|
20 năm
văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975
LTS: Tác giả Nguyễn Văn Lục tốt nghiệp cử nhân
Triết Đà Lạt năm 1963, dạy tại nhiều trường trước 75:
Võ Tánh Nha Trang, Ngô Quyền, Khiết Tâm Biên Hoà, Cứu
Thế, Trường Sơn, Văn Hoá và trung tâm Cao Bá Nhạ ở Sàigòn.
Văn học dịch kể như không có trong mắt một số nhà
văn, nhất là một số người làm công tác phê bình văn
học nghệ thuật. Nhà văn Võ Phiến có bộ sách dày gần
2000 trang về Văn học miền Nam nhưng đối với mảng Văn
học dịch thì ông hà tiện lắm: vỏn vẹn có hai trang.
Trong hai trang đó, ông lại dành để nói lên cái nỗi
lo sợ của một số người làm văn hoá lúc bấy giờ vì sự
tràn ngập sách dịch ở miền Nam vào cuối những thập niên
60 và đầu 70. Võ Phiến đã có công lập một danh sách
những người làm văn nghệ trong Nam như các nhà thơ,
các nhà văn... ngay cả những người viết về Triết, về
Sử, các người làm nghiên cứu về ngôn ngữ học, những
người viết về chính trị như ông Vũ Tài Lục hay Nguyễn
Bảo Trị cũng có tên nhưng lại không lập danh sách các
dịch giả. Vì trong tập mở đầu Văn học miền Nam tổng
quan, Võ Phiến đã có lời hứa: "Các tập kế tiếp
sẽ được dành cho từng bộ môn sáng tác". Thế là
rõ ràng rồi, phải sáng tác mới được. Thật cũng chẳng
muốn làm khó Võ Phiến, nội cái việc chọn người này,
không chọn người kia cũng đủ làm ông mệt rồi.
Riêng những người làm công việc dịch thuật thì kém
may mắn thật. Tên họ đã không có. Chẳng hạn như chị
em Phùng Thăng, Phùng Khánh rồi Vũ Đình Lưu, Hải Triều,
Ngọc Thứ Lang, Nguyễn Văn Sơn, Trần Thiện Đạo, Bửu Ý,
Phạm Kim Khôi, Nguyễn Hữu Hiệu, Đinh Bá Kha hay các
dịch giả dịch tiểu thuyết Tàu như Hàn Giang Nhạn, Liêu
Quốc Nhĩ và hằng trăm người khác. Họ không có mặt. Điều
đó chúng ta phải nghĩ thế nào? Phải chăng sách dịch
là thứ văn hóa ngoại lai không đáng được nói tới? Vậy
mà cái thị phần sách dịch theo Võ Phiến đã có một thời
vào năm 1970 chiếm đến 60% và đến năm 1972 đã lên đến
80% toàn bộ đầu sách xuất bản ở miền Nam. Trần Trọng
Đăng Đàn, trong Văn Hoá, Văn Nghệ Nam Việt Nam 1954-1975
cũng đưa ra con số chính xác như Võ Phiến. Cũng theo
Trần Trọng Đăng Đàn, sau kết quả điều tra, tiến hành
vào tháng 7-1976, số sách dịch của miền Nam trong 20
năm bao gồm: Đức 57 đầu sách, Ý 58, Nhật 71, Anh 97,
Mỹ 273, Pháp 499, Đài Loan và Hương Cảng 358, Nga 120,
còn lại các nước khác 38.1 Những con số vừa nêu trên
đáng để ta suy nghĩ lắm chứ?
Trong những năm đầu, từ 1955 đến 1960 số đầu sách dịch
kể ra còn thưa thớt. Không phải chính quyền không lưu
ý đến điều đó, bên cạnh công tác dịch thuật của các
cơ quan văn hóa như Cơ quan viện trợ Á Châu (Asian Foundation),
Phòng thông tin Hoa Kỳ, Hội Việt Mỹ, Phù Luân Hội và
nhất là Hội văn hoá Á Châu (Asian culture association),
ngay từ cuối 1955 Bộ thông tin dưới thời tổng thống
Ngô đình Diệm đã ban hành nghị định về: Thủ tục kiểm
duyệt ấn phẩm nước ngoài nhập cảng - ấn định thủ tục
duyệt các sách dịch - về tiền thù lao dịch thuật và
các loại sách được nhập cảng vào VN. Đến thời tổng thống
Nguyễn văn Thiệu, đã thành lập Ủy ban dịch thuật do
ông Mai Thọ Truyền làm chủ tịch. Năm 1970 đã thiết lập
Hội đồng chấm giải dịch thuật. Năm 1971, tổng thống
Thiệu đã xuất quỹ một triệu bốn trăm ngàn đồng cho các
giải về dịch thuật. Nhưng tất cả những nỗ lực từ phía
chính quyền và các cơ quan Văn Hóa thật sự chẳng có
ảnh hưởng là bao nhiêu đến sinh hoạt dịch thuật ở miền
Nam, đôi khi còn gây phản tác dụng có hại.
Khung cảnh lúc bấy giờ ở miền Nam, nhất là sau khi
Sáng Tạo ra đời vào tháng 10-1956, có một không khí
nở rộ, tưng bừng. Mọi sinh hoạt văn học như bừng trỗi
dậy: thơ văn, sách báo tiểu thuyết, hội họa. Báo có
Ngôn Luận, Tự Do thu hút được nhiều cây viết có tài.
Nhạc có Phạm Duy. Hội họa có Tạ Tỵ, Thái Tuấn, Duy Thanh.
Triết Tây có Nguyễn Văn Trung và Nguyễn Nam Châu với
hai cuốn: Những nhà văn hoá mới (1958) và Sứ mệnh Văn
Nghệ (1958)2. Hai cuốn sách này đã gây thích thú cho
nhiều độc giả thời kỳ đó. Chỉ tiếc rằng, sau đó Nguyễn
Nam Châu đi du học rồi làm giáo sư ở Bỉ không thấy xuất
hiện nữa. Báo tuần có Sáng Tạo khua động, phất trống
mở cờ với lời tuyên bố của Mai Thảo trong Sáng Tạo,
số 1, 1956: "Sàigòn thay thế cho Hànội, từ một
đô thị miền Nam trở thành thủ đô tinh thần của toàn
thể đất nước. Sàigòn sáng tạo và suy tưởng". Tiếp
theo là Văn Hoá Ngày Nay, Bách Khoa, Hiện Đại, Thế Kỷ
20, v.v..
Sự có mặt của Sáng Tạo vô tình đã đẩy lui một số khuôn
mặt những nhà văn, nhà thơ cũ vào im lặng, tệ hơn nữa
vào bóng tối. Họ là những Đông Hồ, Vũ Bằng, Quách Tấn,
Thiên Giang, Thẩm Thệ Hà, Tam Lang, Vi Huyền Đắc và
đặc biệt là Nhất Linh với tờ Văn Hóa Ngày Nay. Khi số
báo đầu tiên của Văn Hóa Ngày Nay ra ngày 27-06-1958
đã bán được 10.000 số. Sự tò mò háo hức tìm lại Tự Lực
Văn Đoàn nhanh chóng trở thành nỗi thất vọng: Vẫn thế...
Không ai ngờ sau đó độc giả bỏ rơi Nhất Linh. Nghĩ lại
cái thời từ 1930-1945, Nhất Linh huy hoàng quá, không
ai hơn ông đuợc. Làm sao ông không buồn? Nói cho cùng
cũng chẳng phải tại Sáng Tạo. Cuộc di cư của người Bắc
vào Nam đã bỏ lại sau lưng gần như toàn bộ quá khứ một
cách không tương nhượng, cả một truyền thống văn học,
một nếp sống, nếp nghĩ vào đến trong Nam theo quy trình
hội nhập đã tự động cởi rũ để hội nhập. Sáng Tạo có
mặt vì đem lại một cái gì mới, chặt cầu với cái cũ,
giới thiệu cái ngày hôm nay, dù ngày hôm nay chưa định
hình và chưa biết hôm nay là cái gì... Văn Hóa Ngày
Nay muốn làm sống lại thời 45, điều đó đi ngược lại
tiến trình hội nhập xã hội khiến bị loại là điều khó
tránh được.
Riêng Sáng Tạo, mặc dầu được tài trợ của chính quyền
cũng chỉ có mặt vỏn vẹn có 31 tháng. Mặc dù vậy, đó
là những giai đọan đem lại nhiều thay đổi, nhiều triển
vọng sau này cho các lớp nhà văn trẻ nam và nữ của thập
niên 60. Trước tình hình như thế, sinh hoạt dịch ra
sao? Thật ra miền Nam lúc đó không thiếu những người
có đầy đủ uy tín và trình độ để dịch thuật. Họ có vốn
liếng tiếng ngoại quốc Anh và Pháp ngữ, đi du học về.
Chẳng hạn, tờ Sáng Tạo cứ mang tiếng là cửa ngõ đem
chủ nghĩa Hiện Sinh vào VN. Nào đã có ai dịch cái gì
đâu? Chỉ có rải rác một vài bài sau đây: Văn chương
và Siêu Hình Học, Nguyễn văn Trung, số 10 tháng 7-1957;
Nhận định đại cương về triết học Hiện Hữu, Nguyên Sa,
số 14 tháng 11-1957; Khái niệm về chủ nghĩa Hiện Sinh,
Quang Minh, số 28-29 tháng 1 và 2-1959; Trình bầy và
phê bình hai quan điểm nổi loạn của Camus, Thạch Chương,
số tháng 9-1960. Dịch và giới thiệu: Người đàn bà ngoại
tình của Camus, Nguyễn Văn Trung, số tháng 12-1960.
Hình như chỉ có vậy. Trong khi đó, trên tờ Bách Khoa,
có tất cả 21 bài viết liên quan đến triết học Hiện Sinh.
Phần lớn do Trần Hương Tử, tức Trần Thái Đỉnh viết từ
Kierkergaard, Heidegger đến Husserl, Sartre, Camus.3
Thật sự triết học Hiện Sinh được giới thiệu và được
nói tới nhiều từ tạp chí Đại Học Huế, có 23 bài viết
về triết học Hiện Sinh.4 Nhưng số sách dịch và biên
khảo về chủ nghĩa này chỉ ảnh hưởng nơi một số sinh
viên, nhất là những sinh viên Văn Khoa.
Sách dịch Jean Paul Sartre
Phần lớn sách dịch về Sartre là ở phần văn chương
Hiện Sinh, phần tiểu thuyết của Sartre. Những tác phẩm
về triết lý Hiện Sinh như L’Etre et le Néant (1943),
Critique de la raison dialectique (1960) đã không được
dịch. Có muốn dịch cũng không phải dễ. Về Sartre có
những dịch phẩm sau:
Cuộc tranh luận về văn nghệ giữa Sartre, Y.Berger,
Simon {Trần Thiện Đạo}, báo Văn số đặc biệt về J.P Sartre.
