Thiền sư Mãn Giác

Thiền sư Mãn Giác, tên thật là Lý Trường, sinh nǎm 1052, viên tịch ngày 17-12-1096.
Thông hiểu cả Nho giáo và Phật giáo nên lúc 20 tuổi ông đã được chọn vào cung dạy Hoàng tử. Ít lâu sau, ông đi tu được sư Quảng Trí truyền tâm ấn, nối truyền thế hệ thứ 8 dòng thiền Quan Bích, có nhiều học trò theo học.
Vua Lý Nhân Tông và Hoàng hậu rất trọng đãi ông, cho xây cất một ngôi chùa để ông trụ trì, thường gọi ông là Trưởng lão, hay mời đến hỏi han giáo lý và bàn việc nước.
Thiền sư Mãn Giác còn để lại một bài kệ nổi tiếng có tên là "Cáo tật thị chúng" được dịch ra quốc âm như sau:
"Xuân ruổi trǎm hoa rụng
Xuân tới trǎm hoa cười
Trước mặt, việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi!
Đừng tưởng xuân tàn, hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai".

CÀNH MAI MÃN GIÁC
Thích Lệ Thọ

Mai là một loài hoa đặc biệt chỉ khoe sắc thắm khi tiết trời quang đãng và ấm áp. Vì thế, nó được dân tộc Việt nam yêu quí như một người bạn thân thiết, không thể thiếu vào dịp lễ hội Tết cổ truyền của dân tộc . Ngoài nét đặc biệt đó ra, nó còn là một biểu tượng của sự vươn dậy sau giấc ngủ co mình trong những ngày tháng ảm đạm và giá rét của Thu Đông.Khi nhìn thấy sắc vàng tươi thắm của hoa mai người ta còn liên tưởng rằng, nó đồng hành với mùa xuân vào dịp xuân sắp đến, đang đến hay mới đến. Mang lại vui tươi, hạnh phúc, mai mắn, dồi dào, thịnh vượng,sức khoẻ, trẻ trung…

Mùa của sức sống rừng rực dâng lên khiến cho lòng người hân hoan thư thới và lạc quan yêu đời, yêu người hơn. Vì vậy, khi mai nở, xuân về là một nguồn cảm hứng bất tận cho những tâm hồn nhân sĩ, thi sĩ…mặc tình rong chơi hoặc tắm mình trong thiên nhiên:

"Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành Lê trắng điểm một vài bông hoa
…"
Từ khoảng trời mênh mông nên thơ đó, mỗi người tự cô đọng cho mình thành những vần thơ bất hủ, những áng văn trác tuyệt đi vào lòng người như bài thi kệ "Cáo tật thị chúng" của Mãn Giác Thiền sư:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Đây là một trong những bài thơ được trong giới nhà thiền hay những văn nhân thường nhắc lại cái hay, cái đẹp của ý tứ thơ vào những độ xuân về.
Thông thường, hàng năm khi đưa tay bốc đi tờ lịch cuối cùng trên vách, là mọi người đều có cùng một ý nghĩ, xuân đã về. Và cũng lấy đó làm cột mốc thời gian cho ba trăm sáu mươi lăm lần vòng quay của trái đất, để đánh dấu cho ngàn lẻ một chuyện như: Hạnh phúc, vui tươi, thành đạt, tủi nhục, chán nản thất vọng … Nhưng tất cả đều được gát lại với sự bằng lòng hoặc miễn cưỡng, để hòa mình cùng sự vươn dậy của trời đất

thiên nhiên đang lai động đến muôn hoa khoe sắc thắm, nghìn lá đâm chồi nẩy lộc mà mọi người gọi đó là biểu tượng Kiết tường, và luôn mong mõi nó sẽ kéo dài cho những ngày sắp tới, để bù lấp cho những điều bất như ý không trông đợi mà nó vẫn đến! Đó là những ngày tận hưởng hương vị của xuân hoặc vui cái Tết cổ truyền của dân tộc. Để rồi sau đó, mọi người lại phải lăng xăng, tất tả, ngược xuôi cho công việc của mình.

