CON NGƯỜI VÀ THI
CA, BIÊN GIỚI CỦA MỘNG VÀ THỰC:
Sự hiện hữu của con người được kể như vô nghĩa nếu
không nhờ thi ca làm đẹp cuộc đời. Con người vốn là
dòng sinh mện trôi lăn giữa phongng ba bão tố, thỉnh
thoảng dừng lại với những biến động trá hình hạnh phúc
mà đúng ra là cửa ngõ của những nghịch cảnh khác. Hạnh
phúc mà chúng ta đang trực diện nếu có, chỉ là bóng
dáng giữa mộng và thực, ranh giới của nó tựa như đường
tơ kẽ tóc, như nhát kiếm chém phăng vào dòng nước đang
chảy, biên giới nầy mong manh như chính thân phận con
người.
Thực cũng chỉ là mộng được dệt nên từ có của thời gian,
những khởi động đi qua nhanh như tia chớp, tạo cho ta
tưởng chừng đó là hiện thực, sự thấp thoáng mờ ảo đó
biến thế nhân trở thành đối tượng chỉ sống với cảm quan
phong phú, được dệt nên và hình thành từ cuộc sống vốn
tràn ngập phi thực. Ý tưởng nhận thức được hưng khởi
theo chiều hướng sai sử tác động, không nằm nơi nguyên
ủy của lý lẽ vượt thoát.
Con người sống với niềm kiêu hãnh, ôm giữ những gì
có được trong đôi tay, yên mình theo nghĩa thực hữu,
quan cảm nếu được xuất hiện trở thành định lý bất di
bất dịch, vì thế chặng đường đập vỡ thành trì cứng nhắc
của tưởng quan lắm lúc trở nên bất lực.
Biên giới được xem là ngăn cách không tạo cho con người
cảm thông với sự biết và không biết, giữa say với tỉnh,
giữa mộng với thực. Khi nào ranh giới này bị san bằng
tiêu hủy thì mộng và thực ấy còn lại một khối duy nhất,
vượt ra ngoài những biên kiến, say bới tỉnh như cơn
lốc cuốn hút vào hư vô. Có ai tỉnh hoài mà không say?
Có ai say hoài mà không tỉnh? nhưng, nếu tỉnh theo nghĩa
tỉnh của thực tại thì điều này cũng chỉ trá hình của
say, bởi lẽ hiện thực được dựng nên từ cảm quan, tưởng
chừng chứ không phải là một thực tại với những tra vấn
khám phá, những đặt lại nếu có, thì thực tại này trở
thành phi thực ngay. Nếu trở thành phi thực thì sự có
mặt của con người há không phải đang say hay sao?
Biên giới thi ca nằm ngay trong khoảng đó tạo cho con
người cách thức nhìn sự vật theo những cảm xúc lạ thường,
vượt ra khỏi cuộc đời bên cạnh lối nhìn thi vị. Với
thi nhân, nếu trăng là trăng thì trăng không còn thơ
mộng, huyền ảo nữa và Lý Bạch đâu có tự mình nhảy xuống
sông vì chỉ muốn ôm giữ một vầng trăng. Vầng trăng mà
họ Lý muốn có được trong đôi tay bé nhỏ của mình chính
là vầng trăng của mộng và thực. Vì nếu, họ Lý biết là
trăng chiếu rọi bóng ở dưới nước, thì đâu tự mình tìm
lấy cái chết oan uổng. Còn nếu bảo rằng trăng là thực
thì ông cũng thừa hiểu rằng cọi thực ấy chỉ có ở trên
nền trời trong xanh chứ đâu nằm ở dưới nước, nhưng họ
Lý đã thoát ra ngoài tương quan, nên tìm đến vầng trăng
mà không cần biết trăng ấy từ cõi nào. Chừng đó cũng
đủ rồi, tra vấn nhiều thì trăng không còn thơ mộng nữa.