Sartre tỏ rõ thêm về quyển Les Mots, bài của J. Platier
{Trần Thiện Đạo}. Tiền Phong là gì? {Lê Huy Oanh}. Sartre
nói về Sartre {Trần Thiện Đạo}. A. Camus, J.P. Sartre
{Trần Thiện Đạo}. Guồng máy L’engrenage {Trần Phong
Giao}. Ả giang hồ La pute respectueuse {Nguyễn Minh
Hoàng}. Không một nấm mồ Morts sans sépultures rồi Les
séquestrés d’Alton và Sự đã rồi Les jeux sont faits
{Trần Phong Giao}. Những ruồi Les Mouches và Buồn nôn
La nausée {Phùng Thăng}, nxb AnTiêm. Bức tường Le mur
{Lê Thanh Hoàng Dân}.5
Sự nghiệp của Sartre đồ sộ như thế, không lạ gì mà
đám ma ông vào năm 1980 được xem như một sự tiễn biệt
một trí thức hàng đầu, một nhà văn cuối cùng của nước
Pháp, đã nhắc nhở người ta nghĩ tới đám ma của Victor
Hugo một thế kỷ trước. Nhưng những ảnh hưởng về triết
học từ tác giả này đối với người đọc VN phải kể là nhỏ
nhoi. Trừ những sinh viên theo ban Triết.
Sách dịch Albert Camus
Camus đã được dịch khá nhiều. Giữa Sartre và Camus,
độc giả VN chọn đọc Camus nhiều hơn. Vũ Đình Lưu dịch
Người đàn bà ngoại tình. Trần thiện Đạo dịch Gió về
Djémila. Nguyễn Minh Hoàng dịch Cắt nghĩa cuốn Người
xa lạ, J.P. Sartre. Bên cạnh đó còn Ngộ nhận, Bạo chúa
Caligula, Con người phản kháng, Mùa hè-sa mạc cũng đã
được dịch.Riêng cuốn L’étranger, theo dịch giả Trần
Thiện Đạo đã được các tác giả sau đây chuyển ra tiếng
Việt: Người xa lạ, A. Camus{Võ Lang}, nxb Thời Mới 1965.
Kẻ xa lạ {Dương Kiền và Bùi ngọc Dung}, nxb Ngày Nay
1965. Kẻ xa lạ {Lê Thanh Hoàng Dân và Mai Vi Phúc},
nxb Trẻ 1973. Người dưng {Dương Tường}, nxb Văn Học,
Hà Nội 1995. Và mới đây nhất Kẻø xa lạ {Nguyễn Văn Dân},
nxb Văn Hóa, Hà Nội 2002. Tại sao có sự dịch trùng lập
đến lạ lùng như vậy? Vì tác giả nổi tiếng quá? vì cuốn
L’étranger hay quá? Vì những người đi trước dịch dở
quá? Vì nhu cầu độc giả mê đọc? Hay dịch lại từ bản
dịch trước thì đỡ tốn công sức? Khoảng cách thời gian
giữa bản dịch đầu đến bản dịch cuối cách nhau 35 năm
có nói lên điều gì hay không? Trên báo Văn, số tưởng
niệm A.Camus 1-1-1965 có những bài sau đây: Trần Phong
Giao dịch ‘La Peste’ Dịch hạch. Vũ đình Lưu dịch Nền
tảng Đạo Đức luận của Camus. Trần Phong Giao dịch Sứ
mệnh văn nghệ hôm nay.
Nhưng thật sự mà nói, chủ nghĩa Hiện Sinh giới hạn
vào một số thành phần sinh viên, trí thức rất chọn lọc.
Nghe thì ai cũng nghe, biết loáng thoáng thì có, nhưng
biết khá một chút thì không dễ. Vì thế, triết lý này
chỉ ảnh hưởng rõ nét trên cái mốt sống Hiện Sinh, hay
cái phong thái Hiện Sinh. Cái đó thì có rất nhiều và
có tràn lan. Miền Nam lúc bấy giờ, bất cứ cái xì căng
đan nào cũng đều đổ oan lên đầu triết lý Hiện Sinh.
Một vụ tự tử, một chuyện tình ái lăng nhăng, người ta
vội nói: do ảnh hưởng chủ nghĩa Hiện Sinh. Cái "thương
hiệu" đó sau này, những người Cộng Sản khi vào
tiếp thu cũng cứ nhắm mắt kết án liều một cách hồ đồ.
Mấy ai trong họ đủ điều kiện, đủ hiểu biết để phê phán?
Phê phán những bèo bọt, bên lề với dụng ý chính trị
mà cứ lầm tưởng rằng mình đang làm một cuộc phê phán
văn học, triết học?
Sách dịch Francoise Sagan
Thời trang Hiện Sinh khi đó có người đại diện là Francoise
Sagan. "Đứa con hoang của chủ nghĩa Hiện Sinh".
Cuốn sách của Nguyễn Nam Châu, Những Nhà Văn Hóa Mới
đã mở cửa chào đón Sagan vào VN, từ đó mà Sagan nổi
tiếng. Cái mốt Hiện Sinh cũng còn được trực tiếp giới
thiệu trên Bách Khoa, năm 1958 với bài: Sứ mệnh văn
chương của Francoise Sagan của Cô Liêu, tức Vũ Đình
Lưu, một dịch giả tài ba. Sagan Francoise Quoiriez sinh
năm 1935, viết cuốn Bonjour Tristesse vào năm 1954 lúc
18 tuổi. Đó là câu chuyện của Cécile đã đẩy người tình
của cha mình đến chỗ phải tự tử. Dân chúng Pháp nhìn
Cécile như một mẫu sản phẩm điển hình của thế hệ trẻ
"produit–type". Trong vài tuần, hàng triệu
ấn bản đã được bán ra. Với đám đông độc giả Pháp, họ
đồng hoá tác giả Sagan vào mẫu người của Cécile, lớp
thanh thiếu niên Hippie hay "nouvelle vague"
. Điều đó thật là lạ. Tác giả và nhân vật truyện trở
thành một người. Trong tiểu thuyết có Sagan, trong điện
ảnh thì có James Dean. Đó là những lớp người trẻ, thuộc
gia đình giàu có, nhưng chán không biết làm gì sau chiến
tranh. Họ làm tình lúc họ muốn, uống rượu "sec",
vào hộp đêm, đua xe thể thao, sống bất cần...
Bên Việt Nam, vào năm 1959, Nguyễn Vĩ đã dịch cuốn
Bonjour Tristesse là Buồn ơi chào mi. Sau đó, Lê Huy
Oanh, một giáo sư Anh Văn cũng nhảy vào dịch lại Bonjour
Tristesse thành: Buồn ơi, xin chào. Nguyễn Văn Trung
tiếp nối với bài: Trường hợp Sagan hay vấn đề luân lý
trong tiểu thuyết.6 Và sau đó, Nguyễn Minh Hoàng dịch
‘Un certain sourire’ Có một nụ cười (sau này, Nguyễn
Minh Hoàng dịch chung với Võ Phiến các cuốn: Truyện
hay các nước 1 và 2 ). Rồi bẵng đi một thời gian dài,
mãi đến năm 1973, Bửu Ý mới dịch: Dans un mois, dans
un an Một tháng nữa, một năm nữa. Nhan đề cuốn sách
của Sagan có thể đã được rút ra từ hai câu thơ của Jean
Racine trong Bérénice: Combien ce mot cruel est affreux
quand on aime? Dans un mois, dans un an, comment souffrirons-nous?
Cũng năm 1973 Đinh Bá Kha dịch Les merveilles nuages
Những đám mây huyền diệu.
Francoise Sagan là một hiện tượng trong văn học dịch
của miền Nam thời bấy giờ. Lối viết thật ngắn, lối sống,
lối nghĩ thẳng băng đến thản nhiên, đến vô tình. Quan
hệ tình dục ngang trái, khác đời thường của một nữ sinh
còn trên ghế nhà trường trực tiếp tác động trên đời
sống thanh thiếu niên thành thị miền Nam. Nó quyến rũ
lạ thường, vì nó mới quá, điều mà trước đây không ai
nghĩ tới, mà nghĩ tới được thì cũng cho là những liên
hệ ngang trái hay bất thường. Các nhà văn trong nhóm
Sáng Tạo, Bách Khoa, Hiện Đại, Thế kỷ 20 cộng lại cũng
không có được một ảnh hưởng đậm nét như thế. Những nhân
vật truyện của Sagan như Dominique, nữ sinh còn trẻ,
Luc, người đàn ông đã 40 tuổi là những nhân vật sống
động, quyến rũ giới trẻ...
Các nhà văn nữ vào những thập niên 60 như Nguyễn Thị
Hoàng, Túy Hồng, Lệ Hằng, Nguyễn Thị Thụy Vũ có nét
gì trùng hợp với Sagan? Có phải là những đứa con hoang
của chủ nghĩa Hiện Sinh qua Sagan không? Chẳng ai dám
nói họ bắt chước. Nhưng phảng phất không khí Sagan.
Vòng tay học trò là một tỉ dụ. Sống ngoài vòng, sống
buông thả, liên lạc tình dục đậm đặc sống sượng, thô
bạo. Cái cảm giác khi đọc các nhà văn này (trừ Nguyễn
Thị Hoàng) là họ còn đi xa hơn các nhà văn nam giới
và đi xa hơn cả Sagan trong những mô tả tính dục.7 Chẳng
hạn, Sagan tả những liên hệ tính dục một cách phơn phớt,
không đào sâu, không đậm đặc, "không mặn",
không sống sượng như Túy Hồng hay Nguyễn Thị Thụy Vũ.
Đọc những nhà văn viết mặn này xong là khát nước. Lối
văn của Sagan cụt, hụt hẫng, hững hờ, không màu mè,
diêm dúa. Mục đích của Sagan không phải là mô tả những
scènes tình dục cho bằng muốn nhắn gửi: cuộc đời chẳng
có gì quan trọng, ngay như chuyện làm tình... Luân lý
cũng vậy vậy, đạo đức vậy vậy. Cuộc đời trong một ngày,
một tháng, một năm, có gì là lạ. Thản nhiên, vô cảm.
Cái điều mà bà muốn nhắn gửi là cuộc đời này chẳng có
ý nghĩa gì, cuộc sống chẳng ra làm sao. Có sao cũng
chẳng làm sao? Trong khi đó, các nhà văn nữ kể trên
dừng lại ở những điều mà đáng nhẽ chỉ là phương tiện
mà nhà văn phải vượt qua, bởi vì nếu không vượt qua
được thì chỉ là những cuốn tiểu thuyết mô tả tình dục.
Vấn đề là chiều kích của tác phẩm, dự phóng và sứ điệp
muốn nhắn gửi. Nhà văn lớn hay nhỏ là ở chỗ ấy.
Ngay cả đến truyện của Chu Tử, có cái gì hao hao giống
với những nhân vật truyện của Sagan. Tiểu thuyết đầu
tiên của ông: Yêu với chú Đạt và cô "cháu gái"
tên Diễm đã hứa lấy chú Đạt ngay từ hồi 9 tuổi. Điều
đó bắt người ta liên tưởng đến những Luc và Dominique.
Nhân vật của Chu Tử táo bạo, ngang ngược, liều lĩnh,
ẩu, bất chấp... nhưng để làm gì mới được? Chu Tử cũng
chỉ dừng ở chỗ mô tả nhân vật, chưa kích lên được, chưa
đặt thành vấn đề? Vẫn lại là vấn đề chiều kích của tác
phẩm.
