|
VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Nhân
ngày sinh của Ôn Như Hầu Nguyễn
Gia Thiều ( 22-3-1741)
1741: Ngày sinh của Nguyễn Gia Thiều. Nguyễn Gia
Thiều sinh ngày 22.03.1741, tại làng Liễu Ngạn,
tổng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành,
xứ Kinh Bắc, nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc
Ninh, trong một gia đình đại quý tộc, có nhiều người
làm tướng, làm quan cho triều đình.
Ông thân sinh của Nguyễn Gia Thiều là Nguyễn Gia
Cư, một võ quan cao cấp được phong tước hầụ. Mẹ
Nguyễn Gia Thiều là quận chúa Quỳnh Liên, con gái
An Đô vương Trịnh Cương. Nguyễn Gia Thiều gọi chúa
Trịnh Doanh đang cầm quyền lúc bấy giờ là cậu ruột,
và là con cô cậu với chúa Trịnh Sâm.
Vì gia đình bên ngoại thuộc họ nhà chúa, nên từ
lúc lên năm lên sáụ Nguyễn Gia Thiều đã được vào
học trong phủ chúạ. Ông nổi tiếng là người thông
minh, học rộng, văn võ kiêm toàn. Ông lại còn tinh
thông nhiều bộ môn nghệ thuật như âm nhạc, hội họa,
kiến trúc, trang trí. Về âm nhạc, Nguyễn Gia Thiều
sở trường các bài ca, bài tán. Ông là tác giả các
bản "Sơn trung âm" và "Sở từ điệu".
Về hội họa, ông có bức tranh lớn "Tống sơn
đồ", dâng vua xem được khen thưởng. Về kiến
trúc, trang trí, ông là người được chúa Trịnh giao
cho trông nom việc trang hoàn phủ chúa và điều khiển
xây tháp chùa Thiên Tích. Các công trình nghệ thuật
của Nguyễn Gia Thiều đến nay không còn một cái nào,
nhưng trong sáng tác văn học thì những tri thức
về nghệ thuật của ông được phản ánh một cách khá
rõ...
Nguyễn Gia Thiều là một người rất được chúa Trịnh
tin dùng. Năm 1759, mười tám tuổi, ông giữ chức
Hiệu úy, quản Trung mã tả đội; sau đó ông làm chỉ
huy Thiêm sự, năm 1782 thăng Tổng binh coi giữ xứ
Hưng Hóa, và vì có quân công ông được phong tước
hầu - Ôn Như hầụ. Các em ông cũng lần lược được
phong tước hầu, tước bá, như Nguyễn Gia Thưởng là
Thưởng Vũ bá; Nguyễn Gia Xuyên là Du Lãnh hầụ
Thời gian làm Tổng binh ở Hưng Hóa, mặc dù có công
được khen thưởng, Nguyễn Gia Thiều vẫn thường hay
bỏ về nhà riêng ở gần hồ Tây để vui chơi, làm thơ
và bàn luận về triết học. Ông tự xưng là Hy Tôn
tử và Như ý thiền, lấy biệt hiệu là Tân Thi viện
tử và Sưu Nhân. Có người bảo giai đoạn này chúa
Trịnh không còn tin ông như trước, mới đẩy ông đi
trấn giữ Hưng Hóa, và Nguyễn Gia Thiều biết điều
đó, nên ông chán nản bỏ về.
Năm 1786, Tây Sơn kéo quân ra Bắc diệt Trịnh, Nguyễn
Gia Thiều trốn lên miền núi xứ Hưng Hóạ Năm 1789,
Nguyễn Huệ đại thắng quân Thanh, lập ra triều đại
mớị Vua Quang Trung trọng người tài, thu dụng một
số quan lại cũ của triều đình Lê - Trịnh, Nguyễn
Gia Thiều được mời ra cộng tác, nhưng ông cáo bệnh
từ chốị Nguyễn Gia Thiều về lại làng cũ, sống ở
đấy, hằng ngày uống rượu tiêu sầu, giả ngây giả
dại và đến ngày 9 tháng 5 Mậu ngọ, tức ngày 22 tháng
6 năm 1798 thì mất, thọ 57 tuổi.
Nguyễn
Gia Thiều (1741-1798)
Nguyễn Gia Thiều (1741-1798) sinh trưởng trong
một gia đình quý tộc: Ông và cha đều là quan to,
được phong tước Công, tước Hầu. Bản thân Nguyễn
Gia Thiều, 18 tuổi đã làm quan trọng phủ chúa Trịnh,
30 tuổi được phong Hầu. Ông vốn thông minh lại được
tiếp thu một nền giáo dục khá chu đáo nên kiến thức
uyên bác, am hiểu nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Ông
viết thơ Nôm nhưng là thứ Nôm sang trng quý phái
vào bậc nhất ở nước ta. Tư tưởng thơ ông mang nhiều
màu sắc triết lý. Ngay ở những bài thơ nhỏ bình
dị, gần gũi với đời thực, Nguyễn Gia Thiều cũng
gửi gắm những suy nghĩ thâm viễn về kiếp người.
Cảnh trong vườn:
Lép nhép vài hàng tỏi
Lơ thơ mấy luống khương
Vẻ chi tèo teo cảnh
Thế mà cũng tang thương
Có khi gioûng thơ vui nhưng phát hiện lại sắc sảo,
và có sức khái quát cao, như bài thơ tình sau đây:
Khạc chẳng ra cho, nuốt chẳng vào
Miếng tình nghẹn lắm biết làm sao
Muốn kêu một tiếng cho to lắm
Rằng ối ai ôi, nó thế nào!
