TƯỞNG NHỚ VI HUYỀN ĐẮC, KỊCH TÁC GIA
TIÊN PHONG CỦA NỀN KỊCH NÓI VIỆT NAM
HOÀNG HƯƠNG TRANG (Nghĩa nữ )
Vi Huyền Đắc qua nét vẽ Tạ Tị
Ông sinh tại Trà Cổ, Hải Ninh, Quảng Ninh, ngày 18
tháng 12 năm 1899. Mất ngày 10 tháng 8 năm 1976, tại
Hà Nội. Tính đến nay, ông vừa tròn 100 năm sinh. Là
nhà văn, nhà viết kịch nói trong giai đoạn đầu của ngành
kịch Việt Nam, thời chỉ mới có vài người dám phóng mình
đi tìm con đường lạ, thổi một luồng gió mới vào sân
khấu của nước ta. Thủa ấy, người Việt Nam chưa tiếp
xúc với loại sân khấu kịch nói kiểu Tây phương mà chỉ
quen thuộc với tuồng, chèo... ở miền Nam cũng chỉ mới
sơ khai hát cải lương, hát chặp, hát bài hoặc trích
đoạn dựa trên truyện Tàu. Ông còn một bút danh khác
là Giới Chi.
Lúc sơ sinh, ông là một người con khó nuôi, nên các
cụ thân sinh "bán khoán" vào làm con Đức Thánh
Trần ở đền Kiếp Bạc, mang họ tên Trần Văn Đ¡c theo vị
danh tướng họ Trần. Đến 10 tuổi mới "tháo khoán"
trở lại họ Vi. Ông tổ nhiều đời của họ Vi chính là họ
Hàn, giòng Hàn Tín bên Tàu, vì tránh liên lụy tội tru
di, chạy sang Việt Nam, lấy một nửa chữ Hàn làm thành
chữ Vi, gọi là "Độc cước Hàn", tức "Hàn
một chân" làm họ, từ đó có họ Vi. Giòng họ này
có hai nhánh, một sinh sống ở mạn ngược, nối tiếp làm
Quan Lang cai trị những bộ tộc miền cao, một sinh sống
ở miền biển cùng với người Kinh, nhánh này chính là
nhánh của ông Vi Huyền Đ¡c ở Quảng Ninh, Hải Phòng.
Cụ thân sinh là Vi Hồi Ngọ, người cao lớn, đến 1m80,
ở Pháp một thời gian khá dài làm nghề thầu xây dựng,
trở về nước lấy vợ là con gái cụ Nguyễn Tư Giản, tổng
đốc Ninh Thái, thượng thư bộ Lại dưới triều Tự Đức,
đã từng đi sứ sang Trung Quốc, đến tận lò gốm sứ nổi
danh của Trung Quốc, tự tay chế tác một bộ ấm chén trà,
trên đó có nét bút của ông đề hai câu chữ Nôm "Nghêu
ngao vui thú yên hà, mai là bạn cũ hạc là người thân,"
với nét vẽ cành mai chim hạc, sau này những người chơi
cổ ngoạn rất quí bộ chén hiếm hoi này, hiếm vì được
chế tác rất ít, để vua Tự Đức ban thưởng cho các quan
đại thần. Sau này, chính lò gốm sứ Trung Quốc làm hàng
loạt giả những bộ chén trà như thế, cũng vẽ cành mai,
chim hạc, cũng có hai câu thơ nhưng là chữ Hán chứ không
phải chữ Nôm bút tự của cụ Nguyễn Tư Giản, để phân biệt
bộ chén Mai Hạc thật và bộ giả.
Cái tên Vi Hồi Ngọ của cụ thân sinh là do điển tích
"thái dương hồi ngọ" trong Kinh Thánh Thiên
Chúa Giáo, và thư tịch cổ cho rằng mặt trời thuở sơ
khai quay từ Tây sang Đông, một hôm mặt trời đã quá
ngọ, gần ngã về chiều, bỗng xảy ra một hiện tượng lạ,
mặt trời quay ngược trở lại buổi trưa, hiện tượng này
được giải thích là nguyên do của trận đại hồng thủy
thuở khai thiên lập địa. Sau này ông Vi Huyền Đ¡c đã
lập ra nhà in và xuất bản lấy tên là "Thái dương
văn khố" cũng do điển tích này và để tưởng nhớ
cụ thân sinh tên Hồi Ngọ.