Sách dịch Pearl Buck, St Exupéry, Hemingway
Tiếp theo đó, có một số nhà văn như St Exupéry (1900-1944),
Pearl Buck cũng được nhiều độc giả Việt Nam ái mộ. St
Exupéry từng viết: Pour moi, voler ou écrire, c’est
tout un Với tôi, bay hay viết, chính là một. Vì thế,
hai cuốn sách Vol de nuit Chuyến bay đêm (1935) và Terre
des hommes Cõi người ta (1939) được coi là toàn hảo
nhất của ông. Với lối văn nhẹ, đầy tính chất thơ và
triết lý, thứ triết lý nhắc nhớ ta đến một André Malraux,
băn khoăn đi tìm một thể tuyệt đối. Gần kề với cái chết,
những cảm nghiệm siêu hình về tôn giáo, về cái linh
thiêng ám ảnh St Exupéry, với hai sứ mạng: Sứ mạng mang
trọng trách của người phi công và sứ mạng mang trách
nhiệm nhà văn.
Bùi Giáng đã dịch Hoàng Tử Bé Le petit Prince, nxb
An Tiêm và Cõi người Terre des hommes, nxb Quế Sơn.
Dịch cõi người thì hết chỗ để nói. Tài hoa lắm. Trần
Thiện Đạo dịch là Cậu Hoàng Con, nxb Khai Trí. Nhã Điển
dịch Chuyến thư miền Nam. Chẳng biết nhà văn Toàn Phong
đã có cảm hứng từ Chuyến bay đêm để viết Đời phi công,
1958 hay không? Đời phi công ghi lại những kỷ niệm vui,
buồn trong những phi vụ. Chẳng biết qua đó Toàn Phong
có nhắn gửi gì thêm không? Lại vấn đề chiều kích của
tác phẩm. Phần nhà văn Pháp, Chuyến bay đêm ghi lại
những cảm nghĩ của người phi công phải ráng chu toàn
trách nhiệm, vì nghĩ tới đồng đội đang hy vọng, đang
trông chờ ông phải trở về. Ông phải đối đầu với những
trận bão cát sa mạc, đối đầu với thiên nhiên, từ đó
có những xao xuyến siêu hình về phận người. Chiều kích
tác phẩm Chuyến bay đêm là ở đó.
Cũng một lẽ ấy, Ernest Hemingway viết Ngư ông và biển
cả. Chuyện chẳng có gì, chỉ là chuyện độc thoại của
lão già đánh cá, bằng mọi cách phải mang được con cá
câu về. Cuộc chiến đấu giữa người và thiên nhiên, bất
kể thắng hay bại, lão đã mang được cá về, mặc dầu chỉ
là một bộ xương. Người ta trao giải thưởng Nobel cho
ông hẳn là ở chỗ chiều kích tác phẩm muốn nói lên một
điều gì? Những chuyện khác của Hemingway được dịch như:
A farewell to Arms Giã từ vũ khí. For Whom the bells
Tolls Chuông gọi hồn ai .
Các sách dịch từ nay có khuynh hướng chuyển sang các
nhà văn viết bằng tiếng Anh, như phần lớn sách của Pearl
Buck, Henry Miller hay của Hermann Hesse. Hoặc như các
Chuyện tình người {Võ sơn Thanh}, Phía Đông vườn địa
đàng của John Ernst Steinbeck {Đinh Hoàng Sa}. Chùm
nho phẫn nộ The grapes of wrath, Chuột và người Of Mice
and Men vẫn của John Steinbeck {Võ Lang}. Tuyết Sinh
dịch Những ngày tranh đấu. Toàn Cường dịch Hoàng Ngọc
Topaze. Vũ Đang dịch The narrow corner Khung trời nhỏ
hẹp. Đỗ khánh Hoan dịch Lưỡi dao cạo. Nguyễn Hiến Lê
dịch Of human Bondage Kiếp người. Đỗ Khánh Hoan dịch
Kim Các Tự và Tiếng Sóng của Yukio Mishima.
Sách của bà Pearl Buck mô tả đời sống xã hội Trung
Hoa phong kiến cũng đã được nhiều tác giả dịch ra tiếng
Việt như Trần An với Tà áo xanh. Văn Hoà với Ba người
con gái của Cao Phu Nhân. Nguyên Hùng dịch Bà mẹ xưa.
Vũ Kim Thư dịch Người yêu nước. Và nhiều tác phẩm khác
Gió Đông gió Tây, Đường về Trùng Khánh, v.v..
*Giai đoạn 55-60, với sự ổn định chính trị và đời sống
tương đối an bình, đủ ăn, đủ mặc đã tạo nên một sắc
thái văn học nghệ thuật phong phú và đồng bộ về nhiều
mặt. Nhưng kể từ sau hiện tượng văn học Sagan, văn học
dịch bùng lên và chiếm đa số thị phần người đọc sách
về đủ các lãnh vực: Từ triết học, văn học, sử học, sách
chưởng và sách chuyện đủ loại. Độc giả thanh niên, sinh
viên, trí thức tìm đến sách dịch như một nhu cầu để
học hỏi, để giải trí và nhất là để có dịp suy nghĩ vềø
những vấn đề lớn của con người như tương giao nhân loại,
thân phận con người, vấn đề chiến tranh và hoà bình,
ý nghĩ cuộc đời qua cái sống cái chết, vấn đề tha nhân.
Từ đó đưa tới một lối nhìn, lối nghĩ, lối sống. Chưa
bao giờ, sách dịch có tầm ảnh hưởng trực tiếp trên đời
sống văn hóa và tinh thần của lớp trẻ như thế... Điều
mà các nhà văn VN đã không thể đáp ứng được.
Phải nhận rằng phần lớn các dịch giả miền Nam đã làm
tròn nhiệm vụ một người dịch thuật với trách nhiệm và
sự cẩn trọng trong việc chọn tác giả, chọn tác phẩm.
Xin nêu danh một số dịch giả đã đóng góp đặc biệt vào
hai mươi năm Văn học dịch này: Phùng Khánh, Vũ Đình
Lưu tức Cô Liêu (bị thảm sát năm 1980 tại Vũng Tầu),
Trần Thiện Đạo ở Pháp, Ngọc Thứ Lang, Vũ Minh Thiều,
Nguyễn Hiến Lê và Bùi Giáng. Và cuối cùng: Hàn Giang
Nhạn và Liêu quốc Nhĩ. Tại sao không? Cũng có một vài
đóm lửa sau này như Tô Thùy Yên dịch La condition humaine
của A.Malraux. L’éternel mari, Dostoevsky, bản dịch
của Đỗ Kim Bảng. Mạnh Tường dịch Kierkegaard: Những
chứng nhân của chân lý của Georges Gurdorf. Tôn Thất
Hoàng dịch Phương pháp luận của Descartes, Ýù thức luận
và Vật chất và ký ức của Henry Bergson. Cho mãi đến
năm 1974, Triết học nhập môn của K.Jasper mới được gs
Lê Tôn Nghiêm dịch và đối chiếu.
Sách dịch về lịch sử và triết học Trung Hoa
Có lẽ cuốn sách dịch triết học Đông Phương khá sớm
là cuốn Kinh dịch của Ngô Tất Tố. Nhưng khi mà trường
Văn Khoa có bộ môn Triết Đông thì có sự thiếu vắng trầm
trọng các sách về lịch sử và Lịch sử triết học Đông
Phương. Cụ Nguyễn Đăng Thục đã viết bộ Lịch sử triết
học Đông Phương gồm 4 cuốn. Sách không dễ đọc gì, không
dễ nắm bắt nội dung vì nó có vẻ bề bộn, thiếu hệ thống.
Bước đầu được vậy cũng kể là tốt.
Trung tâm học liệu, thuộc bộ Giáo Dục đã đứng ra xuất
bản Khổng Tử san định, gồm 3 tập, dày gần 2000 trang,
của dịch giả Tạ Quang Phát. Ngay từ năm 1956, Thu Giang
Nguyễn Duy Cần đã dịch Trang Tử tinh hoa. 1962 dịch
Lão Tử đạo đức kinh, rồi Lão Tử tinh hoa. Cứ thế tiếp
tục, năm 1963 ông dịch và bình chú Nam Hoa kinh. Công
trình của Nguyễn Duy Cần chỉ có tính cách giới thiệu,
tóm lược nhưng ở vào thời này, sinh viên đều tận dụng
những cuốn sách của ông trong việc học tập Triết Đông.
Thượng Thư (tức Kinh Thư), Khổng Tử san định và Nhượng
Tống dịch. Đồ Nam dịch Thiền và Lão Trang của Ngô Di,
1973. Huỳnh Minh Đức dịch Trung Quốc Triết học sử của
Hồ Thích với sự giới thiệu của cụ Nguyễn Đăng Thục.
Người có công đầu trong vấn đề giới thiệu Văn học Trung
Hoa phải kể đến là Nguyễn Hiến Lê. Ông cũng chỉ là người
tự học như nhiều người khác. Nhưng do công chịu khó,
bước đầu, ông đã đặt một viên gạch cho việc dịch thuật
lịch sử và triết học Đông Phương. Ông viết nhiều, viết
đủ loại, tham bác đủ thứ. Loại sách Học làm người của
ông đã giúp giớt trẻ không nhỏ trong việc vào đời. Ông
đã dịch và san định Cổ văn Trung Quốc. Nguyễn Hiến Lê
đã tuyển dịch và chú thích hơn 100 bài thơ của Mạnh
Tử, Khổng Tử, Bạch Cư Dị, Đại cương văn học sử Trung
Quốc, Chiến quốc sách, Đại cương Triết học Trung Quốc,
Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa của Lâm Ngữ Đường,
Sử ký của Tư Mã Thiên, Tô Đông Pha, v.v.. Không có những
tác phẩm dịch này của một số dịch giả, hẳn sự hiểu biết
về văn học, lịch sử, triết học Trung Hoa sẽ thật nghèo
nàn. Sau này, có những vị như Lương Kim Định đã có những
góc nhìn mới về Triết học Trung Hoa như Chữ Thời, Cửa
Khổng sân Trình, v.v..
Việc dịch triết học Trung Hoa là một điều tự nhiên
và bình thường, bởi vì nó có trong giáo trình ở đại
học. Nhưng, dịch giả và độc giả VN trong thời 60-70
có khuynh hướng tìm về Thiền. Đây là một hiện tượng
khá đặc biệt để ta bàn đến ở đây. Chiến tranh ở miền
Nam càng đi vào chỗ ác liệt, cái giờ thứ hai mươi lăm
càng gần kề, những phản ứng, những chọn lựa, những ứng
xử trước chiến tranh đó càng nhiều. Có người tìm quên
vào chuyện ăn chơi, chuyện tình vớ vẩn, chuyện Chưởng.
Có người trong cuộc phản kháng thành phản chiến. Có
người đi tìm một nơi trú ngụ tâm linh. Thiền trở thành
nơi trú ẩn đem lại an bình cho tâm hồn.
