|  VƯỜN
HỒNG

Đông
Hồ - thi sĩ yêu nước, nhà giáo ‘chết’ vì thơ
Thiên
nhiên Hà Tiên - quê hương thi sĩ Đông Hồ (Ảnh TL)
(CAO) Xưa nay trong lịch sử thi ca việc lấy bút
danh từ địa danh nơi chôn nhau cắt rốn của mình
như Nguyễn Khắc Hiếu (1888-1939) lấy hình ảnh núi
Tản sông Đà làm bút danh Tản Đà cho đến hậu sinh
Lâm Tấn Phác (1906-1969) lấy bút danh Đông Hồ từ
con sông Đông Hồ ấn nguyệt... cũng là vì tấm lòng
yêu quê hương, đất nước.
Đông Hồ cũng như những nhà Nho sinh vào thời ly
loạn, ông giỏi tiếng Pháp, tiếng Hán nhưng tự học
tiếng Việt và chủ trương dạy tiếng Việt. Ý thức
hệ trong tâm hồn nhà Nho không ‘thủ cựu’ mà trái
lại rất ‘nghinh tân’ càng làm cho hậu thế ghi nhớ
về mình đấy là thành công lớn.
Vài nét về tiểu sử
Theo nhiều tư liệu ghi lại: Đông Hồ sinh năm Bính
Ngọ (1906) tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên. Họ Lâm,
nhũ danh là Kỳ Phác (bộ ngọc), hộ tịch chép là Tấn
Phác (Biện Hoà Tấn Phác), ông bác đặc tiểu tự là
Quốc Tỉ (Truyền gốc ngọc tỉ) sau đổi là Trác Chi
(Hữu phác ngọc, nghi sử ngọc nhân điêu trác chí).
Vì tổ tiên mấy đời đều ở ven Đông Hồ ấn nguyệt,
một thắng cảnh trong Hà Tiên thập cảnh, nên khi
bắt đầu biêt' làm thơ đã lấy hiệu Đông Hồ. Rồi "dĩ
hiệu hành", nghĩa là đời biết tên hiệu đó hơn,
không cần biết tên thiệt nữa.
Sau năm quốc biến 1945, dời nhà lên ở Sài Gòn,
lại có biệt hiệu là Thủy Cổ Nguyệt (chiết tự chữ
hồ), là Đại Ẩn Am (Đại ẩn ẩn thành thị) Vì sinh
trưởng ở nơi cùng tịch, nên chữ Pháp, chữ Hán đều
được học rất ít. Chỉ chuyên tự học tiếng Việt mà
thành văn, thi tài.
Có tiếng là từ năm 1923 đến năm 1933, viết cho
tạp chí Nam Phong xuất bản ở Hà Nội. Trong đó, làm
văn nhiều hơn làm thơ. Năm 1935, nghỉ viết báo Nam
Phong, chủ trương tuần báo Sống, tự lực xuất bản
ở Sài Gòn. Năm 1953, giám đốc Nhân Loại tập san,
xuất bản ở Sài Gòn, để làm cơ quan cho nhà xuất
bản Bốn Phương và nhà Sách Yiểm Yểm thư trang sáng
lập từ năm 1950.
Thành tích văn hóa đáng chú ý là từ năm 1926 đến
năm 1934 mở nhà nghĩa học trên bờ Đông Hồ lấy tên
là "Trí Đức học xá", chủ trương chuyên
dạy bằng tiếng Việt, cổ động khuyến khích cho học
trò và bè bạn tin tưởng ở tương lai Việt ngữ.
Đã xuất bản
Thơ Đông Hồ (Nam Ký thư quán Hà Nội, 1932).
Linh Phượng, tức Trác Chi Lệ Ký tập (Nam Ký thư
quán Hà Nội, 1934).
Cô Gái Xuân, thơ (Vị Giang văn khố Nam Định, 1935).
Những lỗi thường lầm trong sự học Quốc Văn, biên
soạn chung với Trúc Hà (Trí Đức học xá, 1936).