Cảm nhận xuân như thế là xuân của thời tiết, vui xuân trong nỗi thụ động của thế thường tình, nên Chế Lan Viên đã gom lại thành những vần:

" Tôi có chờ đâu có đợi đâu
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu
Với tôi tất cả là vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau…"

Quả là, Thi nhân đã cảm nhận được dòng sinh diệt đang vận hành một cách tùy thuộc, vay mượn, không có tính độc lập mà con người là nạn nhân trong guồng quay vô tận đó! Nhưng, chính tác giả cũng không làm gì hơn, để chia xẻ với những ai có cùng tâm tư – bâng khuâng, xao xuyến… Phải chăng, trong cuộc sống này, tất cả chúng ta không ai thoát được quy luật hiển nhiên khắc nghiệt đó, để phải suốt cả một đời đuổi bắt câu vó thời gian! Nên ngay cả Thi sĩ Mãn Giác Thiền Sư cũng để lại rằng:
Xuân đi, trăm hoa rãi
Xuân đến,trăm hoa khai
Xem chuyện đời trước mắt
Tóc trên đầu đã phai
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Tối qua, vườn trước một cành mai.
(Thi sĩ Võ Đình dịch)

Không, mới đọc vào hai câu đầu của Thi kệ, chúng ta đã nghe lạnh cả hư không và tê buốt cả cõi long, vì cách sử dụng ngôn từ khúc chiết, dè xẻn để chuyển tải ý. Mặc dù, từ ngữ hết sức bình dị, đối với những ai ít khi dùng từ Hán-Việt vẫn có thể hiểu một cách trọn vẹn. Nhưng nó lại mang ý và tứ thơ vô cùng thâm viễn, chúng ta thử đọc lại nguyên văn:
" Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai…"

Sự vận hành của thiên nhiên là thế đấy. Khi xuân đã đi thì trăm hoa rơi rụng, nhưng khi mùa xuân sẽ đến, đang đến thì trăm hoa khoe sắc
thắm, dưới nắng vàng dìu dịu và vài cơn gió thoảng đung đưa cành lá. Xuân đến và đi, trong mắt của Thiền sư là thế – thanh thoát, nhẹ nhàng, bình thản và an lạc. Cho nên ngay cả:

" Xem chuyện đời trước mắt
Tóc trên đầu đã phai …"

Cũng chẳng có gì là vướng bận tâm hồn. Bởi, Sinh, Trụ, Dị, và Diệt là như thế, nên cứ bình thản mà sống với hiện hữu. Những việc qua rồi không nên nuối tiếc, những gì chưa đến thì đừng mong cầu. Sỡ dĩ, mỗi cá nhân cảm thấy mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét và muốn luôn bức bách trong cuộc sống là vì không thể kiềm chế lòng ham muốn. Nói như vậy, không phải triệt tiêu ý chí phấn đấu vươn lên của cá nhân trong guồng máy xã hội. Mà ngược lại, nó mang một chiều hướng tích cực, góp phần cho việc ổn định, phát triển và đem lại hòa bình Thế giơi Bởi mỗi cá nhân là thành viên của một quốc gia, hay nói rộng hơn là thành viên của cộng đồng loài người, nên mỗi cá nhân có hoàn thiện thì Thế giớ mới hòa bình, đó là điều kiện ắt có và đủ. Chính vì thế, Mãn Giác Thiền Sư đã khẳng định:
" Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Tối qua, vườn trước một cành mai…"

Để cho chúng ta thấy rằng, qui luật dời đổi tan thương của Vũ trụ chỉ là trò đùa đối với những ai đứng bên ngoài sự vận hành và hiểu rõ từng chuyện đời trước mắt một cách linh hoạt, tự tại như Vạn Hạnh Thiền sư đã từng thấy:
Thân như bóng chớp chiều tà
Cỏ xuân tươi tốt Thu qua rụng rời
Sá chi suy thạnh việc đời
Thạnh suy như hạt sương rơi đầu cành.
(Thích Mật Thể dịch)

Đối với các ngài là thế, bình thản trước cảnh biến đổi thời tiết và bãi bể hóa nương dâu, nên vui buồn, được mất không làm sao nao núng tinh thần. Trong khi đó, tâm tư của chúng ta lúc nào cũng đầy ấp bóng dáng của khổ đau, sợ hãi, lo âu và tránh né sự thật. Vì thế, khi được thì vui, mất thì buồn. Biệt ly thì đau khổ, gần gũi thì hạnh phúc. Ai khen thì nở mặt, ai chê thì ủ rũ. Vừa ý thì hân hoan, trái ý thì cáu giận. Nên khi gặp cảnh biến thiên của vạn hữu vũ trụ thì ngậm ngùi như Nguyễn Gia Thiều:
" Trải qua một cuộc biển dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng…"