Từ thuở nhỏ ông học chữ Pháp và chữ Hán, tốt nghiệp
Thành Chung tại Hải Phòng, vào học trường Kỹ Nghệ. Vì
thích văn chương, ông tự học chữ quốc ngữ. Khoảng 1923
- 24 ông vào Sài Gòn làm báo, ở cùng nhà thơ Tản Đà
và nhà văn Lê Văn Trương trên căn gác của xưởng mộc
Trần Quì đường Mac Mahon (nay là Nam Kỳ khởi nghĩa)
chính ở giai đoạn này, ba ông Vi Huyền Đ¡c, Tản Đà,
Lê Văn Trương đã chung tiền ra vốn cho cậu tiểu đồng
của các ông mở một gánh Phở theo kiểu phở gánh Hà Nội,
và đó chính là gánh phở đầu tiên của Sài Gòn vào khoảng
1924 - 25. Cũng giai đoạn này ông viết một số bài báo
có xu hướng tiến bộ, ông lại muốn tìm cách xuống tàu
sang Pháp. Chưa thực hiện được thì cụ thân sinh ốm nặng
s¡p mãn phần, gia đình gọi về Hải Phòng giao cho ông
thừa kế sản nghiệp.
Về B¡c, ông cưới vợ, trông nom cơ nghiệp, nối tiếp
bố làm thầu khoán, khai thác mỏ và viết văn, viết kịch.
Giai đoạn này ông và nhà văn Nguyễn Triệu Luật là hai
người tâm đ¡c chí thiết vì vừa là bạn văn chương vừa
là anh em con cô con cậu ruột. Người vợ của ông mất
sớm, để lại cho ông hai người con trai là Vi Giác và
Vi Huyền Trác. Vài năm sau ông tục huyền với cô giáo
Phan Thục Đức, mới vừa học xong sư phạm ra dạy ở Kiến
An, là bạn đồng học và cùng làm việc ở Kiến An với hai
chị em nữ sĩ Tương Phố - Song Khê. Cô giáo Phan Thục
Đức xinh đẹp, hay chữ, giỏi Anh văn, môn sinh ngữ thuở
bấy giờ rất hiếm người học. Cô giáo xinh đẹp ấy đã từng
làm xiêu lòng nhà văn, nhà giáo, sử gia Trần Trọng Kim
thuở ấy. Lúc bấy giờ ông Trần đã là thanh tra học chính,
cũng là bạn chí thân với ông Vi, ông Trần Trọng Kim
còn độc thân hơ hớ, lại có địa vị cao, nhưng cô giáo
Phan Thục Đức lại chọn ông Vi, chàng trai góa vợ, đã
có hai con. Về việc nhân duyên này, ông Trần Trọng Kim
đã có hai câu đối tặng ông Vi:
Trở lại đồng chua chơi Xóm Dưới
Nhảy vào làng giáo phỗng tay trên
Vì họ rất thân nhau, mỗi khi trở lại Hải Phòng, hai
ông Vi - Trần lại d¡t nhau đi hát cô đầu ở Xóm Dưới,
ở Hải Phòng lúc bấy giờ có hai xóm hát nổi tiếng là
Xóm Dưới và Xóm Bà Mau; ông Vi lại không ở trong giáo
giới mà "phỗng tay trên" được cô giáo xinh
đẹp họ Phan.
Bà Phan Thục Đức về sau từng đóng vai cô Lan trong
vở kịch Ông Ký Cóp của Vi Huyền Đ¡c, bà có dịch một
số truyện ng¡n và dịch truyện dài Tâm Tình Người Mẹ
của Alberto Moravia, nhà văn Ý, qua bản Anh ngữ, nhà
xuất bản Khai Trí, Sài Gòn 1965. Bà sống chung với ông
Vi Huyền Đ¡c 37 năm rất tâm đầu ý hiệp nhưng không có
con, 1954 vào Sài Gòn, bà làm hiệu trưởng trường Đinh
Tiên Hoàng ở Đakao, Quận I, cho đến năm bà mất 1963,
tại Hoàng Mai Hiên, xã Bình Hòa, tỉnh Gia Định, nay
là số nhà 2/2 A. đường Tăng Bạt Hổ, Quận Bình Thạnh,
TP/HCM. Hiện nay ngôi nhà cũ này, nơi ông Vi đã sống
và viết từ 1954 đến 1976 vẫn còn dấu tích lưu niệm,
sách in, bản thảo, bút tích, bàn thờ và ảnh thờ hai
ông bà do nghĩa nữ Hoàng Hương Trang vẫn thường xuyên
hương khói ky giỗ.
