|  VƯỜN
HỒNG

ĐÔNG
HỒ
Kỷ
niệm 100 năm ngày sinh Đông Hồ (10-3-1906 – 10-3-2006)
Đông
Hồ Lâm Tấn Phác
TTO - Sau khi Đông Hồ mất, có người viết về ông
đã chê Đông Hồ viết toàn chuyện trời, mây, trăng,
nước mà không bao giờ đả động tới cảnh điêu linh
tang tóc của dân tộc. Lâu nay, tôi - và có lẽ nhiều
người nữa - cũng nghĩ như thế.
Mãi
đến khi đọc bài ký sự Đốt sách của Mộng Tuyết, mới
hay chàng trai trẻ Trác Chi những năm 30 cũng đã
say mê đọc nhiều sách báo tiến bộ, yêu nước và đã
có lần khăn gói đi tuyên truyền “quốc sự”. Ông cũng
tham gia kháng chiến chống Pháp một thời gian, nhưng
vì lý do sức khỏe nên phải về sống ở Sài Gòn. Báo
Nhân loại do ông phụ trách những năm 50 cũng là
một tờ báo tiến bộ lúc bấy giờ .
Có
thế chứ! Lẽ nào một người yêu đến tha thiết tiếng
mẹ đẻ; một người luôn tìm tòi, gìn giữ một cách
trân trọng từng di sản của cha ông lại thờ ơ với
sự tồn vong của dân tộc cho được. Nhưng có lẽ nên
nói như Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam: “Đông
Hồ “ vốn tính hiền lành, không đủ táo bạo”, nên
ông đã đi theo một con đường khác, đã yêu đất nước
bằng một cách khác và đã đeo đuổi chí hướng đó từ
thưở đôi mươi cho đến lúc nhắm mắt.
Đó
là việc vun đắp, xây dựng tương lai cho tiếng Việt.
Hoài Thanh đã ghi nhận: “Hoàn cầu dễ ít có thứ tiếng
được âu yếm, nâng niu như tiếng Nam... Nhưng yêu
quốc văn mà đến như Đông Hồ kể cũng ít”.
Từ
lúc làm giáo viên lớp sơ đẳng ở Hà Tiên, Đông Hồ
đã bất mãn với việc học sinh không được học tiếng
Việt mà phải học tiếng Pháp, phải tụng câu “Tổ tiên
chúng ta là người Gaulois”. Cho nên tuy phải dạy
theo chương trình, ông vẫn chú trọng đến tiếng Việt
và khuyến khích học sinh trau dồi quốc văn.
Tình
yêu tiếng mẹ còn được ông thể hiện qua nghệ thuật
thư pháp tiếng Việt. Có người cho Đông Hồ chính
là người đã khai sinh ra nghệ thuật này. Mỗi lần
Tết đến, ông đều tự tay làm những chiếc thiệp xinh
xắn với những bài thơ xuân do chính tay ông viết.
Những bức trướng tiếng Việt, những tấm thiệp Tết
với một nét chữ hoặc rất chân phương, hoặc rất bay
bướm để viếng người mất, để tặng bạn bè bây giờ
đã trở thành những kỷ niệm vô giá của người thân,
của học trò ông.