Trong khi đó, ngoài bộ mặt đau thương biến đổi của Vô thường còn có sự vĩnh hằng, an lạc của tâm thức và ngoại cảnh. Tuy nhiên, chổ thâm áo này phải trầy trật lắm mới thẩm thấu được sự thật của vấn đề. Như chúng ta đã đọc biết bao nhiêu lần bài thi kệ của Mãn Giác Thiền sư, nhưng vẫn không có được cái thấy tự tại, an lạc và giải thoát như ngài. Phải chăng, đó chính là mấu chốt của vấn đề mà ngài muốn nhắn gởi đến chúng ta, hãy tu tập, thực hành thiền định, sống trong thiền định. Đừng chạy theo hiện tượng thời tiết và chẻ sợi tóc ra làm muôn mảnh để tìm sự thật trong đó!
Tóm lại, cành mai còn sót lại trước sân chùa sau đêm giao thừa với không khí tưng bừng của ngày lễ hội, hoặc còn sót lại cuối mùa xuân. Thậm chí, cho đến nó không có thật trong mùa xuân đó, thì cũng chẳng có gì để chúng ta thắc mắc. Nhưng chỉ có điều là chúng ta phải ghi nhận là cành mai đó nó có trong mắt của Mãn Giác Thiền sư, và không chỉ có khi mùa xuân sắp đến, đang đến mà nó hiện hữu hằng sát na trong ngài. Bởi vì, ngài đã từng lặng ngắm thế sự thăng trầm như vậy nhiều năm và trực nhận triệt để về tính cách bất biến vô sinh của chân tâm, thấy được bản thể vốn tịch nhiên vắng lặng và bất sinh bất diệt từ xưa đến nay và mãi mãi về sau cũng là như vậy. Thì làm gì còn có đến, đi, tàn, phai và héo úa của một cành mai đối với ngài. Phải chăng, đó chỉ là cách nói thâm trầm của người Đông phương khi muốn diễn đạt một vấn đề cho người khác cùng thấy như mình!

Nhân mùa xuân năm 2000, mùa xuân bắt đầu của một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên đầy hứa hẹn của sự thành tựu khoa học, để phục vụ cho con người về phương diện vật chất, người viết mạo muội nói lên một vài cảm nhận qua bài thi kệ của Mãn Giác Thiền sư để được dịp trao đổi cùng các bậc thức giả, nhằm mang lại món ăn tinh thần cho dân tộc nói riêng và cộng đồng loài người nói chung. Đang khi cầm chung trà, miếng mứt để thưởng thức hương xuân lan tỏa, chúng ta, đồng thời, cũng nên lẳng lặng cảm nhận niềm an lạc, trước một mùa xuân mới, mùa xuân của thời tiết. Nhưng nó lại mang sức sống rừng rực dâng lên khiến cho lòng người hân hoan thư thới, lạc quan yêu đời và ngừơi sống vì mọi người, trên tinh thần vô ngã, vị tha và bình đẳng. Đó là bức thông điệp của Mãn Giác Thiền sư đã gởi cho chúng ta từ nhiều thế kỷ qua!

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

NHẤT CHI MAI

Hàng năm cứ độ xuân về, các giai phẩm xuân, báo xuân đều trình làng những bài thơ mới . Tuy nhiên có một bài thơ cũ cách đây gần ngàn năm vẫn thường được nhắc đi nhắc lại nhiều lần hàng năm mà không làm ai chán cả. Ðó là bài thơ của Thiền Sư Mãn Giác. Nó được nhiều học giả và các nhà sư lý giải qua nhiều lăng kính khác. Nhân dịp xuân về tôi cũng mạo muội trình bày nó qua lăng kính của một người Thông Thiên Học.

