| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

NHÀ
THƠ TRÀO PHÚNG TÚ MỠ VÀ KHỐI DI CẢO ĐANG BẢO QUẢN
TẠI TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA III
Tấm
chân tình đằng sau những tiếng cười
THI
CA TRÀO PHÚNG VIỆT NAM
Mười Thương
Tương
Tư

Tú
Mỡ
Nhà
thơ Tú Mỡ
Tú
Mỡ tên thật là Hồ Trọng Hiếu. Sinh năm 1900, như
vậy ông có bảy năm được thở chung khí quyển với
Tú Xương. Bởi yêu kính tài thơ Tú Xương ông mới
lấy bút danh Tú Mỡ,chứ ông gầy lắm: Màu mỡ vì chưng
ra cả bút/ Thân hình nên mới ngẳng như que. Thuở
bé được ông nội dạy chữ Nho, sau vào học trường
Bưởi, cùng thời với Hoàng Ngọc Phách.Thấy Phách
làm thơ nghiêm túc thì Hiếu rủ bạn làm thơ tếu diễu
chơi. Bạ cái gì cũng thành thơ: vịnh xe điện, vịnh
giám thị, vịnh các thầy. Đùa quá hóa thật. Năm 1918,
vào làm ở Sở Tài chính. Hai năm sau đã có thơ diễu
nghề công chức cạo giấy của mình. Lần này thơ đăng
báo hẳn hoi chứ không chỉ truyền khẩu như thời đi
học. Hình hài tính nết một loại người lấy công sở
làm oai, vừa khôi hài vừa tội nghiệp, Tú Xương cũng
đã từng diễu: Bác này rõ thực thái vô ích/ Sớm vác
ô đi tối vác về, dưới bút Tú Mỡ càng sống động hơn,
vì nó là cái đời ông:
Hai buổi đến ung dung ư buồng giấy, sổ to sổ nhỏ
bày liệt bày la
Tám giờ ngồi chễm chệ ư ghế mây, mực đỏ mực đen
viết chi viết chát.
Triều đình Huế phong hàn lâm thị độc cho tất cả
công chức, Tú Mỡ tự ngắm mình:
Ừ mà quan quách chi ông nhỉ
Sáng sáng đi làm chén phở rong
Tú Mỡ thực sự nổi tiếng là từ năm 1932, khi giữ
mục Dòng nước ngược cho báo Phong Hóa . Cái xã hội
thuộc địa nửa phong kiến thời Tú Mỡ đầy rẫy những
lố lăng kệch cỡm. Đạo đức giả, tài năng bịp chan
chan khắp nơi. Tú Mỡ cảm nhận được tất cả và đã
giữ lại trong thơ mình như một tang chứng sống của
thời cuộc. Chúng ta hôm nay đọc Dòng nước ngược
như bước vào một viện bảo tàng có đủ các chân dung
của nhân, của vật, của sự kiện. Tính chất hiện thực
là một đóng góp đặc sắc của Tú Mỡ vào nền thơ công
khai hồi ấy. Chỉ xin nói nội một cái Viện dân biểu
do thực dân Pháp dựng nên làm một chiêu bài dân
chủ đã thành hàng chục đề tài hào hứng cho Tú Mỡ.
Chất trào phúng nằm ngay trong sự việc. Hãy xem
cung cách một ông nghị đi họp, bề ngoài rất oách
Áo sa, khăn nhiễu,giày ban/ Kính trắng gọng vàng
tay cắp cặp da. Và cũng chỉ bề ngoài thế thôi, chứ
vào cuộc họp thì ngẩn mặt tần ngần. Ngồi nghe diễn
thuyết ngủ dần thiu thiu. Tú Mỡ đã chộp được những
nét phổ biến có tính điển hình của lũ người dốt
nát và hãnh tiến này. Nhà thơ cứ mát mẻ mà tuyên
dương công trạng ông nghị vùng ta:
Gật gù nghe đọc diễn văn
Vì dân gắng sức mấy lần vỗ tay
Nghe thì cứ nghe, sao phải gật gù. Vì có gật gù
mới tỏ vẻ ta đây hiểu biết. Cái hài đẻ ra từ sự
giả dối đó. Tú Mỡ cứ nguyên mẫu mà nâng lên thành
hình tượng trào phúng. Ông chuyển nghĩa bóng sang
nghĩa đen ba chữ bầu nhiệt huyết, chỉ bằng một trạng