Ông có hai câu đối đề dưới di ảnh bà Phan Thục Đức:
Anh dại vô cùng, công nợ vẫn còn công nợ đến
Em khôn đáo để, sợ già nên vội lánh già đi
Tại Hải Phòng ngày ấy, thừa kế một sản nghiệp lớn,
có đội thuyền đến 120 chiếc chở đá clinker cho nhà máy
xi-măng Hải Phòng, có cổ phần nhà máy, có mỏ đá vôi
và nhiều tài sản khác, nên ông có điều kiện vừa viết
lách, vừa mở nhà in Thái Dương Văn Khố để xuất bản sách
của mình và của bạn bè rất thoải mái. Sau đó ông càng
ngày càng thấy say mê văn nghiệp hơn doanh nghiệp, nên
bán đi những cổ phần doanh nghiệp của bố để lại, để
chuyên tay sáng tác. Cũng dễ hiểu thôi, một người đã
từng thấu hiểu cái mãnh lực và cái di hại của kim tiền,
đã hạ bút khai từ trong vở kịch nổi tiếng của ông bằng
hai câu:
"Ô hô, Kim tiền, kim tiền, thân chi ngoại vật,
sinh bất đới lai, tử bất đới khứ..."
Cộng với cái triết lý nhân sinh, cái lẽ huyền vi Lão
giáo, Phật giáo đã ngụ vào chính cái Tên của ông, nên
ông không có lý tưởng làm giàu trên thương trường là
phải! Nếu ông chỉ chăm chăm khai thác mỏ, bóc lột công
nhân để làm giàu, cố tiến tới cho bằng nhà tỷ phú họ
Bạch mà thuở ấy ông có thể ganh đua được, thì nền kịch
nghệ nước ta, thì vòm trời nghệ thuật đã không xuất
hiện một vì sao sáng rực rỡ như vậy!
Ngoài văn dịch, trước sau ông đã có trên 20 vở kịch
vừa sáng tác vừa dịch của nước ngoài. Thời kỳ trước
1945 là thời kỳ ông viết khỏe nhất.
Các vở có tiếng vang trong cả nước như: Uyên Ương (1927),
Hoàng Mộng Điệp (1928), Cô Đầu Yến, Cô Đốc Minh, Hai
Tối Tân Hôn (1929), Nghệ Sĩ Hồn (1923), Kinh Kha (1934),
Kim Tiền (diễn lần đầu tiên tại Hải Phòng 29.11.1938.
Được giải thưởng Tự lực văn đoàn 1937), Ông Ký Cóp (diễn
lần đầu tại Hải Phòng 8.10.1938) Trường Hận và Samurai
(Giải thưởng của viện Hàn lâm Nice, Pháp 1936 - 1937)
Lệ Chi Viên (diễn lần đầu tại Hà Nội 1934) Khóc Lên
Tiếng Cười (diễn lần đầu tại Hà Nội 1943) v.v...
Và một số vở kịch dịch của nước ngoài như: Mạc Tin
(của J.J Bernard), Fanny - Marius (của Marcel Pagnol
- Dịch: Kẻ Ở - Người Đi). Riêng vở kịch dịch Kẻ Ở -
Người Đi và vở Trường Hận đã được soạn giả tài danh
Năm Châu chuyển thể cải lương, đã diễn nhiều lần ở Sài
Gòn và các tỉnh trong nước. Vở Trường Hận ông viết bản
đầu tiên bằng tiếng Pháp, nhan đề Éternnel Regret, được
giải thưởng viện hàn lâm Nice như đã nói ở trên, sau
đó ông tự dịch ra tiếng Việt tức vở Trường Hận, nhiều
người đương thời cho rằng ông viết tiếng Pháp hay hơn
tiếng Việt.
Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, tản cư về vùng
Tự Do, ông có dạy học một thời gian cho trường Đại học
Công Chính của kháng chiến, khi trường này cũng sơ tán
về Yên Mô - Ninh Bình. Ông cũng tham gia viết kịch cho
đội kịch địa phương, và công tác báo chí, văn hóa, kịch
nghệ. Sau đó sốt rét nặng, ông trở về Hải Phòng rồi
vào Nam 1954, sống chủ yếu bằng nghề dịch thuật, viết
văn và dạy học ở trường Quốc Gia Âm Nhạc Kịch Nghệ Sài
Gòn. Một thời ông là trưởng bộ môn Kịch và bộ môn Dịch
thuật của Hội Đồng chấm giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật
Toàn Quốc của VNCH từ 1954 - 1975. Ông cũng là phó chủ
tịch nhiều nhiệm kỳ của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam (Vietnam
Pen Center một chi nhánh của Trung Tâm Văn Bút Quốc
Tế Pen International - London). Sau 1954 ông ít viết
kịch, chỉ hoàn tất vở Thành Cát Tư Hãn, bản đầu tiên
viết bằng Pháp văn, rồi ông tự dịch Việt văn, ông Nguyễn
Khang dịch ra Anh văn, đã xuất bản ở Sài Gòn dưới dạng
tam ngữ. Ông cũng viết tiếp vở Từ Hy Thái Hậu và vở
kịch cuối cùng của ông là Nhà Có Phúc đã đăng báo, chưa
xuất bản. Thời gian sống ở Sài Gòn hầu như ông chỉ chuyên
chú dịch Hán văn, Pháp văn, ông có soạn Từ Điển Việt
Nam và Từ Điển Bách Khoa cùng ông Đào Đăng Vỹ, nhưng
công trình này chỉ mới in được một phần rồi bỏ dở. Sau
1975 ông về B¡c thăm quê cũ rồi mất ở Hà Nội ngày 10
tháng 8 năm 1976 thọ 78 tuổi.
Kịch tác gia Vi Huyền Đ¡c là một trong vài nhà viết
kịch có tên tuổi trong thời kỳ hình thành nền kịch nói
Việt Nam. Đa số các vở kịch của ông đã được công diễn
nhiều lần trên nhiều thành phố lớn từ B¡c chí Nam, và
có tiếng vang, để lại ấn tượng sâu s¡c. Những vở kịch
của ông mang tính cách mạng nghệ thuật thật sự, không
lệ thuộc vào chèo, tuồng, hát ả đào... như từ trước.
Tuy nhiên luồng gió mới ấy cũng có người nhất thời chưa
tiếp thu, chưa chấp nhận loại kịch theo công thức Tây
phương này. Có lần vui chuyện, ông kể rằng, nhà thơ
Tản Đà là bạn chí thân của ông, đã từng phê phán: "Ơ,
kịch nói à? Thế có hát không? Kịch mà không hát thì
chán chết!" Nhưng chỉ sau mấy lần công diễn, nhà
thơ núi Tản sông Đà đã b¡t kịp ngọn gió mới của thời
đại. Kịch của ông tựu trung là đề cao chân thiện mỹ,
bảo vệ luân lý cổ truyền, ca tụng đạo đức, đề cao ý
chí nghị lực con người, chê bai sự ngu dốt hủ tục, bài
xích kẻ tham lam háu tiền phi nghĩa, bênh vực tầng lớp
dân nghèo, phu thợ lầm than bị chủ bóc lột, đòi sự công
bằng hợp đạo lý. Vở Kim Tiền dựng nền trên ý tưởng ấy,
và cũng chính là vở kịch đ¡c ý nhất của tác giả. Kim
Tiền cũng chính là vở kịch để lại dấu ấn sâu s¡c nhất
trong lòng người thưởng ngoạn, và cũng chính nó đã đưa
tên tuổi ông lên đỉnh cao của nền kịch nghệ Việt Nam,
đoạt được giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn 1937. Ông cũng
đã thành thạo, nhuần nhuyễn khi sử dụng công thức châm
biếm, gây cười, một công thức rất khó và rất cao, nếu
không đạt tới đỉnh sâu s¡c thâm trầm, thì sẽ chỉ là
cái cười dễ dãi, hời hợt, rẻ tiền. Trong vở Ông Ký Cóp,
ông đã mang đến cho người thưởng ngoạn những tràng pháo
tay tưởng chừng như vỡ rạp, và sau đó còn đọng lại những
suy nghĩ về nhân vật giữa đời thường. Cười để đạt đến
một đạo lý. Còn những vở với tiêu chuẩn nghệ thuật vị
nhân sinh, như Nghệ Sĩ Hồn, hay lấy đề tài từ Thánh
Kinh, như vở Giêsu Đấng Cứu Thế, hoặc rút ra từ điển
tích lịch sử như Kinh Kha, Thành Cát Tư Hãn, Lệ Chi
Viên, Bạch Hạc Đình v.v... sau này ông vẫn cho là không
ưng ý l¡m.
