| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Danh
nhân thời Lê - Mạc Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm
Người được
dân gian truyền tụng và suy tôn là "Nhà tiên
tri" số một của nước ta là Trạng Trình, vì
ông đã cho ra đời hàng loạt những lời tiên tri cho
hậu thế mà người đời gọi là "Sấm Trạng Trình".
Một điều khá lý thú là cách đây ngót 500 năm, ngay
trang đầu của tập "Trình tiên sinh quốc ngữ"
của Trạng Trình có ghi: "Việt Nam khởi tổ xây
nền". Ông đã khẳng định nước ta tên là Việt
Nam. Một sự tiên đoán vô cùng chính xác.
Trạng Trình mà nhân dân thường gọi chính là Nguyễn
Bỉnh Khiêm, tên huý là Văn Đạt, vì ông đỗ Trạng
nguyên, sau được phong là Trình quốc công.
Nguyễn Bỉnh Khiêm người làng Trình Tuyền (Trung
Am) huyện Vĩnh Lại (nay là Vĩnh Bảo, Hải Phòng).
Thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm quận công Nguyễn
Văn Định, thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan
Thượng thư Nhữ Văn Lan, là người giỏi văn thơ và
am hiểu lý số.
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi (1491) đời vua
Lê Thánh Tông, mặt mũi khôi ngô, tuấn tú, tư chất
khác thường, một tuổi ông đã nói sõi, lên năm tuổi
được mẹ dạy cho kinh sách, truyền miệng cho thơ
văn chữ Nôm, ông học đâu nhớ đấy, không quên chữ
nào.
Lớn lên được theo học cụ Bảng nhãn Lương Đắc Bằng
ở làng Lạch Triều, huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá).
Ông đã sáng dạ, thông minh lại nết na, chăm chỉ
học hành nên được thầy rất khen ngợi.
Vì tình hình đất nước không ổn định nên mãi đến
năm Giáp Ngọ (1534), khi 43 tuổi Nguyễn Bỉnh Khiêm
mới đi thi, đỗ ngay giải Nguyên, năm sau đi thi
Hội, lại đỗ Hội nguyên, đi thi Đình, đỗ ngay Trạng
nguyên.
Ông làm quan cho nhà Mạc được tám năm, đến đời Mạc
Phúc Hải, thấy triều đình lắm kẻ gian thần, lộng
quyền, đục khoét, ông dâng sớ chém mười tám lộng
thần đều là những kẻ quyền quý cả. Vua Mạc không
nghe. Ông trả lại mũ áo, cáo quan về mở trường dạy
học. Ông dựng một cái am nhỏ bên hồ đặt tên là am
Bạch Vân và lấy tên hiệu là Bạch Vân cư sĩ.
Ông vốn là người tha thiết với việc dân, việc nước,
song vì triều đình đổ nát, trăm quan hư hỏng, ông
không muốn đem thân vào chốn đua chen nịnh hót,
dấn mình vào đám bùn nhơ ô uế. Bởi thế phải xa lánh
công danh vê quê ẩn dật, ông vẫn đem hết tài trí
và tâm huyết truyền cho đám học trò, ngầm mong họ
sẽ thay ông giúp đời cứu nước. Nhiều học trò danh
tiếng của ông như Lương Hữu Khánh, Phùng Khắc Khoan,
Nguyễn Dữ, Trương Thời Cử, sau này quả đã nối được
chí thầy.
Dân gian truyền tụng nhiều về những câu nói có tính
chiến lược của Trạng Trình đã giúp cho các vua chúa
thời ông sống được vẹn toàn.
Trước là với vua Lê - chúa Trịnh
Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, đã diệt hầu hết
tôn tộc nhà Lê. Sau có cựu thần nhà Lê là Nguyễn
Kim khởi binh ở Sầm Nưa (Lào) chống lại nhà Mạc.
Nguyễn Kim tìm được một người cháu (hậu duệ của
vua Lê Thái Tổ) đem về lập làm vua tức là Lê Trang
Tông.
Năm 1545, Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc đánh
thuốc độc chết, binh quyền nằm cả vào tay con rể
là Trịnh Kiểm.