Hà Tiên thập cảnh (Bốn Phương Sài Gòn, 1960). Trinh
Trắng thơ (Bốn Phương, 1961).
Vì rằng yêu mến tính cách tài hoa cũng như lòng
yêu nước thể hiện qua tấm lòng trân trọng tiếng
mẹ đẻ, chúng tôi càng yêu quý ông hơn. Nhân kỷ niệm
100 năm ngày sinh (10-3-1906 – 10-3-2006), chúng
tôi xin lược trích một vài trang viết về cuộc đời
và sự nghiệp cũng như cái chết chứa nhiều bí ẩn
của ông, ngỏ hầu hiểu thêm một thi sĩ sống trong
buổi giao thời giữa quá khứ và hiện tại vẫn giữ
cốt cách Á Đông rất Việt Nam.
Theo Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại” nhìn
nhận riêng về sáng tác Đông Hồ: “Phần nhiều thơ
Đông Hồ kém phần đặc sắc nếu đem so với thơ của
những thi gia Nam Kỳ như Phan Văn Trị, Tôn Thọ Tường.
Giọng thơ Đông Hồ chẳng khác nào giọng những thơ
của người Bắc đăng trong mục “Văn Uyển” của tạp
chí Nam Phong hồi xưa, nghĩa là không có cái gì
hỏng mà cũng không có cái gì hay cho lắm”. Đánh
giá ấy xét cho cùng Vũ Ngọc Phan nhằm định lượng
lại những sự đổi mới trong thơ: “Đông Hồ đã chịu
ảnh hưởng thơ mới về đường tả thực, nhưng ông còn
giữ được cái giọng thanh tao của lối thơ cũ. Đó
cũng là điều đặc sắc vậy”.
Những trang viết luận về Đồng Hồ sau này nêu bật
hơn giá trị thơ ca cũng như lòng yêu nước của ông
qua lòng yêu tiếng mẹ đẻ.
Hoài Thanh-Hoài Chân trong “Thi nhân Việt Nam”
đã luận: “yêu quốc văn mà đến như Đông Hồ kể cũng
ít. Thất học từ năm mười lăm, mười sáu; từ đó người
chỉ chuyên học quốc văn, viết quốc văn, rồi mở trường
chuyên dạy quốc văn. Cả những lúc người đai cơm
bầu nước cùng học trò đi chơi các vùng thắng cảnh
đất Phương thành, các đảo dữ miền duyên hải, tôi
tưởng cũng chỉ vì quốc văn: người đi tìm cảm hứng
vậy”.
Nhận xét về tập thơ “Cô gái xuân”, Hoài Thanh đã
trích dẫn bốn bài: “Cô gái xuân, Mua áo, Tuổi xuân
và Bốn cái hôn rồi hạ bút: “Từ nay, Đông Hồ sẽ chỉ
ca tình yêu và tuổi trẻ… Đông Hồ là người thứ nhất
đã đưa vào thi ca Việt Nam cái vị bát ngát của tình
yêu dưới trăng thanh, trong tiếng sóng”.
Khẳng định về tấm lòng yêu nước của Đông Hồ, trong
“Chân dung văn học” Hoài Anh đã dẫn chứng những
cứ liệu rất quan trọng: “lòng yêu nước của Đông
Hồ được gửi gắm vào cảnh sắc và lịch sử. Đông Hồ
rất yêu Hà Nội và đã có quan hệ thư từ trao đổi
sách báo với Nguyễn Tuân từ năm 1942; năm 1926-1927,
ông đã ra Bắc và gặp Tản Đà; năm 1944, Nguyễn Bính
khi ghé Hà Tiên, Đông Hồ đã nhường gian Nam phong
tiểu các cho Nguyễn Bính để thi sĩ nằm đó mà làm
thơ, Nguyễn Bính dừng gót giang hồ ở đó một thời
gian mới về Rạch Giá.