Vi Huyền Đ¡c, dù viết truyện, viết sách dạy sửa chữa
máy nổ (vì ông từng học trường Kỹ Nghệ thực hành, khá
giỏi về máy móc), hay làm báo, soạn tự điển, tìm tòi
lối chữ Việt Tự mới, dù dịch thuật hay dạy học... Nhưng
cái còn đọng lại trong lòng người thưởng thức nghệ thuật,
cái đưa ông vào chỗ ngồi xứng đáng trong văn học, cái
để tên tuổi ông còn mãi trong tự điển văn học, vị trí
chính đáng và vinh quang của ông vẫn là cái danh hiệu
cao quí "Kịch tác gia." Cùng với Vũ Đình Long,
Thế Lữ, những kịch tác gia buổi đầu đi tiên phong, ông
đã thực sự là một người góp tim óc tạo dựng một nền
kịch nghệ Việt Nam, đóng góp những giá trị lớn lao,
tạo bước chuyển biến mạnh mẽ nghệ thuật kịch nói, thổi
một luồng gió mới vào sân khấu Việt Nam trong thời kỳ
đầu kịch nghệ còn non nớt, và xây một cái nền vững ch¡c
để từ đó kịch nói đứng dậy có tầm cỡ.
Ông là một người sống rất đơn giản, đạm bạc, tính tình
rất nhu hòa, có pha đôi nét hồn nhiên nữa là khác. Ông
không ưa tranh chấp với ai, ở Trung Tâm Văn Bút Việt
Nam, nhiều người thấy sao qua mấy nhiệm kỳ bầu bán,
và với uy tín của ông mà họ vẫn không bầu ông làm chủ
tịch, cứ là cụ Phó Vi hoài? ông cười ha hả trả lời bằng
một câu thơ dí dỏm:
Ai nhất thì tôi xin nhì
Ai tranh chỗ ấy, tôi thì thứ ba
Ông rất vui tính, gần gũi lớp trẻ, có lúc bị khen chê
gì đó ông cũng không tức giận mà còn bảo: "Đất
không chịu giời, thì giời cũng phải chịu đất vậy,"
một bạn trẻ nào đấy cười bảo: "Thế là cụ vẫn là
giời đấy ạ." Ai có điều gì hỏi ý kiến, ông hết
lòng chỉ bảo, bỏ công cả ngày trời tìm tài liệu hết
sách này, tự điển nọ, có khi, phải tìm đan chéo từ tự
vị Tây ra Hán, Hán ra Nhật, Nhật ra Việt cho bằng được
một chữ gì đó. Cũng may hồi ấy thư viện trung ương ở
đường Gia Long, Sài Gòn có khoảng 100 chỗ ngồi dành
riêng ở trên lầu dành cho các vị học giả, nhà văn, nhà
nghiên cứu, nên việc tìm sách báo tài liệu khá dễ dàng
thuận tiện, nếu có một cái thẻ "chỗ ngồi dành riêng."
Ông rất ham thích học hỏi, dạo ấy, để đọc được và nói
được Bạch thoại, ông đã không quản ngại tuổi già, đường
xa, cứ vài ba hôm được lúc rỗi rãi, ông lại đi xe bus
vào Chợ Lớn, lân la trò chuyện bằng Bạch thoại với những
cửa hàng bán sách Tàu, làm quen với những văn nghệ sĩ
người Hoa, như nhà thơ Thi Đạt Chí, cụ Lô Sơn, nhà văn
nữ Dư Diễm Khanh, dịch giả Liêu Quốc Nhĩ... cả với anh
hàng sách, hàng vẽ tranh sơn thủy, cả tiệm bán hoành
thánh, bánh bao, tiệm bán trà... có khi đi lang thang
thơ thẩn đọc những bảng hiệu tiếng Hoa, những câu đối
ở chùa Tàu... nhờ đấy ông đã đọc được tác phẩm Lâm Ngữ
Đường, Lý Phí Mông, Quỳnh Dao, Quách Lương Huệ, Mặc
Nhân, Từ Vu... bằng nguyên tác bạch thoại để cho ra
những bản dịch Khói lửa kinh thành, Tấn bi kịch trong
đình viên, Khúc ca mùa thu, Anh hùng tay bánh, Chim
trời cá nước, Ba đóa hoa, Ánh sáng và bóng tối, Cô gái
điên, Một gia đình, Chung thân đại sự, Láng giềng, Áp
bức, Khổng Tử gián đạo chích...