Nguyễn Gia Thiều nổi tiếng với bài thơ dài 356
câu, Cung oán ngâm khúc (Khúc ngâm oán hận của người
cung nữ). Thời Nguyễn Gia Thiều sống là thời kỳ
suy vi của chế độ phong kiến Việt Nam. Cung oán
của ông là một tác phẩm giàu tính tố cáo xã hội
và nỗi bất lực đáng thương của con người trong cơn
giông bão của thời thế. Tài năng ông bộc lộ xuất
sắc khi ông dựng nên được thân phận một con người
bị đẩy vào thế cùng đường tuyệt voûng. Phận người
như bụi bay, còn mất rất ngẫu nhiên. Nguyễn Gia
Thiều mang dòng máu quý tộc, sống trong đặc quyền
đặc lợi nhưng lại có trái tim biết đau nỗi đau của
những người con gái bị chôn sống tài sắc trong cung
cấm. Thơ ông trĩu nặng ai oán, tuyệt voûng nhưng
cũng thâm trầm tìm vào lẽ huyền vi tác động đến
kiếp người. Con người từ lúc loût lòng mẹ đã mang
tiếng khóc: Thảo nào khimới chôn rau/Đã mang tiếng
khóc ban đầu mà ra (Hai chữ Thảo nào đã xác định:
đời người vốn đau khổ). Và khi từ giã cõi đời tất
cả lại hóa hư vô chẳng qua một nấm cổ khâu xanh
rì.
Thơ Nôm của Nguyễn Gia Thiều chen nhiều Hán và
đầy rẫy điển cố, nhưng bà con Việt Nam ta ai đoûc
cũng cảm nhận được. Đấy là do tài dùng điển, dùng
Hán của người sành ngôn ngữ. Dễ cảm nhận mà không
nôm na. Hàm súc mà câu thơ vẫn thoáng nhẹ. Tạo nên
một bút pháp tinh xảo như chạm khắc, các hình ảnh
có sức gây ấn tượng đầy bí ẩn. Nguyễn Gia Thiều
hình ảnh hóa một triết lý siêu hình về thân phận
con người bằng cảnh, bằng vật cụ thể mà lại gợi
được cõi không thật:
Mùi tục lụy, lưỡi tê tân khổ
Đường thế đồ, gót rỗ kỳ khu
Sóng cồn cửa bể nhấp nhô
Chiếc thuyền bào ảnh, lô xô mặt ghềnh
Thủ pháp này là cách nhập Hán vào Nôm, từ Nôm mà
"cảm" được Hán. Lưỡi tê tân khổ thì tân
khổ phải thuộc về vị giác. Dù chưa biết tân là cay,
khổ là đắng, người đoûc đã cảm được nghĩa rộng của
câu thơ. Có khi so sánh trở thành tượng trưng và
từ tượng trưng lại thành thực nghĩa. Cái quay búng
sẵn trên trời/ Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.
Phận người do thiên định như con quay được búng
sẵn từ trên trời (so sánh). Con quay quay tít là
tượng trưng cho nỗi vất vả của người mà không biết
do đâu, quay do búng sẵn tự trời rồi. Câu tám chữ
phía dưới lại như văn tả thực người đi đêm. Những
chữ Hán điểm xuyết (nhân ảnh) tạo thêm chiều bí
ẩn cho liên tưởng. Hai câu thơ lưu lại hình ảnh
vô định của kiếp người một cách cụ thể và rộng xa
như một chương triết thuyết bất khả thi về thân
phận con người. Nguyễn Gia Thiều là một tài năng
diễn tả những khái niệm siêu hình bằng những hình
ảnh đầy cảm giác kết tinh giữa thực và ảo
Khúc ngâm người cung nữ từ oán sang hận:
Dang tay muốn dứt tơ hồng
Bực mình muốn đạûp tiêu phòng mà ra.
Dứt, đạp là những động từ nổi loạn. Nó là bước
phát triển tất yếu của hy vọng mong manh rồi tuyệt
voûng, rồi phẫn nộ. Nguyễn Gia Thiều đã nhạy cảm
nghe ra tiếng đập lạ của trái tim người cùng quẫn.
Năm 1786, Nguyễn Huệ ra Bắc phù Lê diệt Trịnh rồi
1789 đuổi xâm lược và diệt phản động. Khúc ngâm
của một nạn nhân "êm ái", cung nữ, đã
như một bản cáo trạng đòi quyền sống hạnh phúc của
con người. Đó là một nội dung chính trị hiện ra
phía sau thơ. Trên trang chữ, Nguyễn Gia Thiều chỉ
nói bằng độc thoại nội tâm của một cá thể cung nữ.
Ông rất tinh vi trong cõi tâm lý và lão luyện trong
sử dụng tiếng Việt để diễn đạt tâm lý ấy.
Mơ hồ nghe tiếng xe ra
Đốt phong hương hả, mà hơ áo tàn
Ba động từ nghe, đốt, hơ cho thấy nỗi mong ước
được gặp vua của người cung nữ. Mong ước mong manh
ở chữ mơ hồ. Mong ước tuyệt voûng ở hương hả, áo
tàn. Và cũng được gợi từ mấy âm hờ nghe như hụt
hơi, hấp hối.
NHỮNG
BÀI LIÊN QUAN:
CẦN
TRẢ LẠI GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT ĐÍCH THỰC CHO KIỆT TÁC
"CUNG OÁN NGÂM KHÚC"
CUNG
OÁN NGÂM KHÚC

|