(…) Người ta đã viết quá nhiều về Đông Hồ, qua
đó hình dung ông là một người kiểu cách, khi khách
đến nhà bắt phải ngồi đợi ngót nửa tiếng đồng hồ
để cho chủ nhân có thì giờ xong trầm nơi phòng khách
và thay y phục áo tràng gấm lam tiếp khách. Rồi
pha trà, bình thơ, khi hứng lên thì viết tặng khách
một bài thơ tiếng Việt viết bằng bút lông Tàu trên
những tấm lụa do chính tay nhà thơ bồi với lưng
giấy Bắc Thảo, có khi lại viết bằng ngón tay trỏ
chấm lên mực Tàu, thấy được dấu móng tay đây đó.
Nhưng tôi không cho đó là một thứ lập dị, lỗi thời,
mà chỉ là một phản ứng trước thói xu thời, hãnh
tiến của những kẻ chạy thoe danh lợi, hay tính chất
phàm tục, ti tiện của bọn trọc phú đương thời, nhà
thơ cố giữ cái cốt cách thanh cao làm một phép “vệ
sinh tinh thần” có sức đề kháng đối với sự ô nhiễm
của xã hội lúc đó”.
Về cái chết khi đang giảng bài của thi
sĩ Đông Hồ
Trên báo Thanh Niên trong bài viết: “Giai thoại
về nữ sĩ Ngân Giang” cách đây 4 năm (17-7-2002)
có nhắc đến cái chết của thi sĩ Đông Hồ như sau:
“Đặc biệt, bài Trưng Nữ vương sáng tác năm 1939
(lúc 23 tuổi-nữ sĩ Ngân Giang-NT) với những câu:
"Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa. Giáp vàng, khăn
trở lạnh đầu voi. Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá!
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi", khiến nhiều
người "nổi gai ốc": dưới ánh trăng, lừng
lững một khí phách và lừng lững một nỗi cô đơn chất
ngất của "người đàn bà - vua"! Đúng 30
năm sau trên bục giảng Đại học Văn khoa Sài Gòn,
thi sĩ Đông Hồ bình giảng bài Trưng Nữ vương. Khi
ngâm đến câu "Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá
!" vì quá xúc động, Đông Hồ bị đứt gân máu,
bất tỉnh và qua đời lúc 19
Thi sĩ, nhà giáo Đông Hồ (1906-1969)
giờ ngày 25-3-1969. Về việc này, nhà thơ Chiêu Dương
viết bài Cảm thương: "Ai đem tang tóc vào thơ.
Ngâm câu "điện ngọc...", Đông Hồ ra đi...".
Nhà giáo Võ Văn Nhơn - người học trò chứng kiến
cái chết của thầy Đông Hồ đã viết bài: “Đông Hồ
- thi sĩ yêu tiếng Việt” kể lại: “Cũng vì lòng yêu
tiếng mẹ, nên ba mươi năm sau ngày Trí Đức học xá
đóng cửa, Đông Hồ đã nhận lời giảng dạy phần Văn
học miền Nam cho Đại học Văn Khoa, mặc dù tuổi đã
gần sáu mươi và sức khỏe cũng đã kém. Việc trở lại
dạy học chính là để nối lại “tình duyên lỡ làng”
với Trí Đức học xá ngày nào, để đề cao “giọng Hàn
Thuyên” và kêu gọi “hồn Đại Việt”.
Những năm ở Văn Khoa là những năm ông hạnh phúc
hơn cả vì đã tìm thấy trong việc dạy học niềm vui
mà Mạnh Tử bảo là còn quý hơn cái vui làm vua trong
thiên hạ. Trong hồi ức của các sinh viên Văn Khoa
thời đó, giờ học của ông có không khí đặc biệt bởi
phong thái nghiêm cẩn của một nhà Nho bên cạnh phong
độ của một thi sĩ tài hoa và sự đồng điệu sâu sắc
giữa thầy trò.