Ngoài các sách Thiền Suzuki do Thích Nhất Hạnh phổ
biến, còn có nhiều dịch giả đã dịch Krishnamurti. Chẳng
hạn như: Dưới chân Thầy At the Feet of the Master {Bạch
Liên}. Tự do đầu tiên và cuối cùng The First and last
Freedom {Phạm Công Thiện}. Đường vào Hiện Sinh Commentaries
of living {Trúc Thiên}. Giải trừ Kiến thức Freedom from
the Known {Nguyễn Minh Tâm và Đào Hữu Nghĩa}, Cách mạng
con người The only Revolution {Nguyễn Minh Tâm và Đào
Hữu Nghĩa}, Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống Education
and Significance of life {Nguyễn Minh Tâm và Đào Hữu
Nghĩa}, Giáp mặt cuộc đời Life ahead {Nguyễn Minh Tâm},
Ý nghĩa về sự chết, đau khổ và thời gian {Nguyễn Minh
Tâm và Đào Hữu Nghĩa}, Tự Do và Hoà Bình Liberté et
Paix {Nguyễn Minh Tâm và Đào Hữu Nghĩa}, Krisnamurti,
Cuộc đời và tư tưởng Krishnamurti, the Man and his Teachings
của Ren Fouère {Võ Văn Quế}, Hiện tượng Krishnamurti
Phénomène de Krishnamurti của Carlo Suarès {Trúc Thiên}.8
Sách dịch của Hermann Hesse
Tính ra có khoảng 10 năm ngự trị của triết học Hiện
Sinh trên sinh hoạt văn học miền Nam. Bóng dáng quá
lớn của chủ thuyết này lan rộng ở miền Nam chỉ vì một
lý do rất đơn giản: Có một số trí thức lúc đầu, xuất
thân từ ảnh hưởng văn hoá Pháp, đã gieo cấy cho cây
Hiện Sinh nẩy mầm và mọc lan tràn, tạo cái không khí
Hiện Sinh nơi đám trẻ. Mở mồm ra là "phi lý",
là "buồn nôn", là cái thừa, cái de trop. Trong
những năm đó, không phải là không có người lên tiếng
phản bác, nhất là nơi một vài người công giáo như Phạm
Đình Tân, Nhóm Tin Văn và sau này nơi một số môn sinh
của họ.9
Nhưng ngoài nước Pháp còn những chân trời khác. Bên
Mỹ chắc hẳn đã không có cái rầm rộ, náo nhiệt của không
khí Hiện Sinh. Phùng Khánh do có dịp du học sống trên
đất Mỹ, đã làm công việc mà đàn anh của bà đã làm cách
đây gần 10 năm, tuy không kèn không trống, trong thầm
lặng bà đã giới thiệu nghiêm chỉnh một khuôn mặt mới
cho văn học dịch miền Nam: Nhà văn Đức Hermann Hesse.
Đây là một trong những tác giả Tây Phương được dịch
nhiều và ảnh hưởng khá rộng, khá sâu trên những thành
phần sinh viên, trí thức thành thị. Người ta đã bắt
đầu ngấy triết Hiện Sinh với những ngõ cụt: đời phi
lý, buồn nôn, thừa thãi, ý thức chán chường. Văn chương
của nhà văn Đức đem lại một luồng sinh khí mới về những
nét đẹp của con người, trở về nguồn của triết lý Đông
Phương, đượm chất thơ, chất ngườiù. Cái triết lý, tôn
giáo và ngay cả đạo học này nữa xem ra gần gũi, quen
thuộc như một tìm về. Đọc tác giả, cảm được sự an vi,
sự thư thái tâm hồn, lắng đọng chiều sâu. Có một cái
gì đó không nói ra được, nhưng có những cảm thông sâu
đậm giữa tác giả và người đọc. Cái đó cũng vẫn là chiều
kích, là cái sứ điệp nhà văn muốn nhắn gửi. Những người
dịch đều có chân tài như chị em Phùng Thăng, Phùng Khánh,
Vũ Đình Lưu, tức Cô Liêu và Hoài Khanh.
Một nhận xét là càng ngày cái xu hướng dịch các tác
giả viết bằng tiếng Anh càng gia tăng về số lượng tác
giả cũng như tác phẩm. Điều đó có thể hiểu và cắt nghĩa
được. Sự có mặt của người Mỹ đã là một chuyện, những
người trẻ về từ Mỹ là chuyện thứ hai, cái mới lạ đem
về từ Mỹ là thứ ba và cái cuối cùng vẫn là vấn đề tiền.
Vũ Đình Lưu đã dịch Tuổi trẻ và cô đơn và nhất là cuốn
Đôi bạn chân tình, nxb Ca Dao. Phải nói đây là một cuốn
sách hay mà bỏ qua không đọc thì thật uổng. Vũ Đình
Lưu, tài hoa, đã dịch một tác phẩm có tầm thước như
vậy, rất thoát, đến độ tưởng chừng như đang đọc một
nhà văn Việt Nam. Cái khó của dịch là ở chỗ đó. Chỗ
thoát. Có một nhận xét đến lý thú là ông là người đầu
tiên đưa Francoise Sagan vào Việt Nam, nay một lần nữa
giới thiệu Hermann Hesse. Ông cũng còn dịch Chopin,
nhà thơ âm nhạc và nghiên cứu phân tâm học. Phần này,
không có gì đáng nói. Ngoài ra cũng có hai tác phẩm
là Đời nghệ sĩ và Vinh danh và quyền lực, nhưng tôi
không nhớ tên người dịch.
Hoài Khanh dịch Tuổi trẻ băn khoăn. Ông cũng dịch Nghệ
thuật truyền thống và chân lý của Kaufmann, rồi dịch
Tchaikowsky với cuộc đời và nghệ thuật, Giáo dục và
ý nghĩa cuộc sống Krishnamurti. (Sau này có thêm nhiều
người dịch triết gia Ấn Độ này)
Sách hay có người dịch đã đành. Nhưng nếu không có
ai đứng ra xuất bản thì cũng xếp ở một xó nào đó. Sách
được xuất bản là nhờ vào một số nhà xuất bản rất có
lòng với văn học như Lá Bối, An Tiêm, Trí Đăng, Ca Dao,
Trình Bày, Sống Mới, Nguyễn Đình Vượng, Nam Chi, Đại
Ngã, Cảo Thơm, Trí Dũng, Diên Hồng, Sáng Tạo và cuối
cùng là Văn Hữu Á Châu. Nhà xuất bản Ca Dao cũng do
Hoài Khanh, một thi sĩ đứng chủ trương. Ông đã cho xuất
bản một số sách dịch đáng nể sau đây: Triết lý là gì?
của Heidegger, Phạm Công Thiện dịch, Nhân sinh quan
và thơ văn Trung Hoa của Lâm Ngữ Đường, Thế giới ngày
nay và tương lai nhân loại của Bertrand Russell và Chinh
phục hạnh phúc đều do Nguyễn Hiến Lê dịch.10
Chơn Hạnh và Phùng Thăng dịch Sói Đồng hoang. Đây cũng
là một tác phẩm dịch khá hay. Phùng Thăng cũng là người
dịch La nausée của J.P Sartre sau này. Trong phần đầu
cuốn truyện của Sartre, bà đã dành ra ít trang để sơ
lược nội dung của tác phẩm, và tư tưởng của tác giả,
giúp người đọc nắm được những điểm then chốt về tư tưởng
của J .P Sartre. Phùng Thăng cũng đã dịch chung với
Phùng Khánh chuyện Bắt trẻ Đồng Xanh của Salinger. Đây
cũng là một truyện dịch rất hay, không thể nào bỏ qua
được.
Phùng Khánh là nữ dịch giả tài tuấn trong giới dịch
giả nữ. Bà đã dịch Câu chuyện của dòng sông. Theo ý
kiến riêng của tôi ở vào thời đó, hai cuốn Đôi Bạn chân
tình và Câu chuyện của dòng sông là những cuốn sách
hay nhất của Hermann Hesse. Tài dịch thuật của Phùng
Khánh thì không còn gì để nghi ngờ. Tôi được biết và
kính trọng bà chỉ vì cuốn truyện dịch này. Sau này,
năm 90, bà cùng với Vĩnh Bách và Loan Nhã dịch lại cuốn
Đôi bạn chân tình do Vũ Đình Lưu đã dịch. Tôi đã đọc
cả hai bản dịch. Thật khó nói ai dịch hay hơn ai. Phùng
Khánh dịch với nhan đề tên tác phẩm là Nhà khổ hạnh
và gã lang thang. Cả hai nhan đề tên tác phẩm của Vũ
Đình Lưu và Phùng Khánh đều diễn tả đúng nội dung tác
phẩm của nhà văn Đức. Sau biến cố Phật giáo, bà đi tu,
pháp danh Trí Hải và đã để lại rất nhiều công trình
dịch thuật như sau: E. Herringel. The method of Zen.
The story of my expériments with Truth. Tạng thư Sống
Chết, The Tibétian book of lying and dying của Soyal
Rinpoche, Tự Truyện của Gandhi xuất bản 1971, Tâm phân
học và tôn giáo của Eric Fromn. Bên cạnh dó, còn nhiều
tác phẩm về Phật giáo sau này tôi chỉ được nghe nói
tới mà thôi. Cả hai chị em bà nay đều đã ra người thiên
cổ, nhưng những đóng góp của hai người, nhất là Phùng
Khánh, sau này là Trí Hải đã đánh dấu một thời văn học
dịch thuật thật trong sáng, thật ý nghĩa, khác hẳn cái
không khí của những năm 54-60. Những nhà phê bình, lý
luận văn học có đao thớt của Hà Nội như Trần Trọng Đăng
Đàn đã cố tình không đụng chạm đến một số nhà dịch thuật
miền Nam như Nguyễn Hiến Lê, Phùng Khánh, Phùng Thăng.
Một chữ cũng không. Những gì không đụng chạm, không
nói tới, phải được hiểu là hay, là có giá trị đấy.
Sách dịch Gheorghiu
Chiến tranh leo thang và bắt đầu lan rộng. Chiến tranh
hai phía, hai kẻ thù, hai bộ mặt người Việt đối mặt.
Việc dịch các tác phẩm của các nhà văn trên có ý nghĩa
gì? Có sự tài trợ, thúc đẩy của chính quyền không? Phải
nhận rằng, có những sách báo, truyện xuất phát từ những
cơ sở như Việt Tấn Xã hay các cơ quan ngôn luận như
báo Tự Do, báo Ngôn Luận. Rất có thể đãø được chính
quyền ngấm ngầm tài trợ. Nhưng những sách báo này thường
bị chìm trong quên lãng. Chẳng hạn như cuốn Nước đã
đến chân của Suzane Labin, nxb Tự Do. Bí Danh của Lâm
Ngữ Đường, nxb Ngôn Luận. Thoát ly hoả ngục của bác
sĩ Thomas Dooley, nxb Diên Hồng 1961 và ngay cả cuốn
Giai cấp mới của nhà văn Nam Tư Milovan Djilas, nxb
Anh Việt 1958. Một cuốn sách chính trị chống Cộng xuất
hiện sớm nhất mà không mấy dễ đọc, phải nói là khô khan
và cao quá. Hoặc giả một vài cuốn sách như Chiến lược
ý thức hệ của Oyvind Skard, Võ Như Vong dịch năm 1968.
Bạn có thể tin được người Cộng Sản? của Fred Schawars,
Đinh Hoàn và Hoài Châu dịch 1969. Mấy ai đọc những sách
đó?