Ông còn là một người có ý chí và nghị lực phi thường,
sau gần 40 năm đánh bạn với nàng tiên nâu, ông đã thấy
rõ cái tai hại ghê gớm của thuốc phiện, ông không để
cho nó khống chế, bóc lột ông đến đồng bạc cuối cùng,
giọt sinh lực cuối cùng, ông tuyên chiến với mâm đèn:
"Hoặc tao chết, hoặc mày phải chết!" và trong
tích t¡c, ông quyết định gọi người Tàu vẫn thường bán
thuốc phiện cho ông, đến mang ngay tất cả mâm đèn đi
cho khuất m¡t, ông chỉ cho không, mặc dầu bộ mâm đèn
của ông rất quí giá. Ông bỏ hút ngay không do dự, không
cần phải cai dần dần như nhiều người khác. Nàng tiên
nâu đã hành hạ thân xác ông đến ba năm ròng rã mới chịu
tha mạng cho ông. Thế là cuối cùng ông chiến th¡ng!
Sau này trong lúc vui chuyện, ông thường kể với lớp
trẻ chúng tôi: "Hạng Vũ bí thế, khi đến bờ sông
Dịch, rút dao c¡t xoẹt cái đầu mình, tặng cho người
đình trưởng ân nhân, bảo nộp cho quân địch mà lãnh thưởng,
hành động ấy cũng còn quá dễ, chỉ c¡t xoẹt cái là xong.
Còn người bỏ thuốc phiện, nó c¡t mình từng phân vuông
da thịt, nó tùng xẻo mình từng giây từng phút, đau đớn
quằn quại, chết đi sống lại trăm ngàn lần, kéo dài mấy
năm trời, phải hết sức kiên trì mới mong th¡ng được
nó." Ông đã oanh liệt chiến th¡ng nàng tiên nâu
từ 1958, và đến sau này, cả điếu thuốc lào ông cũng
bỏ, chỉ còn ngậm hờ cái ống Pipe nhồi thuốc rời Basto
xanh cho vui miệng. Đó có thể nói là một sự kiện đặc
biệt trong giới văn nghệ sĩ thời ấy, có một số bạn trẻ
mới tập tễnh bước chân vào làng văn làng thơ lại cứ
đâm đầu vào tập tành rượu chè thuốc xái, tưởng những
chất độc hại ấy giúp họ đến gần "Yên sĩ phi lý
thuần," cho đến khi hiểu ra thì đã quá lậm, lại
không có can đảm c¡t đứt. Ngay thời đại chúng ta đang
sống đây bài học ấy vẫn còn có giá trị cảnh tỉnh cho
bao người!
Nhờ bỏ được thuốc phiện, ông lấy lại được sức lực và
sự minh mẫn. Ông làm việc rất cần cù, thức dậy từ bốn
giờ sáng, tự tay đun nước pha trà, uống xong tuần trà
nóng cho tỉnh người, là ngồi vào bàn làm việc, giấy
tờ, bản thảo, sách vở rất thứ tự. Đến tám giờ là nghỉ
tay dùng bữa điểm tâm. Ông rất thích làm việc vào giờ
sáng sớm như thế, để yên tĩnh và không có khách bạn
đến vào giờ ấy. Duy nhất chỉ có một người lâu lâu đến
thăm ông vào lúc năm giờ sáng là nhà văn Nguyễn Ngu
Ý, trên đường từ nhà thương điên Biên Hòa về nhà ở xóm
Bàu Sen, nay là đường Nguyễn Trãi. Những nhà văn lão
thành có lối sống thanh đạm và làm việc cần cù như thế
rất hiếm, nhà văn Nguyễn Hiến Lê, nhà văn Lê Văn Siêu
cũng có công thức làm việc như vậy.
Văn phòng của nhà văn Lãng Nhân Phùng Tất Đ¡c, ở số
3 Nguyễn Siêu, và cũng là nhà in Kim Lai ấn quán, là
nơi gặp gỡ của các ông Tchya Đái Đức Tuấn, Lê Văn Trương,
Nhất Linh, Thanh Lãng, Lê Văn Siêu, Nguyễn Hiến Lê,
Giản Chi v.v...