Vào ngày 25-3-1969 (tức ngày mồng 8 tháng 2 năm
Kỷ Dậu), trên một giảng đường ở lầu hai lộng gió
của Đại học Văn Khoa (bây giờ là Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn TP HCM), Đông Hồ đã bất ngờ ngã
xuống lúc đang bình bài thơ Trưng nữ vương của Ngân
Giang. Bài thơ nói về nỗi cô đơn, lạnh lẽo của người
nữ anh hùng chạnh nhớ tới chồng sau chiến thắng,
một tứ thơ rất độc đáo, rất nữ tính mà Đông Hồ đã
tinh tế chỉ ra. Được các học trò đưa vào bệnh viện,
ông mất ngay ngày hôm đó.
Ngày nay, mỗi lần đi ngang qua chỗ Đông Hồ đã ngã
xuống, tôi lại hay nghĩ lẩn thẩn: sao chúng ta không
đặt nơi đây một tấm biển nhỏ ghi mấy dòng này chẳng
hạn: “Nơi đây, thầy Đông Hồ, một người yêu tiếng
Việt, đã ngã xuống”. Điều đó chắc sẽ góp phần làm
cho sinh viên yêu thêm ngôi trường của mình và yêu
thêm tiếng mẹ thân thương của chúng ta hơn”.
Cũng theo nhà thơ Hoài Anh: “Việc Đông Hồ ngất
đi trên bục giảng khi đang ngâm bài thơ Trưng Nữ
Vương và chỉ vài giờ sau hấp hối ở bệnh viện, há
chẳng đủ chứng tỏ trái tim yêu nước, bị dồn nén
không chịu nổi, đến mức phải phá tung đó sao”.
Sinh thời, Đông Hồ ngoài việc làm thơ, dạy học
ông còn dịch thơ. Bài “Nguyễn Trung Trực tuyệt mệnh
thi” (Đọc trước khi hành quyết):
"Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên, Yêu gian
đảm khí hữu long tuyền; Anh hùng nhược ngộ vô dung
địa, Báo hận thâm cừu bất đái thiên".
Thi sĩ Đông Hồ (Lâm Tấn Phác) dịch:
"Theo việc binh nhung thua trẻ trai,
Phong trần hăng hái tuốt gươm mài;
Anh hùng gặp phải hồi không đất,
Thù hận chang chang chẳng đội trời".
Ông cũng đã viết bài du ký “Thăm đảo Phú Quốc”
đăng trên tạp chí Nam Phong cảnh Nguyễn Trung Trực
bị giặc Pháp hành hình biểu lộ tấm lòng thành kính
trước vị anh hùng dân tộc. Qua đó gởi gắm lòng yêu
nước của mình.
Ngày nay khi đến Hà Tiên, đặc biệt du khách sẽ
chẳng thể nào không thể nào quên đôi vợ chồng tài
hoa Đông Hồ-Mộng Tuyết mà trước khi là bạn đời họ
là tình thầy trò mà họ đã dành tâm huyết viết về
dòng họ Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích qua tập “Hà Tiên
Mạc thị xử”.
Tưởng nhớ đến ông, những thế hệ học trò chúng tôi
đã ngồi dưới mái trường mà ông đã giảng dạy trước
khi lâm chung, xin trích hai bài thơ thể hiện khí
khái tài hoa của người thầy nặng lòng tình yêu tiếng
Việt.
Mua Áo
"Chiếc áo năm xưa đã cũ rồi,
Em đâu còn áo mặc đi chơi.
Bán thơ nhân dịp anh ra chợ,
Đành gởi anh mua chiếc mới thôi!
- Hàng bông mai biếc màu em thích,
Màu với hàng, em đã dặn rồi.
Còn thước tấc, quên! Em chửa bảo:
Kích tùng bao rộng, vạt bao dài ?
- Ô hay! Nghe hỏi mà yêu nhỉ!
Thước tấc anh còn lựa hỏi ai,
Rộng hẹp, tay anh bồng ẵm đó.