Nhưng không có nhĩa nhìn trăng và thấy đó là đơn thuần
thì cuộc sống và thi nhân hóa ra vô vị sao? Ngôn ngữ
thi ca trở thành một thứ quyền năng biến hóa không lường.
Có như thế Hàn Mặc Tử mới bắt "trăng nằm sóng sõi
trên cành liễu" hay Xuân Diệu mới bắt "gió
hôn trên má". Không phải thi nhân có quyền năng,
nhưng sự sáng tạo để dệt nên thi ca trở thành quyền
biến và đưa tri giác của thi nhân thoát ra ngoài những
sai biệt mà một con người bình thường không thể tìm
được. Thi nhân là kẻ cố gắng khám phá những gì đang
bị che dấu, khuất lấp trong thực tại. Sự cố gắng này
không có nghĩa phải nặn óc để có những vần thơ, mà điều
này là cách nhìn mới lạ vốn đã được un đúc sẵn trong
thi nhân, có cơ hội nhìn ngắm đối tượng thì cảm xúc
trào dâng, vui buồn đối với thi nhân cũng chỉ là sự
pha trộn giữa mộng và thực, khám phá truy tìm những
mới lạ không có nghĩa để từ đó chạy trốn cuộc đời mà
phải sống thực và gần gủi với đời. Trong niềm hoan lạc
hay trong khổ đau ngôn ngữ thi ca đều có mặt, diễn tả
những trạng huống nầy thơ mộng ngay lúc khổ đau đến
độ dư thừa:
"Một chiếc cùm lim chân có Đế"
Ba vòng xích sắt bước thì Vương"
(Cao Bá Quát)
Điều quan trọng là phải hoán chuyển những thực trạng
đó trở thành ngôn ngữ mà đối tượng thưởng thức tìm thấy
giá trị siêu việt. thi nhân không cần phải áp dụng đến
nghệ thuật vì thi nhân vốn đã là một siêu nghệ thuật
rồi, nếu sự chuyển hóa phải có nghệ thuật thì sự trào
dâng để có thi ca trở nên đè nén trong nghệ thuật. Thơ
được xuất hiện khi đi qua quá trình cảm nhận và rung
cảm, nếu muốn xử dụng nghệ thuật thì phải xử dụng trước
khi rung cảm. Một khi rung động xuất hiện, thi nhân
không nỡ chèn ép dù đó là nghệ thuật để thi vị lời thơ.
Nhưng nếu thơ được xuất hiện trong ngăn ngại thì hồn
thơ trở nên tức tưởi và ngôn ngữ thi ca không còn dệt
từ những cảm quan tuyệt diệu nữa. Nó trở thành công
lệ của nghệ thuật.
TÍNH CHẤT NGHỆ
SỸ TRONG CON NGƯỜI MÃN GIÁC:
Mãn Giác được mệnh xưng là con người nghệ sỹ, nhưng
vượt lên trên tất cả những gì được gọi là nghệ sỹ. Nghệ
sỹ ở đây được hiểu theo nghĩa những rung động, những
cảm hứng vụt khởi, để rồi còn chỉ lại lời thơ, một chút
gì đẹp thấp thoáng ẩn hiện trong vô cùng. Và nghệ sỹ
ở đay theo nghĩa lãng quên, làm tất cả nhưng không hề
nhớ mình đã làm cái gì cũng như không có cái gì để làm
cả, không một vật nào có thể trói buộc ngăn ngại được.
Nếu có nhớ thì sự nhớ ấy chỉ là cách để quên và đôi
khi sự nhớ nầy trở thành vô niệm trong đó. Vượt lên
trên những phê phán ngộ ngận, đạp tung những gì được
gọi là định thước. Những thứ ấy không cần thiết và không
làm trở ngại nhất là con người nghệ sỹ giải thoát.
Mãn Giác đã đẩy lui thời gian ra khỏi ngưỡng cửa chờ
mong, phóng mình tới đích phi thời gian. Đêm trước sân
cười một nhánh mai đã chấn động cả đất trời, như tiếnng
vang đinh tai nhức óc làm con người chơi vơi giữa khoảng
tử sinh.