Trong khi đó, những cuốn truyện của các nhà văn vừa
nêu trên đôi khi được dịch đi dịch lại bởi hai ba dịch
giả. So với những nhà văn mà phía Cộng Sản xếp loại
là đặc công văn hoá chống Cộng hàng đầu của VNCH như
Võ Phiến11, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn và sau này Nhã
Ca thì xem ra tính chất chống Cộng ở những nhà văn ta
chưa đủ đậm đặc. Vốn sống chưa đủ độ cay nghiệt, khổ
đau chưa tới để có thể làm nên những tác phẩm lớn. Mấy
ai còn nhớ Mưa đêm cuối năm, nxb Tự Do 1958 (Đây có
thể là tác phẩm đầu tay của Võ Phiến. Tôi đã đọc ở thời
điểm đó, thấy hay như một khám phá vì những phân tích
tâm lý về nội tâm của viên cán bộ rất chi li và rạch
ròi. Khá thích thú. Nhưng cũng thời điểm đó có cơ duyên
đọc Georghiu bằng tiếng Pháp, thấy xót xa, dư âm đọng
lại mới thật ngậm ngùi khó quên). Mấy ai còn biết đến
là Nguyễn Mạnh Côn viết Kỳ Hoa Tử? Cùng lắm còn nhớ
được cuốn Đem tâm tình viết lịch sử với biệt hiệu là
Nguyễn Kiên Trung. Moi lục trí nhớ cũng chẳng còn ai
nhớ tới: Chữ Tình, Người Tù hay Về một xóm quê của Võ
Phiến, Đêm giã từ Hà Nội, Căn nhà vùng nước mặn nxb
An Tiêm 1966 hay Tháng giêng cỏ non 1956 của Mai Thảo
và Mùa ảo ảnh của Đỗ Thúc Vịnh. Cùng lắm nhớ đâu đây
Dòng sông định mệnh của Doãn Quốc Sĩ?
Vậy mà người ta không thể quên được Giờ thứ 25 của
C.V. Georghiu. Bản dịch truyện Giờ thứ hai mươi lăm
được Lê Ngọc Trụ và Lê Thị Hay dịch vào năm 1963, nxb
Thời Nay. Đúng thời điểm. Đến 1973, Mặc Đỗ dịch lại
Giờ thứ 25. Ông còn dịch Ả Q. Bên cạnh đó là những truyện
dịch Độc hành, Lê Thị Duyên Người Sông Kiên dịch, nxb
Sông Kiên 1972. Người lữ hành cô đơn, Tầm Nguyên dịch.
Kẻ ăn mày phép lạ, Chiếc roi ngựa, Lối thoát cuối cùng,
Hoàng Sa và Bích Ty dịch, nxb Lá Bối 1968. Nửa đời du
đãng, Nam Chinh dịch, nxb Sống Mới. Trong số truyện
của Georghiu, có hai tác phẩm đáng kể và hay nhất là
Lối thoát cuối cùng và Giờ thứ hai mươi lăm. Tác giả
nói lên những đau khổ, những hệ lụy của con người, kéo
lê thân phận vì chế độ tàn bạo, vì những guồng máy chính
quyền. Tác giả thất vọng vì giờ thứ hai mươi lăm là
cái giờ đã quá muộn để có thể làm gì, để có thể cứu
gỡ, cũng quá muộn để sống và để chết.
Bên cạnh đó, còn có tác giả như André Gide với Bọn
làm bạc giả, nxb An Tiêm. Bửu Ý dịch Kẻ vô luân, nxb
Võ Tánh. Bùi Giáng dịch Khung cửa hẹp, nxb An Tiêm.Văn
Mồng dịch Tagore với thơ Tâm hồn hiến dâng. Rồi một
lô các nhà văn Nga như Tolstoi với Chiến Tranh và Hoà
Bình, nxb Lá Bối, Nguyễn Hiến Lê dịch. Maxime Gorky
với Mưu Sinh, nxb Đại Nam. Nhất là Dostoevsky với những
tác phẩm: Tội ác và hình phạt, Lũ người quỷ ám, Anh
em nhà Karamazov, Con bạc do Trương Đình Cử dịch. Hai
cuốn Tội ác và hình phạt và Anh em nhà Karamazov được
nhiều độc giả thanh niên, trí thức lúc bấy giờ ham đọc.
Nhà văn và sứ điệp đã được gửi đến cho nhân loại, cho
người đọc. Sách đã được mọi tầng lớp thanh niên say
mê đọc. Phần các "nhà văn một phía" của miền
Nam, sứ điệp nhà văn gửi đi yếu quá, nhỏ quá, bởi vì
nó vẫn bó chặt vào một cá nhân, một cảnh đời, một tên
cán bộ, vào những phân tích tâm lý của một viên bộ đội.
Nó chẳng gửi đến được một sứ điệp gì thì nó phải bằng
lòng nhận lấy cái phần nhỏ nhoi mà người đọc dành cho
nó. Họa chăng có những người như nhà văn Thảo Trường
mà trong từng truyện của ông muốn nhắn gửi một cái gì?
Như trong Thử Lửa hay Người đàn bà mang thai trên Kinh
Đồng Tháp.
Docteur Jivago của Boris Pasternak
B. Pasternark chính ra là một thi sĩ với tác phẩm:
Ma soeur, la vie, 1922 . La seconde naissance, 1931.
B. Pasternak đã lén gửi bản thảo tiểu thuyết Bác sĩ
Jivago ra nước ngoài xuất bản vào năm 1957. Cuốn sách
đã được giải thưởng Nobel một năm sau đó, 1958. Nhưng
trước áp lực của nhà cầm quyền Liên Xô lúc bấy giờ,
ông đã phải từ chối nhận giải thưởng cao quý này. Bản
dịch cuốn truyện này do Nguyễn Hữu Hiệu, lấy tên là
Vĩnh biệt tình em. Theo thiển ý, giữ nguyên tựa đề của
tác giả là hay nhất. Cuốn tiểu thuyết còn được dịch
từ bản tiếng Ý với nhan đề: Bác sĩ Zivago, nxb Mặt trận
bảo vệ tự do, do Văn Tự và Mậu Hải dịch. Sau này, nó
lại được dịch với khuôn khổ sách nhỏ, chia ra 3 tập
do Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Đức Dương và Lê Khánh Trường,
nxb TP HCM. Nếu Bác sĩ Jivago được cho in lại thì tất
cả những sách của Võ Phiến, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn,
Nhã Ca, hà cớ gì lại không có mặt? Bác sĩ Jivago nặng
về số trang (hơn 800 trang) cũng như về nội dung không
dễ đối với nhiều người. Bác sĩ Jivago nhằm tố cáo chế
độ thiếu nhân tính, thiếu tình người. Một chế độ đã
nghiền nát, đè bẹp con người, nhất là người trí thức
như ông. Phải chăng cuốn truyện là một bản án rà xét
lại tất cả những cái được gọi là lý tưởng, cái làm nên
chế độ đó? Trải dài trong suốt cuốn truyện, ông đã dành
nhiều trang để đề cao tình người của Iouri Andréiévitch
Jivago, Marina Markelovna.. những con người bình thường
biết thương yêu, biết hờn giận, yếu hèn nhưng trung
thực, biết khát vọng tự do khác hẳn những mẫu người
Cộng Sản sắt đá và lạnh lùng. Đồng thời ông cũng đề
cao tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước xứ sở của con
người. Cuốn truyện cũng cho thấy câu chuyện tình cảm
động và say đắm giữa Jivago và Tonia Alexandrovna Groméko.
Càng có những nghịch cảnh và trắc trở, tình yêu giữa
hai người thêm say đắm và thiết tha. Cuốn truyện dịch
khác của Pasternak là Thời nhỏ trong gia đình Luwers
ít được người đọc biết đến.
Mặc dầu cuốn Bác sĩ Jivago được nói tới nhiều, nhưng
độc giả của Pasternak có phần chọn lọc và giới hạn.
Soljénitsyne và quần đảo Goulag
Có thể, đối với văn học thế giới, mặc dầu cùng thời
với Pasternak nhưng Soljénitsyne được nhắc nhở, được
nói tới nhiều hơn và cũng được chuyển ngữ sang tiếng
Việt một cách khá muộn màng. Tôi không cắt nghĩa được
điều này và cũng không hiểu tại sao nó lại như vậy.
Khởi đầu là Một ngày trong đời của Ivan Denissovitch
do Thạch Chương và Trần Lương Ngọc dịch năm 1970, nxb
Nguồn Sống. Tiếp theo Khu ung thư, Vũ Minh Thiều dịch,
nxb Ngàn Khơi 1971. Tại nhà ga Krechetovka, Lê Vũ dịch,
nxb Hành Trình 1973. Rồi Tầng đầu địa ngục do Hải Triều
dịch từ bản tiếng Anh The first circle của Thomas. P.
Whitney, nxb Đất Mới. Ngoài bản dịch của Hải Triều,Vũ
Minh Thiều dịch là Vòng Đầu. Thạch Chương và Thanh Tâm
Tuyền dịch là Vòng đầu địa ngục từ bản tiếng Pháp Le
1er Cercle. Đã hẳn, một cuốn truyện mà đến 3 tác giả
dịch phải có cái gì? Đừng quên sự có mặt của thi sĩ
Thanh Tâm Tuyền của nhóm Sáng Tạo. Cũng vì chuyện 3
tác giả dịch một tác phẩm trong cùng một thời điểm nên
đã bị nhà phê bình văn học Cộng Sản Trần Trọng Đăng
Đàn gọi là "Chợ trời Văn Nghệ"!
Nhưng cuốn sách gây sóng gió nhất hẳn phải là cuốn
Quần đảo Ngục Tù The Gulag Archipelago được đăng trên
tờ Sóng Thần của Chu Tử, do Ngọc Thứ Lang dịch và in
thành sách, 2 tập vào 1974, nxb Trí Dũng. Đến nỗi, bất
cứ cái gì liên quan đến trói buộc, đến đau khổ, người
đọc miền Nam gán cho cái chữ Gulag. Bên cạnh mấy tác
giả trên, có một số sách dịch cũng được xếp vào cùng
một loại như Le Dieu des ténèbres, dịch giả Đinh Bá
Kha. Le zéro et l’infini của Arthur Koestler, do Thạch
Trung Giả dịch. Có hai cuốn khác của Koestler cũng được
dịch là Nội chiến bi thảm và tội không thành, Thượng
đế đã chết trong thành phố, Nguyễn quốc Trụ dịch. Đây
là những tác giả bị người Cộng Sản xếp vào lọai sách
phản động chống Cộng.
Giữa hai tác giả Georghiu và Soljénitsyne, tôi vẫn
thích nhà văn của Giờ thứ hai mươi lăm, vì sứ điệp nhà
văn gửi đi có phần kín đáo, điều mà bất cứ người đọc
nào cũng muốn góp phần tham dự vào sứ điệp đó. Còn nhà
văn của Quần đảo ngục tù, sứ điệp gửi đi lộ liễu quá,
nói hết, nói cả, nói đến trần trụi. Nói xong là hết.
Còn có chỗ nào cho độc giả dự phần?