Thư pháp của Đông Hồ
Chưa bằng lòng với mình, nên vào năm 1926, lúc mới
tròn hai mươi tuổi, ông đã mở Trí Đức học xá bên
bờ Đông Hồ dạy toàn quốc ngữ, qua đó muốn học tập
Tagore khi mở nhà Santiniketan để dạy cho thanh
niên Ấn Độ cái đạo giải phóng tinh thần, sống gần
thiên nhiên và học tiếng mẹ đẻ để vỡ trí khôn ra.
Trường còn mở cả hệ hàm thụ để học sinh ở xa có
thể luyện tập được tiếng Việt.
Giữa
lúc tiếng Việt đang bị rẻ rúng, hành động của nhà
giáo trẻ Lâm Tấn Phác quả là rất dũng cảm. Nhiều
bài làm văn của học trò Trí Đức học xá đã được Đông
Hồ biên tập và gửi đăng trên báo Nam Phong, trong
đó có bài của người học trò xuất sắc nhất là nữ
sĩ Mộng Tuyết, sau này trở thành người bạn đời của
ông.
Bên
cạnh việc dạy tại chỗ, Trí Đức học xá còn mở cả
hệ hàm thụ để học sinh ở xa có thể luyện tập được
tiếng Việt. Với sự nỗ lực của thầy trò, Trí Đức
học xá đã gây được một tiếng vang đáng kể. Nhưng
do bị thực dân Pháp dòm ngó, nghi kỵ nên năm 1934
trường phải đóng cửa sau sáu năm tồn tại.
Sự
nghiệp dạy học dang dở, năm 1935 Đông Hồ bỏ lên
Sài Gòn làm báo Sống, một tờ báo đầu tiên ở Nam
Bộ in đúng chính tả, nhất là dấu hỏi ngã, một tiến
bộ trong nghề làm báo ở Nam Bộ lúc đó như nhận định
của Nguyễn Hiến Lê. Trong báo có mục Trong vườn
Trí Đức làm công việc bình văn và giới thiệu các
bài văn hay. Nhà văn Bùi Hiển quê tận Nghệ Tĩnh
cũng đã có lần gửi bài đến nhờ thầy Đông Hồ “coi
giúp”. Cộng tác có các nhà văn yêu nước, tiến bộ
như Tản Đà, Thiếu Sơn, Huỳnh Văn Nghệ …
Báo
Sống được chăm sóc công phu như thế nhưng cũng chỉ
ra được 30 số. Ông về Hà Tiên ẩn cư gần 10 năm,
đến năm 1945 lại lên Sài Gòn. Năm 1950, ông sáng
lập nhà xuất bản Bốn Phương và nhà sách Yiễm Yiễm
thư trang, năm 1953 làm giám đốc tập san Nhân loại.
Dù
làm báo hay xuất bản sách, ông đều hết lòng với
tiếng mẹ, với văn học Việt Nam. Với bút hiệu Đồ
Mọt Sách, ông đã đưa ra nhiều nhận xét lý thú về
tiếng Việt trên mục Chữ và Nghĩa của Nhân loại.
Không chỉ bỏ công giới thiệu nhóm Chiêu Anh Các
của Hà Tiên quê cũ hay lần tìm dấu vết Bạch Mai
thi xã của Sài Gòn - Gia Định xưa, ông còn nhẫn
nại, mày mò thử viết lại từng câu thơ đã bị rơi
rụng bởi thời gian của Đặng Đức Siêu, của Ông Ích
Khiêm..., cái công việc mà ông tự nhận là “vá chiếc
áo nàng thơ”.
Cũng
vì lòng yêu tiếng mẹ, nên ba mươi năm sau ngày Trí
Đức học xá đóng cửa, Đông Hồ đã nhận lời giảng dạy
phần Văn học miền Nam cho Đại học Văn Khoa, mặc
dù tuổi đã gần sáu mươi và sức khỏe cũng đã kém.
Việc trở lại dạy học chính là để nối lại “tình duyên
lỡ làng” với Trí Đức học xá ngày nào, để đề cao
“giọng Hàn Thuyên” và kêu gọi “hồn Đại Việt”.
Những
năm ở Văn Khoa là những năm ông hạnh phúc hơn cả
vì đã tìm thấy trong việc dạy học niềm vui mà Mạnh
Tử bảo là còn quí hơn cái vui làm vua trong thiên
hạ. Trong hồi ức của các sinh viên Văn Khoa thời
đó, giờ học của ông có không khí đặc biệt bởi phong
thái nghiêm cẩn của một nhà Nho bên cạnh phong độ
của một thi sĩ tài hoa và sự đồng điệu sâu sắc giữa
thầy trò.
Vào
ngày 25-3-1969 (tức ngày mồng 8 tháng 2 năm Kỷ Dậu),
trên một giảng đường ở lầu hai lộng gió của Đại
học Văn Khoa (bây giờ là Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh), Đông Hồ đã bất ngờ
ngã xuống lúc đang bình bài thơ Trưng nữ vương của
Ngân Giang. Bài thơ nói về nỗi cô đơn, lạnh lẽo
của người nữ anh hùng chạnh nhớ tới chồng sau chiến
thắng, một tứ thơ rất độc đáo, rất nữ tính mà Đông
Hồ đã tinh tế chỉ ra. Được các học trò đưa vào bệnh
viện, ông mất ngay ngày hôm đó.
Ngày
nay, mỗi lần đi ngang qua chỗ Đông Hồ đã ngã xuống,
tôi lại hay nghĩ lẩn thẩn: sao chúng ta không đặt
nơi đây một tấm biển nhỏ ghi mấy dòng này chẳng
hạn: “Nơi đây, thầy Đông Hồ, một người yêu tiếng
Việt, đã ngã xuống”. Điều đó chắc sẽ góp phần làm
cho sinh viên yêu thêm ngôi trường của mình và yêu
thêm tiếng mẹ thân thương của chúng ta hơn.VÕ VĂN
NHƠN

|