Con người đo lường cuộc sống và sự sống bằng thời gian,
chờ đợi để được trả lời những nghi vấn, thực ra nó hình
thành cũng do chúng ta muốn kiểm chứng đo lường, để
rồi sau đó chính nó gây nên những tác động, làm con
người trở nên lệ thuộc và đau khổ khi bị đào thảo tàn
phá, như Xuân Diệu chẳng hạn, xuân vừa đến bỗng sợ xuân
mất. Dù rằng Xuân Diệu đã thấy được sự vô thường trong
đó.
"Xuân đang đến nghĩa là Xuân đang qua
Xuân còn non nghĩa là Xuân sẽ già
Mà Xuân hết thì đời tôi cũng mất!"
Trái với Mãn Giác bỏ đi thời gian, quên đi mọi vật,
chỉ còn cành mai đang phôi sắc tồn tại mãi nơi tâm thức,
không còn gì có thể chi phối được nữa. Bản thể khi đã
thấu rõ, đâu còn băn khoăn lo lắng, thương đau, ngược
lại có thái độ bình tĩnh, tự tại, an nhiên trước những
đổi thay biến hiện. Con người nếu đạt được điều này
có thể vẫy tay chào tạm biệt thời gian không một luyến
tiếc như Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu với mấy vần thơ:
"Người đời ai cảm? Ta không biết
Ta cảm thương ai viết mấy lời
Thôi thì: Cùng thu tạm biệt
Thu hãy tạm lui
Chỉ để khách đa tình đa cảm
Một mình thay cảm những ai ai?
Tính chất nghệ sỹ ấy nếu được khơi mở đúng mức thì
cuộc đời là một cuộc thơ, thăng hoa trên lối về, làm
nở những đóa hoa trong vô cùng mà hình ảnh của nó tô
thắm khung trời mơ. Mãn Giác đã ý thức một cách thân
thiết trọn vẹn về con người, những tương quan hiện hữu
nếu không được buông bỏ ra khỏi cuộc đời thì trở thành
gánh nặng cho mình. Chỉ có tính chất nghệ sỹ mới dám
đạp tung ra khỏi đôi vai và tâm tư chính mình. Nếu,
áp dụng Thiền trong sự pha trộn thì nghệ sỹ này rong
chơi dạo khắp nẻo luân hồi hỗn độn mà không hề bị hề
hấn chùng bước. Đi vào cuộc đời tựa như đến khu vườn
với trăm ngàn hương thơm cỏ lạ đang chờ đón. Nếu trong
ấy có những đóa hoa nào tàn rơi rụng thì với nghệ sỹ
tính không khởi lên mối thương đau, vì đó là cách biến
dạng để đến môi sinh khác. Và nếu có thương đau thì
sự thương đau ấy chỉ là rung động để từ đó dệt nên lời
thơ, chắc hẳn sau đó bỗng như gió thoảng mây bay, còn
lại chút gì nghệ sỹ truyền cho nhân thế. Đôi lúc thi
nhân không cần đến sự thưởng thức của kẻ khác, bởi lẽ
mấy ai rung động trọng vẹn như thi nhân đã từng rung
động, và nếu có, chắc gì hiểu được ý thơ. Với nghệ sỹ
thơ nếu được trào dâng thì điều ấy có nghĩa là thông
lệ, không nhất thiết để người thưởng ngoạn mà không
bắt đúng nhịp.
Một bài thơ được kể như hay nhất là bài thơ không bao
giờ được viết nên lời.
Như Hùng
BÀI ĐỌC THÊM:
VỀ
MỘT BÀI THƠ THIỀN MÙA XUÂN
Bên
Lề Bài Thơ Cổ Điển Nhất Chi Mai
Thiền
Lão Thiền Sư và khuynh hướng sống cho mình
Thiền
và thi ca trong thi kệ Mãn Giác Thiền Sư
TÍNH
CHẤT NGHỆ SỸ TRONG CON NGƯỜI MÃN GIÁC
|