Ngắn dài, người mới tựa bên vai".
Cô Gái Xuân
Trong xóm làng trên, cô gái thơ,
Tuổi xuân mơn mởn vẻ đào tơ.
Gió đông mơn trớn bông hoa nở,
Lòng gái xuân kia vẫn hững hờ.
Lững thững lên trường buổi sớm chiều,
Tập tành nghiên bút, học may thêu
Quần đen, áo trắng, khăn hồng nhẹ,
Ngọn xõa ngang vai, tóc bỏ đều
Lá rợp cành xoài bóng ngả ngang,
Cô em dừng bước nghỉ bên đường,
Cởi khăn phẩy giọt mồ hôi trán,
Gió mát lòng cô cũng nhẹ nhàng.
Đàn bướm bay qua bãi cỏ xanh,
Lòng cô phất phới biết bao tình.
Vội vàng để vở bên bờ cỏ,
Thoăn thoắt theo liền đàn bướm xinh.
Áo trắng khăn hồng gió phất phơ,
Nhẹ nhàng vui vẻ nét ngây thơ.
Trông cô hớn hở như đàn bướm,
Thong thả trời xuân mặc nhởn nhơ .
Đàn bướm bay cao, cô trở về,
Sửa khăn, cắp sách lại ra đi ,
Thản nhiên, cô chẳng lòng thương tiếc,
Vì bướm ngày xân chẳng thiếu chi !
Cũng xóm làng trên, cô gái thơ,
Tuổi xuân hơn hớn vẻ đào tơ .
Gió đông mơn trớn bông hoa nở,
Lòng gái xuân kia náo nức chờ.
Tưng bừng hoa nở, bóng ngày xuân,
Rực rỡ lòng cô, hoa ái ân.
Như đợi, như chờ, như nhớ tưởng,
Đợi, chờ, tưởng, nhớ bóng tình quân.
Tình quân cô; ấy sự thương yêu,
Đằm thắm, xinh tươi, lắm mĩ miều
Khao khát đợi chờ, cô chửa gặp,
Lòng cô cảm thấy cảnh đìu hiu .
***
Một hôm, chợt thấy bóng tình quân,
Gió lộng mây đưa thoáng đến gần.
Dang cánh tay tình, cô đón bắt,
Vô tình mây gió cuốn xa dần.
Gót ngọc phăng phăng cô đuổi theo :
“Tình quân anh hỡi ! Hỡi người yêu !
“Gió mây xin để tình quân lại;
“Chậm chậm cho em nói ít điều…”
Than ôi ! Mây gió vẫn vô tình,
Cuồn cuộn bay trên ngọn núi xanh.
Nhìn ngọn núi xanh, mây khói tỏa,
Mắt cô, đôi giọt lệ long lanh.
Lá rợp cành xoài bóng ngả ngang,
Cô em dừng bước nghỉ bên dường.
Cởi khăn phẩy gió mồ hôi trán,
Gió mát, lòng cô những cảm thương.
Lủi thủi bên đường, cô ngẩn ngơ.
Chốn này, đuổi bắt bướm ngày xưa,
Cô buồn, cô tiếc, cô ngùi ngậm,
Cô nhớ ngày xuân, nhớ tuổi thơ :
“Đàn bướm bay qua bãi cỏ xanh,
“Lòng cô phất phới biết bao tình.
“Vội vàng để vở bên bờ cỏ,
“Thoăn thoắt theo liền đàn bướm xinh ...
“Đàn bướm bay cao, cô trở về,
“Sửa khăn, cắp sách lại ra đị
“Thản nhiên, cô chẳng lòng thương tiếc,
“Vì bướm ngày xuân chẳng thiếu chi !....”
Ái tình nào phải bướm ngày xuân,
Tình ái ngày xuân chỉ một lần.
Một thoáng bay qua không trở lại,
Gái xuân dỏ lệ khóc tình quân!
NGUYỄN TÝ

|