Bản Hán Việt như sau:

Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá

Lão tùng đầu thượng lai

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai

Bài thơ này được Cụ Ngô tất Tố dịch như sau:

Xuân đi trăm hoa rụng

Xuân đến trăm hoa cười

Trước mắt việc đi mãi

Trên đầu già đến rồi

Ðừng bảo xuân tàn hoa rụng hết

Ðêm qua sân trước một cành mai

Về phương diện văn chương, bản dịch của cụ rất hay. Nó được thi nhân lồng vào đó cảm xúc của mình và thi vị hóa thêm (hoa cười- việc đi mãi- già đến rồi). Cái đẹp thi văn chú trọng nhiều vào nét thẩm mỹ hơn.. Ðể cho phù hợp với góc nhìn của mình, mang tính khoa học quy luât hơn. Ðồng thời giữ được nét thản nhiên của thiền và hai cặp đối đại nhị nguyên (bốn chữ cuối của bốn câu đầu) mà thiền sư rất chú trọng. (Tôi xin mở ngoặc ở đây một chút . Mỗi góc nhìn đều có một sắc thái riêng và giới hạn của nó. Ở đây tôi chỉ nêu ra sắc thái chứ không có ý phê bình.) Tôi xin được dịch như sau:

Xuân đi trăm hoa rụng

Xuân đến trăm hoa khai

Dòng đời qua trước mắt

Tuổi già đến sau lưng

Ðừng bảo xuân tàn hoa rụng hết

Ðêm qua sân trước một cành mai

“Hoa rụng”, “Hoa khai”, “qua trước mắt” , “đến sau lưng” đó là những chữ tôi dùng để mô tả cuộc đời bằng sự quan sát khách quan , một đặc tính của khoa học. Ðồng thời vẫn giữ được âm điệu thản nhiên, một hương vị của thiền . Ngoài ra tôi dùng hai cặp “hoa rụng/hoa khai” và “trước mặt/sau lưng” để đối hai cặp “hoa lạc/ hoa khai” và “quá/lai”. Tuy rằng không chỉnh về lời, nhưng chỉnh về ý vì nó tạo được hai cặp đối đãi mà Thiền Sư Mãn Giác đã dụng công đưa vào mà đa số những bài dịch khác từ trước tới nay ít chú ý đến điểm này, một điểm then chốt khi bàn luận về thiền.

Trở lại bài thơ trên với hai câu đầu, Thiền Sư Mãn Giác trình bày một quy luật bất di bất dich của thế giới sắc tướng này: đó là lẽ sinh diệt, diệt sinh, thành, trụ, hoại, diệt, xuân ,hạ, thu, đông, v…v , quy luật tuần hoàn của vũ trụ, nét đặc thù của thế giới sắc tướng - ẩn hiện, biến ảo và quy luật này chi phối tất cả mọi phần tử trong vũ trụ . Câu ba và câu bốn thiền sư đem quy luật này ứng dụng cụ thể vào con người. Theo dòng đời con người sẽ già và mất . Cái hay của bốn câu thơ trên là chổ một quy luật khoa học đã được thiền sư trình bày bằng một tiết điệu của thi ca mà không làm mất đi tính chầt khách quan của định luật khoa học. Ðọc bốn câu thơ trên ta thấy thiền sư không dùng bất cứ một tĩnh từ hay trạng từ nào (thường thì những tĩnh từ hay trạng từ hay được thi nhân dùng dể diển tả những cảm xúc của thi nhân cùng tăng phần thẩm mỹ. Tuy nhiên, đôi khi chúng làm mất đi cái tính khách quan).Thay vào đó thiền sư dùng toàn động từ để mô tả tánh cách vận hành của một quy luật khoa học một cách rất chính xác, nhưng khi đọc lên lại vẫn có giai điệu thi ca mới hay (thường trong thơ mà dùng toàn động từ đơn điệu thì nó dễ thành văn xuôi ). Ngoài ra thiền sư đã khéo léo trong khi gieo vần, đặt bốn chữ cuối cùng của bốn câu thơ đầu thành ra hai cặp, lạc/khai ( diệt/sinh), quá/lai (đi/đến) để tạo thành ấn tượng cho người đọc. Bằng lối điệp ý, Thiền Sư đã xử dụng hai cặp đối đãi nhị nguyên liên tục trong bốn câu đầu. Ðiều này cho chúng ta thấy thiền sư muốn nhấn mạnh đến quy luật tất yếu này, quy luật của thế giới nhị nguyên đầy sắc tướng này. Nhìn thấy việc dụng công trong việc dùng chữ của tác giả, nên tôi cũng theo ấy mà dịch .