Rơi vào giữa những sách dịch trên, sau thời kỳ ông
Diệm bị lật đổ có cuốn sách của Chu Việt dịch: Ông Đại
sứ của Morris. L.West được kể là đặc biệt và hay. Nhiều
người đọc cuốn này liên tưởng đến cá nhân ông Diệm được
trình bầy trong sách. Kể từ 1963 trở đi, xáo trộn đã
nhiều. Chiến tranh gần kề. Ban đêm giấc ngủ không yên
vì sự đánh thức dậy của bom đạn. Thời kỳ Đêm nghe tiếng
đại bác của Nhã Ca và để trả lời cho tiếng bom đạn,
Trịnh Công Sơn sáng tác Hát trên những xác người rồi
Bài ca dành cho những xác người: "Xác nào là em
tôi dưới hố hầm này, trên những đồng lúa cháy bên những
vồng ngô khoai..." Chiến tranh vốn đã tàn bạo,
lại thêm có sàng lọc: Trẻ chết trước già. Người nghèo,
người dân quê, người dốt nát chết thay cho người giàu,
người dân thành phố, kẻ trí thức. Kẻ hiền lành, đạo
đức chết trước bọn bất lương. Cuối cùng chỉ còn sót
lại những kẻ làm chính trị, kể cả chính trị sa lông,
nếu cần thì lo chạy trước và những nhà quân sự không
thể chết, vì nếu họ chết thì còn làm gì còn chiến tranh
nữa. Thế rồi. Cứ như thế, rượu gọi rượu "le vin
appelle le vin", thi ca phản chiến, nhạc phản chiến,
báo phản chiến, hết Thái độ, Hành Trình đến Đất Nước.
Báo chí đủ loại đến 40 tờ. Đêm ngủ không yên, thiếu
thuốc an thần. Truyện dịch ra đời đủ loại thay cho thuốc
ngủ: giải trí có, vui có, nhảm nhí có, bất cần có, truyện
tình nhan nhản chẳng thiếu, truyện kiếm hiệp, truyện
chưởng. Đó là cái không khí hỗn tạp của một thành phố,
một đất nước có chiến tranh.
Phần những nhà văn "một phía" 54-60 thì tắt
tiếng. Họ không có gì để nói và lúng túng trưóc một
tình thế khó xử : tiếp tục ủng hộ cuộc chiến hay còn
có con đường nào khác cho đất nước? Người ta đành lòng
phải mượn tiếng nói của dịch thuật.
Sách dịch Eric Maria Remarque
Sách của Remarque mà nội dung chủ yếu là phản chiến,
sự thăng hoa của tình bạn trong và sau chiến tranh,
những tình bạn lưu vong vô tổ quốc, của những con người
lạc loài không đất nước nào chấp nhận, đã được dịch
ra rất nhiều: Bia mộ đen Obélisque noir, Mặt trận miền
Tây vẫn yên tĩnh A l’Ouest rien de nouveau, nxb Kinh
Thi, Tầm Nguyên dịch. Đài tưởng niệm đen của bầy diều
hâu gẫy cánh Obélisque noir, nxb Đất Sống, Chiến hữu
Les Camarades, Bản du ca cuối cùng của loài người không
còn đất sống Les Exilés, Vũ Kim Thư dịch. Đến lượt Phạm
Kim Khôi cũng dịch lại cuốn Mặt trận miền Tây vẫn yên
tĩnh. Các tiểu thuyết Remarque Một thời để yêu một thời
để chết, Đảo hy vọng, Đêm ở Lisbonne, Lửa thương yêu
lửa ngục tù, Khải hoàn môn được đông đảo giới thanh
niên, sinh viên học sinh say mê, hâm mộ và được đón
nhận mộït cách trân quý, đáp ứng đúng tình thế chiến
tranh ở miền Nam lúc bấy giờ. Dĩ nhiên, chiến tranh
của Remarque không phải là thứ chiến tranh đang diễn
ra ở Củ Chi, An Lộc, Quảng Trị nhưng ở đâu thì cũng
có người chết, có bia mộ, tình đồng đội, có tình yêu
thời chiến, có phản bội, mơ ước và có mất mát. Eric
Maria Remarque là tác giả của thân phận con người trong
chiến tranh và không chấp nhận chiến tranh, một thân
phận mà độc giả miền Nam thấu hiểu dễ dàng.
Sách dịch Mario Puzo
Sách dịch về Mario Puzo thật đáng nể. Sách của ông
đã làm người đọc thích thú và say mê. Cho mãi đến sau
này ở hải ngoại người đọc vẫn không quên. Cũng không
thể quên dịch giả Ngọc Thứ Lang, vì nhờ Ngọc Thứ Lang
mà Bố Già nổi tiếng. Cái tên Bố già đặt cho nhan đề
cuốn tiểu thuyết sau này trở thành ngôn ngữ thời thượng.
Sách gồm The God-father Bố già, nxb Thứ Tư, tái bản
3,4 lần. Rồi Hồi ký của Bố già, Đứa con của Bố Già,
Đấu trường đen, Đất tiền đất bạc, nxb Xuân Thu, Sicilly
lãnh địa Mafia, nxb Việt Nam, Đặng Thiền Mẫn dịch. Tất
cả đều được in trong năm 1974 lúc mà miền Nam sắp sụp
đổ. Mario Puzo là viên thuốc an thần cuối cùng.
Hiện tượng sách dịch Kim Dung
Kim Dung tên thật là Trà Lương Dung. Truyện võ hiệp
đầu tay là Thư kiếm ân cừu, xuất bản ở Hương Cảng, từ
đó có bút danh Kim Dung. Năm 1957 ra bộ Anh Hùng Xạ
Điêu, 1969 ra Lộc Đỉnh Ký. Cho mãi đến 1978 Đài Loan
mới rút lệnh cấm tác phẩm Kim Dung và 1986, sau khi
tiến lên 4 Hiện đại hoá ở Trung Quốc mới xuất hiện Kim
Dung. Theo Vũ Đức Sao Biển12, nhà Kim Dung học Việt
Nam hiện thời, trong những năm 1960 có các dịch giả:
Phan Cảnh Trung, Lão Sơn Nhân, Từ Khánh Văn và đặc biệt
Từ Khánh Phụng và Hàn Giang Nhạn. Tôi xin bổ túc thêm
Thương Lan (đã dịch ít nhất 10 bộ truyện của Kim Dung),
Nhất Quỳnh Mai, Nguyễn Kháng, Trần Thanh Vân, Đà Giang
Tử dịch chung với Phan Cảnh Trung.
Truyện chưởng Kim Dung "độc bá quần hùng"
trong sinh hoạt văn học ở miền Nam thời ấy. Vào năm
1968, khi xuất hiện Tiếu Ngạo Giang Hồ trên tờ Minh
Báo thì có đến 44 nhật báo ở Sàigòn đều tranh nhau dịch
và đăng lại. Tình trạng mê Kim Dung đến như thế, và
kéo dài cho đến 1972-1974 khi bộ Lộc Đỉnh Ký ra đời.
Và đây là lời Vũ Đức Sao Biển, tốt nghiệp Đại học Văn
Khoa, Sàigòn, ban Hán Văn: "Tôi học cách làm người,
cách đối xử nhân thế, đắc thủ được những kiến thức hoàn
toàn không có trong giáo trình đại học từ các tác phẩm
của một nhà văn nước ngoài chưa hề biết mặt."
Với lượng tác phẩm đồ sộ như thế, với số người đọc
đông như thế, không thể không tìm hiểu văn học miền
Nam nhất là văn học dịch mà bỏ qua tác giả Kim Dung.
Người ta có thể bàn về bất cứ vấn đề nào của con người,
của xã hội, từ tình yêu, bạo lực, đạo đức, tâm lý hay
sự đánh tụt giá của chủ nghĩa Bạo lực trong truyện Kim
Dung. Từ vấn đề nghệ thuật, cách xây dựng nhân vật tiểu
thuyết, chất thơ, chất hài... đến chứng cứ kiếm pháp,
Võ và Hiệp, cho đến những vấn đề có thể trở thành tranh
luận văn học như hư cấu nhân vật, hư cấu lịch sử. Kim
Dung đã hư cấu lịch sử Trung Hoa cách đấy ba thế kỷ
mà vẫn hay với cấu trúc tiểu thuyết liên hoàn. Vương
Sóc, nhà văn-nhà phê bình Trung Hoa (mà nghĩ đến ông
tôi bắt nghĩ đến Trần Trọng Đăng Đàn của Việt Nam),
đã gọi tiểu thuyết Kim Dung là một trong "tứ đại
tục" bởi đã hư cấu méo mó hình tượng người Trung
Hoa. Từ đó đã gây thành những tranh luận lớn khắp Hoa
Lục. Lại còn vấn đề tôn giáo, giáo phái trong tiểu thuyết.
Luận về anh hùng và những nhân vật biểu tượng như Kiều
Phong, một đại trí, đại dũng lại rất giầu tình cảm và
lòng nhân ái vời vợi? Trương Vô Kỵ, Lệnh Hồ Xung, tài
trí hơn người, hành xử quang minh lỗi lạc, tốt bụng
hơn người? Dương Quá, Địch Vân, Hồ Phỉ... Rồi còn nhân
vật nữ, những mỹ nhân như Hân Tố Tố, Nhậm Doanh Doanh,
Triệu Minh, Tiểu Siêu, Song Nhi, v.v.. mỗi người mỗi
vẻ, mỗi người một thông điệp. Không có những nhân vật
nữ đó, tiểu thuyết Kim Dung còn gì?
Vấn đề tâm đắc đối với tôi: Vấn đề chính hay tà, vấn
đề thị phi trong cuộc đời, giữa Hiệp nghĩa và xã hội
đen, giữa danh môn chính phái và ma giáo. Ai chính,
ai tà. Tà chính khác nhau chỗ nào? Đọc Kim Dung sẽ thấy
sự phân biệt Chính và Taø là vô thực.13 Trong Kim Dung,
có một cố gắng đánh tụt giá những người tự nhận là Chính
Nghĩa, và qua họ, những giá trị mà họ tượng trưng. Sự
sa đọa xuống tới sự bất nhân, sự dâm loạn, sự ngu xuẩn
của những đệ tử phái Toàn Chân thì còn ai tin gì ở Chính
Nghĩa?
Chuyện đã hay, cơ man nào nhân vật, cơ man nào tình
tiết chòng chéo lôi kéo người đọc. Kim Dung phải là
người kiến thức rộng, đọc nhiều, dùng Quan Thoại, một
thứ ngôn ngữ trong sáng, lại kế thừa truyền thống của
những nhà văn như Lâm Ngữ Đường, Tào Ngu, Lỗ Tấn… đã
biến những chuyện võ hiệp tầm thường thành những tác
phẩm để đời. Đã vậy, có những dịch giả như Hàn Giang
Nhạn chuyển ngữ tài tình làm say mê độc giả VN. Hễ hay
thì người đọc, dở thì bị người bỏ quên.
Hiện tượng sách dịch Quỳnh Giao
Truyện của Kim Dung thì không là người Tàu, tất không
viết được. Nhưng đến truyện tình, chả lẽ VN không có
ai viết nổi? Có nhiều nữa. Bà Tùng Long là một tay viết
cự phách được rất nhiều phụ nữ bình dân mê chuộng. Theo
Hồi ký Bà Tùng Long, nxb Trẻ 2003, bà đã in 32 cuốn,
nếu kể cả chưa in thì có trên 60. Vậy mà bà có đến 2
cái thiệt thòi: Thứ nhất không được nhà văn Võ Phiến
kể vào trong số những nhà văn trong Văn học miền Nam
tổng quan. Thứ hai: Bà Tùng Long để cho Quỳnh Dao lấn
lướt cái thị phần độc giả nữ, nhất là giới nữ học sinh.