từ, thế là vẻ long trọng rơi xuống lộ ra tính xôi
thịt buồn cười, bức chân dung tả được cả hai nét,
nét vờ và nét thực:
Mỗi năm vất vả mươi hôm
Một bầu nhiệt huyết vẫn ôm kè kè.
Tú Mỡ còn noi theo sáng kiến của nhà thơ Pháp La
Bơruye (La Bruyère) trong mục Phòng triển lãm các
ông to (galerie des grangds hommes) để dựng các
chân dung quan sư
Nguyễn Năng Quốc, quan xì cút Bùi Đình Tịnh, quan
thị Nguyễn Tiến Lãng, quan hàm Đỗ Thận cùng các
thứ nhốn nháo nhà văn nhà báo Trần Văn Tùng, Nguyễn
Mạnh Bổng... Ông thì Tiếng Tây ông nói làu làu/
Hỏi văn quốc ngữ lắc đầu rằng: Nôông. Ông thì Trời
cho cái mã bề ngoài/ Để che đậy cái... sơ sài bên
trong. Tú Mỡ sắc sảo trong loạt caricature (hí họa
chân dung) này ở sự nắm bắt tính cách và đặc tả
thần thái nhân vật.
Tài dùng khẩu ngữ dân gian của Tú Mỡ rất điêu luyện.
Ông chửi bọn thống trị bất tài vô hạnh nhưng chúng
không làm gì được ông chính là do sắc thái từ ngữ
của ông. Ông khen, ông chúc mà là ông rủa, ông chửi.
Sau khi mô tả sự long trọng, vui vẻ của bữa tiệc
kỷ niệm 30 năm phái bộ đi Tây (1908- 1938), Tú Mỡ
dừng bút ở đám dân đói đứng chiêm ngưỡng ở vòng
ngoài:
Trong đình quan khách cỗ bàn
Vòng ngoài dân đói hàng ngàn xúm đông
Há mồm lố mắt đứng trông
Chúc thầm các cụ các ông muôn đời
Xưa nay, đã chúc làm gì có chúc thầm. Chỉ có rủa
thầm, chửi thầm. Chữ thầm đã làm
chuyển nghĩa chữ chúc và cụm từ các cụ các ông
muôn đời thật đắt chỗ. Có lẽ vì phải viết trong
vòng cương tỏa của thời cũ, ông phải nảy ra cái
tài tình ấy. Sau này, dưới bút danh Bút chiến đấu
, trong kháng chiến chống Pháp, Tú Mỡ cứ thẳng tay
đánh địch công khai đường hoàng, cái duyên lắt léo
tài tình kia ông không cần nữa. Ý thơ mạnh nhưng
ít hóm. Cũng tiếc! Thơ Tú Mỡ đánh đế quốc sài lang
trong hai cuộc kháng chiến tựa nhiều vào sự chơi
chữ. Tên viên tướng Pháp Salăng gọi ra câu thơ Sa
lăng, sài lắc, sa lầy. , Tú Mỡ không gửi được vào
thơ phong phú và sâu sắc như Tú Xương, điều đó hạn
chế phần xúc cảm dào dạt và chiều sâu da diết của
tiếng cười. Trào phúng của Tú Mỡ hơi ít phẩm chất
trữ tình là vì vậy. Đây đó, lắng nghe, ta mới gặp
được tiếng thở dài rất nhẹ ẩn trong nụ cười chua
chát. (Ôi nghìn thu đất nước một cuộc bể dâu/ Hồ
Gươm vẫn đó Thần kiếm chìm đâu/ Cứ thấy tượng đồng
cao chót vót/ Đứng trông làn nước vẩn xanh ngầu).
Tú Mỡ trữ tình trong những bài riêng ở vạt đề tài
tình cảm gia đình.
Giọng văn hóm hỉnh nhưng cảm xúc nằm trong quỹ
đạo trữ tình rồi, không còn là trào phúng nữa. Đấy
là những bài thơ ông viết lúc cuối đời, thơ khóc
người vợ hiền và thơ tặng cháu. Chúng ta thấy một
Tú Mỡ khác, chân thật, hiền lành. Nghệ thuật làm
ông phát hiện ra nét ngộ nghĩnh của con trẻ. Tình
nghĩa vợ chồng có nỗi xót xa trong chia biệt lại
có sự điềm đạm chủ động của người nhìn quy luật
tử sinh.
Hà Nội 16- 1- 2002
Vũ Quần Phương

|