Năm 1556, Lê Trung Tông (con Lê Trang Tông) mất
lại không có con nối ngôi, Trịnh Kiểm trù trừ tìm
người dòng dõi nhà Lê nối ngôi, muốn tự mình lên
ngôi vua. Không biết nên thế nào cho phải, Trịnh
Kiểm bèn bàn với Phùng Khắc Khoan. Phùng Khắc Khoan
cũng phân vân, mới sai người đi Vĩnh Lại hỏi thầy
mình là Trạng Trình. Nghe người đó trình bày xong,
Trạng Trình không nói gì cả, chỉ ngoảnh lại bảo
người nhà rằng:
- Năm nay lúa không tốt, vì thóc giống không chắc.
Chúng bay nên tìm thóc cũ gieo thì tốt.
Nói xong, Trạng chống gậy đi chơi chùa. Khách đi
theo, Trạng nói với nhà sư chứ không nói với khách:
- Nhà sư chăm cúng Phật mà ăn oản nhé.
Khách về nói lại với Phùng Khắc Khoan. Phùng Khắc
Khoan trình bày với Thái sư Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm
hiểu thâm ý của Trạng Trình khuyên là hãy tôn phò
nhà Lê lên làm vua cho thuận lòng dân, bèn sai người
đến làng Bố Vệ rước Lê Duy Bang là cháu 6 đời của
Lê Trừ (anh thứ hai của Lê Lợi) về lập làm vua,
tức là Lê Anh Tông.
Sau là với chúa Nguyễn
Từ khi thay bố vợ là Nguyễn Kim cầm binh quyền,
Trịnh Kiểm sợ hai em vợ là Nguyễn Uông và Nguyễn
Hoàng tranh giành quyền bính, nên đã giết Nguyễn
Uông và ngấm ngầm định giết nốt Nguyễn Hoàng. Nguyễn
Hoàng sợ hãi, sai người tìm đến hỏi Trạng Trình
xem nên làm thế nào để thoát khỏi âm mưu của Trịnh
Kiểm.
Được hỏi nhưng Trạng Trình không trả lời ngay, chỉ
chống gậy ra sân, ngắm hòn non bộ, nhìn đàn kiến
đang "leo núi" mà nói bâng quơ rằng: "Hoành
sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (một dải núi
Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời).
Nguyễn Hoàng hiểu ý mới về nói với chị gái (vợ Trịnh
Kiểm) xin cho mình vào trấn thủ đất Thuận Hoá. Trịnh
Kiểm nghĩ Thuận Hoá là nơi biên cương cùng đường,
tuyệt lộ, đất cằn, người thưa, dẫu Nguyễn Hoàng
có phản nghịch thì chẹn đường, sai tướng đánh dẹp
là xong, còn hơn giết đi thì sợ thất nhân tâm, mà
giữ ở lại thì lo ngay ngáy ngày đêm, nên đã đồng
ý cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá vào năm
Mậu Ngọ (1558).
Không ngờ Nguyễn Hoàng tự nhún mình, khai khẩn đất
hoang, mở mang bờ cõi về phía Nam, một mặt thần
phục họ Trịnh, thỉnh thoảng còn cho người ra Thanh
Hoá xin viện binh đánh Chiêm Thành nữa. Đến khi
đủ lực lượng, họ Nguyễn mới ra mặt tuyên chiến với
họ Trịnh từ năm 1627, gây dựng nên cơ nghiệp các
chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
Rồi với nhà Mạc
Mùa đông năm Ất Dậu (1585), nghe tin Nguyễn Bỉnh
Khiêm lâm bệnh nặng, vua Mạc Mậu Hợp cử quan khâm
sai về hỏi xin ý kiến Trạng về tương lai. Trạng
Trình nói: "Cao Bằng tuy tiểu, khả dung sổ
thế" (Cao Bằng tuy nhỏ cũng được vài đời).
Quả nhiên sau này bị thất bại, nhà Mạc đã chạy lên
Cao Bằng, và còn tồn tại ở đấy được đến năm 1677
mới mất hẳn. Ngày nay ở Cao Bằng có nhiều người
dân tộc thiểu số mang họ Mạc, chính là con cháu
của nhà Mạc xưa.
***
Trạng Trình mất, thọ 95 tuổi. Lễ tang ông có quan
phụ chính triều đình là ứng vương Mạc Đôn Nhượng
dẫn đầu các quan đại thần về dự. Việc vua Mạc cử
người được vua coi như cha về dự lễ tang nói lên
sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc với Trạng Trình.
Trong buổi lễ tang ấy, ứng vương đã thay mặt vua
truy tặng Nguyễn Bỉnh Khiêm từ tước Trình tuyền
hầu lên tước Thái phó Trình quốc công.

|