Tiểu thuyết đầu tiên của Quỳnh Dao xuất hiện tại Sàigòn
là Song Ngoại. Câu chuyện tả mối tình giữa một nữ sinh
Giang Nhạn Dung với một giáo sư tên Khang Nam. Đầy tình
tiết éo le rồi bị dư luận khắt khe lên án. Mối tình
tan vỡ... Không tìm được hạnh phúc với người chồng mới
cưới, Giang Nhạn Dung quay trở lại với Khang Nam nay
chán đời rượu chè be bét. Tất cả những câu chuyện của
Quỳnh Dao là vậy. Chuyện tình xoay quanh các cô nữ sinh
bậc cao trung, những nữ sinh trẻ, đẹp, mơ mộng ở thành
phố. Đó là những thứ tình cảm lãng mạn đầu đời, những
rung động bầy tỏ những khát vọng tuổi trẻ muốn yêu và
muốn được đền đáp. Nhưng thường tình yêu đó gặp những
nghịch cảnh, những ngang trái, những éo le, những chồng
chéo, áp lực gia đình, xã hội, đạo đức, phong tục, tập
quán đã xô đẩy những cảnh đời của những người trẻ đến
tan vỡ, chia lìa và phản bội. Tình yêu như những tiếng
réo gọi đầy nước mắt, nhớ thương và không khỏi tủi nhục,
xót xa. Những truyện như Hải âu phi xứ có đến bốn dịch
giả khác nhau. Có đến hơn 60 chục đầu sách Quỳnh Dao
được dịch sang tiếng Việt, thậm chí có cả nhà xuất bản
Quỳnh Dao chỉ để in sách dịch Quỳnh Dao. Cuốn Cánh hoa
chùm gửi trong một năm được in đi in lại đến ba lần
vào năm 1972. Nếu Kim Dung có dịch giả Hàn Giang Nhạn,
thì Quỳnh Dao có Liêu Quốc Nhĩ. Anh vốn là một giáo
sư Toán còn trẻ, dạy đại học Khoa Học, đến năm 1972
thì nghỉ dạy hẳn chuyên ngồi dịch sách Quỳnh Dao. Kể
cũng là một trường hợp hi hữu lắm.
Hình như chiến cuộc càng leo thang, chiến tranh mỗi
ngày càng ác liệt, tiếng bom tiếng đại bác ban đêm dội
về thành phố càng nhiều thì chuyện tình của Quỳnh Dao
càng được chiếu cố tận tình. Phải chăng hiện tượng sách
dịch Quỳnh Dao cũng là những liều thuốc ngủ qua đêm?
Nhận xét chung về 20 năm sách dịch ở miền
Nam
Trong bài viết này, tôi đã không thể nói tới các sách
dịch có tính cách giáo dục như sách Học Làm Người của
Nguyễn Hiến Lê, cũng như những sách giáo khoa dùng trong
trường học, sách dịch về khoa học thường thức, v.v.
Ông Nguyễn Hiến Lê đã dịch hơn 20 đầu sách về Giáo dục
làm người, đặc biệt là Dale Canergie và Dorothy Carnegie
như Đắc nhân tâm, Quẳng gánh lo đi mà vui sống, Giúp
chồng thành công, v.v.. Hay các sách dịch có tính cách
thời sự về chính trị, quân sự hay nhân vật lịch sử một
thời như Hitler chẳng hạn.14
Kể từ sau tháng 11-63, khuôn mặt báo chí, sách truyện
ở miền Nam có rất nhiều thay đổi. Có hiện tượng bùng
lên về số báo xuất bản, về số truyện dài để lấp đầy
trang báo và để lôi cuốn bạn đọc. Có vấn đề thị trường
tiêu thụ, vấn đề thương mại, quảng cáo. Có vấn đề viết
nhanh viết vội, viết thấp, viết dễ, viết để giải trí.
Nhưng bấy nhiêu yếu tố cũng không đủ giải thích sự bùng
lên của sách dịch. Không ai trong số các nhà văn đã
đặt ra một cách tự vấn là viết cho ai? Viết cho loại
độc giả nào? Có đáp ứng được đòi hỏi của người đọc không?
Có tầm nhìn, tầm hiểu biết về trào lưu tư tưởng của
thế giới không? Tôi nghĩ câu trả lời là Không, cùng
lắm là chưa đủ và hạn hẹp.
Không phải nhà văn VN thiếu khả năng sinh ngữ, yếu
kém văn hoá, nhưng không có đủ thì giờ để đọc, để trau
dồi. Vấn đề của các nhà văn VN là vấn đề thì giờ, vấn
đề sinh nhai. Có nhà văn bận sinh kế, lớp lo làm báo,
dạy tư chạy hết trường này sang trường khác. Càng dạy
hay, càng nổi tiếng, càng bận. Rồi mở trường, chủ bút...
thì giờ đâu cho việc đọc, việc nghiên cứu. Đọc mười
chưa chắc viết được một. Câu người ta nói chẳng có thiên
tài nào mà lại không có tiền bối vẫn đúng. Không đọc,
không có vốn, làm sao viết sách cho có tầm cỡ được.
Nếu nhà văn đã không bị sinh kế ràng buộc níu kéo, chuyện
đã hẳn là khác. Nhiều nhà văn nhà báo khác cũng lao
đao khốn khổ như thế vẫn không đủ ăn. Ngày viết 4, 5
truyện dài chỉ là chuyện viết vội, vá víu cho xong.
Trường hợp như nhà văn Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ
phải lao đao đầu này, đầu kia mới có đủ ăn, nói ra đến
tàn nhẫn. Viết hay sao được. Những cách viết vội, viết
lấy được, viết cho có, thấy rõ nơi các ông Chu Tử, Hoàng
Hải Thủy, Lê Xuyên. Vốn viết ít, vốn đọc ít ỏi, vốn
sống cũng không luôn. Vốn sống của một số nhà văn VN
là gặp bạn bè mỗi ngày, ngồi ăn nhậu, ngồi tán gẫu chuyện
thế sự, chuyện người, chuyện tào lao, chuyện ăn chơi,
chuyện trai gái... và để lấp tội, họ cho nhà văn là
phải sống trác táng, ăn chơi mới là nhà văn. Y như cái
thời xa xưa, nhà văn là phải cô đầu, hút thuốc phiện,
bài bạc trai gái. Vốn sống ở đây là vốn đi, vốn giao
tiếp trao đổi, vốn trải nghiệm với con người, với thiên
nhiên. Thật khó mà đòi hỏi ở các nhà văn Việt Nam hơn
thế được.
Cho dù Văn học dịch đã chiếm phần lớn thị phần người
đọc miền Nam trong 20 năm, vẫn chưa làm đủ chức năng
mà người ta chờ đợi ở nền văn học dịch thuật này. Các
trào lưu tư tưởng không được giới thiệu, hoặc dịch đồng
bộ. Rất khập khiễng. Thời Triết hiện sinh, có mấy cuốn
Triết kinh điển được dịch? Thời Phong trào "tiểu
thuyết mới"sau đó không có quyển nào. Đã thế, nhiều
cuốn lại dịch trùng lấp lên nhau. Một người dịch đã
đành, đến hai có khi đến ba, lãng phí thì giờ và công
sức. Nữa là đã không có dịch giả chuyên môn làm công
việc dịch thuật, trừ trường hợp tiểu thuyết của Kim
Dung và Quỳnh Dao. Mỗi người ghé qua một chút, rồi bỏ
đi. Công việc dịch thuật trở thành công việc thêm vào,
đọc cái gì thấy hay, thấy thích thì dịch chơi. Lại một
thứ nghiệp dư. Nếu không nghiệp dư thì dịch là để kiếm
tiền. Để kiếm tiền nên dịch vội, dịch ẩu, dịch truyện
nào câu khách. Đã có nhiều nhà văn, nhà thơ có thế giá
cũng đành lòng nhảy sang lĩnh vực dịch. Do thiếu tự
tin? Hay chỉ vì lý do tài chính? Nhưng lý do chính đáng
nhất là họ đọc được một tác phẩm hay muốn phổ biến cho
mọi người cùng được thưởng thức. Chẳng hạn nhà văn Võ
Phiến với Hai mươi bốn giờ trong đời một người đàn bà.
Rồi Thế Uyên với bộ sách dịch về Tình Dục và Exodus,
Về miền đất hứa. Thời đó, những loại sách về Do Thái
rất được ưa chuộng. Cuốn Về miền đất hứa là một câu
chuyện cảm động đến ứa nước mắt. Có những hình ảnh câu
chuyện về tướng độc nhãn Moshe Dayan đeo kính den trở
thành một cái mốt. Hầu như bất cứ tướng lãnh nào của
Việt Nam khi lên tướng thì việc làm đầu tiên của họ
là phải sắm một cặp kính đen. Tiếp đến là các nhà thơ
Thanh Tâm Tuyền, nhà thơ Tô Thùy Yên, Đinh Hùng với
bút hiệu khác Hoài Điệp Thứ Lang, Lê Huy Oanh, Mặc Đỗ,
Huỳnh Phan Anh, Hoàng Hải Thủy, Trần Phong Giao, Hoài
Khanh, Bùi Giáng... Những người này phần lớn là công
chức, giáo sư hoặc một thiểu số ở trong quân đội. Họ
có lương bổng, đời sống tương đối ổn định. Dịch thêm
như một nghề tay trái. Trong số những người trên, Trần
Phong Giao đã để tâm dịch thuật khá nhiều về các tác
giả Hiện Sinh. Công của ông không nhỏ. Người ta cũng
nhận thấy, ít khi nào có sách dịch ngay từ khi cuốn
sách mới được xuất bản ở nước ngoài. Nó mất cái thời
tính, cái trào lưu và sự cập nhật thông tin. Nó là những
sản phẩm quá date. Trong phạm vi dịch thuật, chúng ta
tụt hậu từ 50 năm đến 100 năm. Chẳng hạn, cho đến bây
giờ mà dịch giả uy tín của miền Bắc, Dương Tường còn
mang Camus ra dịch lại. Dịch lại L’étranger mà trước
đó 40 năm đã có ba dịch giả trong miền Nam dịch rồi.
Nếu mục đích dịch là để cho người đương thời tìm hiểu
một tác giả, một giai đoạn văn học thì còn tạm được,
nhưng nếu dịch để cho độc giả bây giờ đọc để giải trí
thì đúng là lỗi thời. Thế giới truyền thông, thế giới
sách vở hiện đại mà thật khó có tác phẩm nào ngồi quá
một năm trên kệ sách, việc dịch thuật sách cũ, dù là
nổi tiếng cũng cần được xét lại. Lấy một tỉ dụ: Tôi
ra thư viện mượn lại cuốn Bonjour Tristesse của Sagan,
cuốn duy nhất còn sót lại trong ba thư viện để đọc lại.
Năm 1999, ghi có hai người mượn đọc, năm 2000 có một
người mượn vào ngày 11 tháng Giêng. Từ 4 năm nay, không
ai đọc nữa. Có một số tác giả làm công việc dịch vì
lợi nhuận, đã không chọn tác giả, đầu sách, mà nhắm
vào thị hiếu khiến nhiều cuốn sách dịch đáng nhẽ không
nên có mặt. Nhưng biết làm sao được, vì vẫn có một số
người đọc.
