Ai đem nhân ảnh nhuốm màu tà dương"(
tác giả trích sai câu thơ khi chữ "mùi tà dương"
lại chép thành màu tà dương)..."và vô nghĩa
vô vị đến cùng cực :"Cái quay búng sẵn trên
trời / Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm "(295).
Trước hết, chúng ta thấy Nguyễn Lộc hiểu sai cả
nghĩa đen câu thơ :"Đất bằng bỗng rấp chông
gai / Ai đem nhân ảnh nhuốm màu tà dương" thành
"thê thảm, vất vưởng như bóng ma không hồn
" như thế ? Câu lục bát vào hàng tuyệt tác
của thi ca Việt Nam trong "Cung oán ngâm khúc
" :" Cái quay búng sẵn trên trời / Mờ
mờ nhân ảnh như người đi đêm" ngoài triết lý
Phật giáo ra còn là triết lý, là tâm lý, thiên lý
của đời sống con người, rất đa nghĩa, đa thanh như
thế chứ nào phải "vô nghĩa, vô vị đến cùng
cực " như Nguyễn Lộc giải thích ?
Khi trích thơ Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Lộc lại
dẫn giải khá sai lạc tinh thần khổ thơ như sau :"
Nhà thơ khi thì hậm hực, khó chịu : "Cuộc thành
bại hầu cằn mái tóc / Lớp cùng thông như đúc buồng
gan / Bệnh trần đòi đoạn tâm can / Lửa cơ đốt ruột
, dao hàn cắt da "(296). Nguyễn Gia Thiều phát
hiện ra quy luật cuộc đời bằng cảm xúc thi ca chứ
nào ông có "hậm hực, khó chịu" gì đâu
? Cũng như thế, nhà thơ hỏi để ngầm trả lời ngay
sau đó rằng cũng chỉ tại cơ trời, tại tạo hóa bày
ra cả thôi, chứ nào Nguyễn Gia Thiều có " hốt
hoảng" gì đâu mà Nguyễn Lộc lại viết như sau
:" ...lúc lại hốt hoảng, kêu lên :" -
Ai bày trò bãi bể nương dâu ? - Ai đem nhân ảnh
nhuốm mùi tà dương ? "(296)...Có khi Nguyễn
Lộc không hiểu được tâm cảnh câu thơ Nguyễn Gia
Thiều, không hiểu nổi tâm lý người cung nữ với muôn
nghìn thực hư, ảo vọng được đẩy lên tột cùng ám
ảnh dồn nén trong cả nỗi hạnh phúc mong manh , nên
vị PGS đã trách người cung nữ, cũng là trách cứ
nghệ thuật thể hiện của nhà thơ như sau :"
Có lúc người cung nữ lại tỏ ra thỏa mãn và sự thỏa
mãn quá đáng nhiều kkhi hóa thành lố lăng, kệch
cỡm :"Dẫu mà tay có nghìn vàng / Đố ai mua
được một tràng mộng xuân "(299)...v.v...
Chính vì chưa tiếp nhận được từng câu thơ cụ thể
của kiệt tác này, lên PGS Nguyễn Lộc, dù có lúc
ca ngợi nghệ thuật "Cung oán ngâm khúc"
"là một nghệ thuật bậc thầy"(310), lại
dành cho nhà thơ quá nhiều đoạn chê bai cùng tận
như thế này được : "Vả lại, nhận thức của người
cung nữ về cuộc đời làm sao giống với nhận thức
của Nguyễn Gia Thiều, một con người học vấn uyên
bác, nhiều từng trải, nhiều suy nghĩ ? Vậy mà nhà
thơ muốn tất cả phải thống nhất lại trong một hình
tượng duy nhất. Kết quả là hình tượng người cung
nữ của ông thiếu tính nhất quán và kết cấu tác phẩm
của ông có chỗ lỏng lẻo, xộc xệch."(291) "Nguyễn
Gia Thiều thiếu khách quan và nhất quán trong khi
biểu hiện tâm trạng nhân vật. Trong "Cung oán
ngâm khúc" khi thì người cung nữ trực tiếp
bộc lộ tâm sự của mình, khi thì có vẻ như tác giả
đứng ra miêu tả. Điều đó hạn chế khả năng rung cảm
của hình tượng văn học "(293). " Nguyễn
Gia Thiều muốn gửi gắm tâm sự của mình nhiều quá,
cho nên nhiều khi ông đem tâm lý cá nhân thay thế
cho tâm trạng của nhân vật. Làm gì người cung nữ
dưới thời Lê Trịnh, hay bất cứ một thời đại nào
khác lại có cái hợm hĩnh, kiêu căng như người cung
nữ của Nguyễn Gia Thiều ?"( 292). " Không
ai là không phục cái tài của nhà thơ, nhưng ai cũng
thấy mệt mỏi vì một sự bão hòa, thừa thãi "(313)."Một
lối kết cấu đăng đối quá chặt chẽ như vậy, lại được
sử dụng một cách phổ biến , tất yếu sẽ gây ra ấn
tượng nặng nề "(308)." Có điều khác với
Hồ Xuân Hương, nghệ thuật biểu hiện bằng cảm giác
của bà lành mạnh, khỏe khoắn. Còn ở Nguyễn Gia Thiều
nghệ thuật biểu hiện bằng cảm giác phần nào có thiên
hướng nhục cảm"(316). Những kết luận có phần
phủ nhận nghệ thuật trác việt của "Cung oán
ngâm khúc" như trên của PGS Nguyễn Lộc quả
tình chỉ là những áp đặt chủ quan do chưa nắm được
tinh thần của kiệt tác trên,thể hiện việc hiểu chưa
chính xác một số câu thơ như đã dẫn.
Chúng ta vừa kỷ niệm hai trăm năm ngày mất của
thi hào Nguyễn Gia Thiều,người đã đóng góp cho kho
tàng văn học Việt Nam một kiệt tác vô giá, có thể
sánh ngang với các thi hào bậc nhất của dân tộc.
Do vậy, việc khôi phục lại giá trị đích thực của
"Cung oán ngâm khúc" trong nhà trường
từ bậc phổ thông tới đại học là việc làm cần kíp
lắm thay.PGS Nguyễn Lộc quả tình đã viết một giáo
trình chưa xứng đáng với việc giảng dạy một kiệt
tác như trên nơi giảng đường đại học. Chúng tôi
hoàn toàn không tán thành quan điểm của ông khi
đánh giá "Cung oán ngâm khúc " như sau
:" Người ta chiêm ngưỡng nó mà không ham thích
nó"(306). Không có sự "ham thích",
say mê, không thể có văn học. Bởi cái đẹp cuốn hút
người ta trước hết và sau cùng là sự "ham thích"
vậy. "Cung oán ngâm khúc" một giá trị
vĩnh hằng của cái đẹp nghệ thuật mãi mãi sẽ còn
được các thế hệ Việt Nam không chỉ "chiêm ngưỡng",
mà say mê, "ham thích" như từng"ham
thích" truyện Kiều, "Chinh phụ ngâm"
vậy.,.

|