Trong câu ba thiền sư dùng chữ “nhãn tiền”, hẳn là thiền sư muốn nói cái quy luật này quá rõ ràng ai cũng nhìn thấy, nó quá hiển nhiên, lồ lộ giữa ban ngày. Quả thật, quá rõ ràng. Hoa nở rồi hoa tàn, rụng - MẤT. Con người sinh ra, trưởng thành, bịnh tật rồi chết, hình hài tan biến - MẤT. Quả thật,không còn trật vào đâu KHI NÓ BIẾN MẤT trong thế giới sắc tướng này, và rồi ai cũng đinh ninh là như vậy. Nhưng vừa dứt câu bốn qua câu năm thiền sư liền cảnh giác : “Ðừng bảo xuân tàn hoa rụng hết”. Bây giờ chúng ta lần lượt xem xét từng chữ trong câu trên xem thiền sư muốn truyền đạt điều gì. Xuân tàn ý nói đến quy luật. Còn hoa ở đây biểu tượng cho Sự Sống là Chơn Nhơn là Bản Ngã, là Bản Lai Diện Mục , là cái gì cũng được tùy bạn gọi. Hoa lạc tận là hoa rụng hết, không còn hoa nữa -biến mất. Tóm lại ý của câu thơ thứ năm là đừng lầm lẫn khi nghĩ rằng sự hủy diệt hình hài, sắc tướng cũng hủy diệt luôn sự sống ẩn tàng ở bên trong mà Thông Thiên Học gọi là gọi là Chơn Nhơn, con người thực thụ của mình- bất tử, không bao giờ chết. Chỉ có Phàm Nhơn ẩn hiện theo quy luật. Sự hiển rồi ẩn của Phàm Nhơn cho chúng ta cái cảm giác mất mát. Theo Thông Thiên Học, Phàm nhơn không chỉ là Thể Xác này mà nó còn có hai thể khác nữa; đó là Thể Vía và Thể trí. Theo chu kỳ tiến hóa ( luân hồi),con người thể hiện qua các thể để tiến hóa nên cái định luật xuân tàn này chỉ ứng dụng cho thế giới sắc tướng của các thể mà thôi. Hình tướng biến thiên, còn mất, ẩn hiện, đôi khi người ta còn gọi nó là thế giới mộng ảo nhưng Sự Sống, Chơn Nhơn, con người thực, linh hồn vẫn trường tồn bất diệt.

Câu sáu thiền sư sẽ cho chúng ta thấy cái trường tồn bất diệt ấy, một câu thơ thật thần kỳ. Chúng ta hãy xem câu sáu nói gì.

“Ðêm qua” nói về ngày tháng, biểu tượng cho thời gian.

“Sân trước” nói về nơi chốn, biểu tượng cho không gian.

Một cặp nhị nguyên : không gian/ thời gian.

Thường thì chúng ta thấy cặp nhị nguyên xuất hiện dưới dạng có/không, trắng/đen, phải /trái, trước /sau, sinh/tử như một dạng hình học phẳng. Nhưng ở câu kết thiền sư cho chúng ta thấy thêm một dạng thức khác đó là cặp thời gian và không gian như dạng hình học không gian đa chiều. Nó biến ảo khôn lường rất khó mà nhận dạng được chúng. Hải ở Việt Nam, Hải ở Hoa Kỳ, Hải 1960,Hải 2000 Hải nào là Hải đây? Cặp nhị nguyên này cũng rất quen thuộc với người Thông Thiên Học.

Ngoài ra thiền sư cũng cho chúng ta thấy chúng trong dạng thức nhị nguyên khác: âm /dương.

“Ðình tiền”- sân trước ý là lồ lộ công khai biểu tượng cho dương tính .

“Tạc dạ” - đêm tối ý là ẩn kín biểu tượng cho âm tính.

Quả thật là tài tình khi dụng ngữ. Cùng một chữ mà Thiền sư làm cho người đọc nhận ra được tính đa dạng biến hóa của một cặp nhị nguyên như một viên kim cương lấp lánh nhiều mặt.