Dù gì đi nữa, sách dịch đóng góp không nhỏ vào thị
trường sách vở miền Nam. Nó bù vào chỗ cái thiếu của
nhà văn VN. Thiếu về sự đa dạng, thể loại, về tầm cỡ,
về tư tưởng thời đại. Nếu về kinh tế, xuất cảng là đầu
ra của sự thịnh vượng, thì về văn học, dịch thuật là
đầu vào của một sinh hoạt văn học đa dạng và phong phú.
Còn nếu cái sinh hoạt đó như thế nào, hay hay dở, phần
quy trách vẫn là phía các người làm văn hoá, nghệ thuật,
các nhà văn, nhà thi sĩ. Nếu họ viết không tới, không
đáp ứng được tính đa dạng của nhu cầu người đọc, trách
nhiệm về họ.
Trong bất cứ trường hợp nào, người đọc bao giờ cũng
có lý. Nhưng đừng quên rằng, trước 1954 cả trong Nam
lẫn ngoài Bắc, chưa thể nói đến một nền văn học dịch.
Nhóm Tự Lực Văn Đoàn của Nhất Linh chẳng hạn không chú
trọng đến phần dịch thuật. Cuốn duy nhất của nhóm này
đã dịch là cuốn Le Chemin du bonheur của Victor Pauchet.
Trong Nam, trước 54, cái người có công lớn nhất trong
việc dịch thuật là ông Phạm Văn Tươi, tức nhà xuất bản
Phạm Văn Tươi, vào năm 1950 đã dịch và cho xuất bản
lọai sách Học làm người (Culture humaine, hay Selt improvement
) .15
Người ta biết rất ít về văn học thế giới. Có biết chăng
nữa, sự hiểu biết đó gói ghém vào trong các nhà văn,
nhà tư tưởng của thế kỷ 17 đến 19 của Pháp và thường
chỉ có những học sinh xuất thân từ các trường Tây hoặc
ban C, chương trình Việt mới có cơ hội được học hỏi.
Lần đầu tiên ở miền Nam mà thôi, nhờ dịch thuật mà thế
giới văn chương nước ngoài được du nhập vào VN.
Nghĩ lại 20 năm miền Nam là cả một trời văn học dịch.
Thật khó có một thời điểm nào phong phú và đa dạng hơn
nó nữa. Sự phủ nhận nó là một điều tồi tệ.
NGUYỄN VĂN LỤC
Gia Nã Đại, 8-2004
Chú thích
1 Trích dẫn TTĐĐ, Văn Hoá Văn Nghệ… trang 427. Nhà
XB Văn Hoá, Thông Tin.
2 Trong một bài viết trên Hợp Lưu, tháng 10-11-2002
để giới thiệu cuốn Triết Học Hiện sinh của Trần Thái
Đỉnh, Thụy Khuê đã xếp "tứ trụ" về Triết Tây
thời đó là Trần văn Toàn, Lê tôn Nghiêm, Nguyễn văn
Trung và Trần Bích Lan. Riêng trường hợp TBL, theo tôi,
có thể thay thế bằng Trần Thái Đỉnh, mặc dầu xuất hiện
sau, có lẽ công bằng hơn. Trần Thái Đỉnh có công giới
thiệu Triết học Hiện Sinh một cách giáo khoa mạch lạc,
hệ thống giản dị và dễ hiểu.
3 Trích lại trong Nhìn lại những chặng đường đã qua
1955-1995. Nguyễn Văn Trung, Montréal 2000, trang 355
4 Tạp chí Đại Học Huế có những bài sau đây:
Vấn đề giải thoát con người trong Phật Giáo và tư tưởng
J .P Sartre.. Nguyễn văn Trung, số 2, tháng 5-1958;
Thời gian Hiện sinh trong Đoạn Trường Tân Thanh, Lê
Tuyên; Cái nhìn hay đám cưới với cuộc đời, Nguyễn văn
Trung; Tưởng niệm Camus, số 14 tháng 3-1960; Vài cảm
nghĩ về tình cảm phi lý của kẻ lưu đầy, Nguyễn văn Trung;
Từ tri thức phản kháng đến tình liên đới nhân loại,
Lê Tuyên; Le message interrompu d’Albert Camus,P.Rietsch;
Dịch: Người khách trọ (Camus ); Vấn đề trào lưu hiện
sinh, 11-60; Vị trí trào lưu hiện sinh trong lịch sử
Triết học, Trần văn Toàn; Giới thiệu Triết học Merleau
Ponty, Trần Thái Đỉnh; G. Marcel hay con người là một
huyền niệm, Thân văn Tường; Vấn đề con người trong tư
tưởng Karl Jasper, Lê tôn Nghiêm; M. Heidegger, triết
gia của chân lý ( dịch). R. Campbell; Cuộc đời như một
tra hỏi, Nguyễn văn Trung; Karl Jaspers hay là thảm
trạng của tri thức trong thân phận con người, M. Heidegger
là triết gia của Hữu thể hay của Hư vô, Thân văn Tường;
Thi ca và triết học, Nguyễn văn Trung; Yếu tính của
tha nhân, Trần thái Đỉnh; Tôi với người khác, Cung Giữ
Nguyên; Tha nhân, thành phần của bản thân tôi, Trần
văn Toàn;
Heidegger và bản chất của thi ca, Trần Thái Đỉnh
Trên Tập san Tư Tưởng của Viện Đại học Vạn hạnh:
Vị trí của Vô thể Heidegger trong tư tưởng Đại Thừa,
Ngô Trọng Anh; Heideigger trước sự phá sản của tư tưởng
Tây Phương, Từ Heideigger 1 đến Heideigger 2, Trần công
Tiến; Sự thất bại toàn diện của Heidegger và con đường
tư tưởng VN, Phạm công Thiện; Tư tưởng là gì?, Tuệ Sĩ.;
Phật giáo và chủ nghĩa Hiện sinh, Quang Minh 1968; Camus
giữa lòng thế kỷ 20, Nguyễn khắc Hoạch.
Trích lại trong * Nhìn lại những chặng đường đã qua,
trang 351, 352. ( 1955-1995) của Nguyễn văn Trung, ấn
bản Photocopie.
5 Trích lại trong Những chặng đường đã qua của Nguyễn
Văn Trung, trang 358.
6 Sau này in lại trong Nhận định 2, trang 30-47
7 Trong các nhà văn nam giới, Thế Uyên là ngòi viết
có ám ánh tình dục trổi bật. Chỗ nào, bất cứ ở đâu trong
một trang sách của ông cũng có vấn đề ấy. Có người đã
cất công đi đếm trong một cuốn truyện của ông có bao
nhiêu lần tả những xen làm tình. Đã vậy, ông còn dịch
cả một bộ Tình dục 4 cuốn. Thế Uyên cũng còn dịch cuốn
sách nổi tiếng Exodus, Về miền đất hứa, nội dung nói
về dân Do Thái về lại Israel.
8 Trích trong Krisnamurti, Dòng sông Thanh Tẩy, Nguyễn
Ước dịch. Trang 471. Nhà Nguồn sống.
9 Bắt đầu từ năm 1960 với những bài trên tờ Văn Đàn
của Phạm đình Khiêm: Nhân đọc bài luân lý và Văn Học
của ô. NVT, từ thái độ cởi mở đến sự phủ nhận luân lý
trong Văn Học. Bùi Tuân: Lại một trạng thái cuồng loạn
phơi bầy trong tiểu thuyết. Nguyễn Đức Trọng: Chúng
tôi tố cáo mầm phản lọan trong văn nghệ. Bút nhọn. Hay
như Nguyễn Trọng Văn viết: Những con hoang của NVT.
Bách Khoa số 264. Trích lại trong Những chặng đường
đã qua… của Nguyễn văn Trung, trang 352
10 Đặc biệt nhất là nhà Lá Bối do nguyên Đại đức Từ
Mẫn, tên thật là Võ Thắng Tiết. Thầy là người có lòng,
để việc phụng sự văn học nghệ thuật lên trên tiền bạc.
Thầy Từ Mẫn đã giúp các nhà văn có nơi xuất bản những
đầu sách có giá trị và người đọc có cơ hội đọc những
cuốn sách trang nhã, chăm sóc từng chút trong việt trình
bầy ấn loát và cả đến nội dung sách. Tất cả sách của
Nhất Hạnh đều từ đây mà ra. Nếu không có Lá Bối, những
Chiến tranh và Hoà Bình, Chiến Quốc Sách, Sử Ký Tư Mã
Thiên, Kiếp người của Sommerset Maugham, Mười khuôn
mặt văn nghệ hôm nay và Lối thoát cuối cùng của V. Georghiu
sẽ nằm ở đâu? Nếu không có Lá Bối, nhiều sách chắc gì
đã có cơ hội ra mắt bạn đọc. Nhất là bộ Chiến tranh
và Hoà Bình của Léon Tolstoi. Sau này, ở Hải ngoại,
ông tiếp tục làm công tác văn học với nhà xuất bản Văn
Nghệ. Nếu cần một vinh danh gì cho 20 năm Văn học dịch
nói riêng và Văn học nói chung, có cần nên nhắc đến
Võ Thắng Tiết không? Kẻ lót đường cho Văn học miền Nam.
11 Mặc dầu là nhà văn chuyên nghiệp, Võ Phiến cũng
đóng góp vào sinh hoạt dịch khá sớm 1963, lúc mà sinh
hoạt dịch đang rộ với các cuốn: Hai mười bốn giờ trong
đời một người đàn bà (Stéfan Zweig). Các trào lưu lớn
của tư tưởng hiện đại (André Maurois). Truyện hay các
nước 1 và 2, cùng dịch với Nguyễn Minh Hoàng. Ông chồng
muôn thuở (Dostoevsky)
12 Trích Kim Dung giữa đời tôi, quyển thuợng, của Vũ
đức Sao Biển trang 8, Nxb Trẻ. Vũ Đức Sao Biển, nay
đuợc coi như nhà * Kim Dung Học* ở Việt Nam. Ông có
cho xuất bản ba cuốn sách về Kim Dung: Kim Dung giữa
đời tôi. Quyển thượng: Kiều Phong, khát vọng tự do.
Quyển Trung: Thiên hạ đệ nhất Mỹ Nhân và quyển kết:
Thanh Kiếm và cây đàn. Ngay từ trước 75, Đỗ Long Vân,
một giáo sư Đại học văn khoa Sàigòn, và đại học Huế
xuất thân Sorbonne, bạn học với Nguyên Sa đã viết một
bài luận thuyết dài đăïc sắc: Vô Kỵ giữa chúng ta hay
Hiện tượng Kim Dung. Sau in lại trong cuốn Kim Dung:
Tác phẩm và dư luận, Nxb Văn Học.
13 Lấy lại ý của Đỗ Long Vân, trong phần Nghi vấn đạo
lý trong Kim Dung. Trích trong Kim Dung, tác phẩm và
dư luận, trang 188. Nhà xuất bản Văn Học
14 Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái. Dalton, trọn
đời chinh chiến. Từ hy Thái Hậu. Cuộc truy nã tên đồ
tể Adolf Eichmann. Cuộc săn tìm vũ khí bí mật của Hitler.
Bài học Israel. Tướng độc nhãn Moshe Dayan. Hitler,
tội phạm chiến tranh hay là vụ án Nuremberg và cuối
cùng đừng quên Nhật Ký của Anne Frank.
15 Trích lại trong 10 câu chuyện văn chương, Nguyễn
Hiến Lê, tr 43, nxb Văn Nghệ
|