Nhà văn Lãng Nhân tặng ông đôi câu đối, nói lên hết
cái lẽ Vi Huyền như tên ông:
Vạn sự tổng qui không, hà tất dĩ không vi thực sự
Nhân tình đa thị hí, bất phương tương hý tác chân tình
Và bốn chữ đại tự của nhà văn Lãng Nhân mà ông rất
tâm đ¡c: "Biệt hữu thiên địa" (Ý nói ở đấy
riêng có đủ cả trời đất, nghĩa là cái sân khấu vậy).
Đối với bạn tâm giao, cố tri, ông nhớ tha thiết những
tên tuổi như: Đào Duy Anh, Đồ Phồn, Nguyễn Tuân, Thế
Lữ, Lê Đại Thanh... ông luôn nh¡c đến trong câu chuyện.
Sau ngày thống nhất 30.4.1975, ông đã được toại nguyện
gặp hầu hết những người ông nhớ và mong gặp lại. Nhìn
các cụ là bạn của nhau từ thời trai trẻ, đến lúc gặp
nhau đều đã râu tóc bạc phơ, họ ôm chặt lấy nhau nước
m¡t ng¡n dài thật là cảm động! Nhà văn Nguyễn Tuân vẫn
giữ một bản Kim Tiền giấy tốt do hội nhà văn Hà Nội
in 1958 nghĩa là sau khi ông Vi Huyền Đ¡c đã vào Nam
được bốn năm, mãi sau tháng 4-75 nhà văn Nguyễn Tuân
mang vào tận Sài Gòn trao tận tay tác giả cùng với phiếu
trả bản quyền cho người con trai ông ở Hà Nội nhận thay,
tính ra trị giá bằng 30 chiếc xe đạp thời điểm 1958
ấy. Điều này là một niềm vui to lớn với ông, không phải
vì trị giá bản quyền tác giả khá lớn, mà còn đo được
cái tình cảm to lớn hơn gấp bội. Nhà thơ Thế Lữ gặp
lại ông, hai ông đã suốt nửa ngày chỉ nói toàn chuyện
Kịch, tưởng chừng họ đang thảo luận tiếp về một vở kịch
nào đó vừa bàn cãi hôm qua chưa xong!
Ông cũng rất nhớ những kỷ niệm trên sàn diễn, những
nghệ sĩ xuất s¡c, những vai diễn nhân vật của ông, những
nét độc đáo qua vai Đường Minh Hoàng, Dương Quí Phi,
An Lộc Sơn... diễn xuất tài hoa của nữ nghệ sĩ Phùng
Há, Thanh Tùng, Bích Thuận trên kịch bản chuyển thể
cải lương của soạn giả tài danh Năm Châu. Những đêm
công diễn của đoàn kịch Thế Lữ ở Hà Nội và Hải Phòng
như luôn hiện ra rõ ràng từng chi tiết trước m¡t ông.
Nhân kỷ niệm 100 năm sinh và 23 năm kịch tác gia Vi
Huyền Đ¡c qua đời, tưởng nhớ một nhà văn, một nghệ sĩ
lớn, người đã cống hiến cả đời mình cho văn học nước
nhà, đã để lại cho nền nghệ thuật sân khấu Việt Nam
một gia tài tim óc lớn lao và giá trị đã được khẳng
định, được lọc đãi qua thời gian; là đứa con được người
dạy dỗ, nuôi dưỡng, tôi xin chân thành tưởng niệm với
tất cả lòng kính yêu và biết ơn vô hạn.
Tài liệu tham khảo:
- Sống và Viết - Nguyễn Ngu Ý - SG 1965.
- Tự điển Văn Học - NXB Khoa Học Xã Hội - SG 1984.
- Tin Sách - Trung Tâm Văn Bút Việt Nam - SG 1967 -
1975.
- Những chuyện kể của KTG Vi Huyền Đ¡c lúc sinh thời.
- Tài liệu văn học của nhà văn Nguyễn Triệu Nam (con
trai nhà văn Nguyễn Triệu Luật).
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM:
KỊCH: KIM TIỀN.
Kịch
Việt Nam: ngoại sinh và nội sinh
20
năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975
|