Theo tôi câu sáu này có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất thiền sư muốn truyền đạt là Sự Sống Duy Nhất (nhất chi mai) hay Chơn Nhơn nó thường hằng. Nó lồ lộ giữa ban ngày(đình tiền) vì vô minh (tạc dạ) nên chúng ta không nhận ra được . Chúng ta chỉ thấy cái sắc tướng bề ngoài mà thôi.

Muốn hiểu được nghĩa thứ hai mà thiền sư muốn truyền đạt, chúng ta phải để ý đến cách hành văn trong câu sáu. Nó không phải là một câu mà là ba nhóm chữ kết hợp mà không có động từ_: “Ðình tiền_ tạc dạ _nhất chi mai”. Những khoảng hở không động từ này chính là hành động mà hành gỉa phải tự điền vào. Thật vậy, qua một khoảng cách thì chúng ta phải làm thế nào? Chỉ có một cách duy nhất là phải vượt qua. Phải vượt qua thế giới nhị nguyên đầy sắc tướng này để đến bờ nhất thể _nhất chi mai . Nếu thiền sư dùng động từ vượt ở trong câu thì nó là cái vượt của nhị nguyên mất rồi. Không thể nói được, chỉ có sống thôi, chỉ có hành động thôi. Thiền sư đã dẫn dắt hành gỉa một đoạn đường rồi để hành gỉa phải tự mình tìm lấy cho mình một hành động thích hợp mà sống-sống thiền . Như thế mới quả thật là thiền. Không nói mà là nói. Không dùng động từ mà đầy cả hành động. Khi sự sống được người ta trình bày, được nói, đươc chuyển thành khái niệm hay được định nghĩa thì nó đã chết tức thì cho nên thiền sư không nói mà để dành cho hành gỉa tự điền vào chỗ trống- tự hành. Quả thật là đầy tính thiền.

Nói tóm lại bài thơ trên thiền sư Mãn Giác đã dẫn dắt hành giả từ thế giới nhị nguyên đến thế giới trường tồn bất diệt một cách mạch lạc và đầy hương vị của thiền học. Thiền sư ân cần nhắc nhở dù cho sắc tướng có biến thiên thế nào cũng đừng lầm lẫn. Hình tướng bị hủy diệt, tan biến đó chỉ là những biến ảo của thế giới nhị nguyên đầy sắc tướng mà thôi. Hành gỉa phải hiểu rằng còn có "một cành mai " một Sự Sống Duy Nhất vẫn trường tồn, một Bản Ngã duy nhất vẫn bất diệt đang ẩn tàng trong đó. Theo chu kỳ tiến hóa, Phàm Nhơn ẩn, hiện - chết, sống nhiều kiếp làm cho chúng ta có cảm giác mất mát. Sự mất mát, sự ẩn rồi hiện chỉ là sắc thái của những chu kỳ tiến hóa mà thôi .Nên dẫu Phàm Nhơn có ẩn,hiện ,biến mất nhưng Chơn Nhơn vẫn còn đó bất diệt.

Ðừng bảo xuân tàn hoa rụng hết

Ðêm qua_ sân trước_một cành mai.

Nguyễn như Hải

BÀI ĐỌC THÊM:

VỀ MỘT BÀI THƠ THIỀN MÙA XUÂN

Bên Lề Bài Thơ Cổ Điển Nhất Chi Mai

Thiền Lão Thiền Sư và khuynh hướng sống cho mình

Thiền và thi ca trong thi kệ Mãn Giác Thiền Sư

TÍNH CHẤT NGHỆ SỸ TRONG CON NGƯỜI MÃN GIÁC

 



|Tại sao? | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu|Hỏi&Đáp| Thể Thao |Tiểu phẩm|Thư tín|TRÁI TIM HỒNG|CHĂN GỐI | Rừng cười |Ẩm thực |MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn| | Nhân vật |Đó Đây|KINH TẾ | Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ Đọc Truyện

PHÁT MINH, KHÁM PHÁ

LỊCH SỬ VĂN MINH, VĂN HOÁ VIỆT NAM
LỊCH SỬ CÁC PHÁT MINH
TIỂU SỬ DANH NHÂN
KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

DANH NHÂN VIỆT NAM

 

KIẾN THỨC TỔNG QUÁT II