Thiền
sư Mãn Giác
Thiền sư Mãn Giác, tên thật là Lý
Trường, sinh nǎm 1052, viên tịch ngày 17-12-1096.
Thông hiểu cả Nho giáo và Phật giáo nên lúc 20 tuổi
ông đã được chọn vào cung dạy Hoàng tử. Ít lâu sau,
ông đi tu được sư Quảng Trí truyền tâm ấn, nối truyền
thế hệ thứ 8 dòng thiền Quan Bích, có nhiều học trò
theo học.
Vua Lý Nhân Tông và Hoàng hậu rất trọng đãi ông, cho
xây cất một ngôi chùa để ông trụ trì, thường gọi ông
là Trưởng lão, hay mời đến hỏi han giáo lý và bàn việc
nước.
Thiền sư Mãn Giác còn để lại một bài kệ nổi tiếng có
tên là "Cáo tật thị chúng" được dịch ra quốc
âm như sau:
"Xuân ruổi trǎm hoa rụng
Xuân tới trǎm hoa cười
Trước mặt, việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi!
Đừng tưởng xuân tàn, hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai".
CÀNH MAI MÃN
GIÁC
Thích Lệ Thọ
Mai là
một loài hoa đặc biệt chỉ khoe sắc thắm khi tiết trời
quang đãng và ấm áp. Vì thế, nó được dân tộc Việt nam
yêu quí như một người bạn thân thiết, không thể thiếu
vào dịp lễ hội Tết cổ truyền của dân tộc . Ngoài nét
đặc biệt đó ra, nó còn là một biểu tượng của sự vươn
dậy sau giấc ngủ co mình trong những ngày tháng ảm đạm
và giá rét của Thu Đông.Khi nhìn thấy sắc vàng tươi
thắm của hoa mai người ta còn liên tưởng rằng, nó đồng
hành với mùa xuân vào dịp xuân sắp đến, đang đến hay
mới đến. Mang lại vui tươi, hạnh phúc, mai mắn, dồi
dào, thịnh vượng,sức khoẻ, trẻ trung…
Mùa của sức sống rừng rực dâng lên khiến cho lòng người
hân hoan thư thới và lạc quan yêu đời, yêu người hơn.
Vì vậy, khi mai nở, xuân về là một nguồn cảm hứng bất
tận cho những tâm hồn nhân sĩ, thi sĩ…mặc tình rong
chơi hoặc tắm mình trong thiên nhiên:
"Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành Lê trắng điểm một vài bông hoa…"
Từ khoảng trời mênh mông nên thơ đó, mỗi người tự cô
đọng cho mình thành những vần thơ bất hủ, những áng
văn trác tuyệt đi vào lòng người như bài thi kệ "Cáo
tật thị chúng" của Mãn Giác Thiền sư:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
Đây là một trong những bài thơ được trong giới nhà thiền
hay những văn nhân thường nhắc lại cái hay, cái đẹp
của ý tứ thơ vào những độ xuân về.
Thông thường, hàng năm khi đưa tay bốc đi tờ lịch cuối
cùng trên vách, là mọi người đều có cùng một ý nghĩ,
xuân đã về. Và cũng lấy đó làm cột mốc thời gian cho
ba trăm sáu mươi lăm lần vòng quay của trái đất, để
đánh dấu cho ngàn lẻ một chuyện như: Hạnh phúc, vui
tươi, thành đạt, tủi nhục, chán nản thất vọng … Nhưng
tất cả đều được gát lại với sự bằng lòng hoặc miễn cưỡng,
để hòa mình cùng sự vươn dậy của trời đất
thiên nhiên đang lai động đến muôn hoa khoe sắc thắm,
nghìn lá đâm chồi nẩy lộc mà mọi người gọi đó là biểu
tượng Kiết tường, và luôn mong mõi nó sẽ kéo dài cho
những ngày sắp tới, để bù lấp cho những điều bất như
ý không trông đợi mà nó vẫn đến! Đó là những ngày tận
hưởng hương vị của xuân hoặc vui cái Tết cổ truyền của
dân tộc. Để rồi sau đó, mọi người lại phải lăng xăng,
tất tả, ngược xuôi cho công việc của mình.
Cảm nhận xuân như thế là xuân của thời tiết, vui xuân
trong nỗi thụ động của thế thường tình, nên Chế Lan
Viên đã gom lại thành những vần:
" Tôi có chờ đâu có đợi đâu
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu
Với tôi tất cả là vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau…"
Quả là, Thi nhân đã cảm nhận được dòng sinh diệt đang
vận hành một cách tùy thuộc, vay mượn, không có tính
độc lập mà con người là nạn nhân trong guồng quay vô
tận đó! Nhưng, chính tác giả cũng không làm gì hơn,
để chia xẻ với những ai có cùng tâm tư – bâng khuâng,
xao xuyến… Phải chăng, trong cuộc sống này, tất cả chúng
ta không ai thoát được quy luật hiển nhiên khắc nghiệt
đó, để phải suốt cả một đời đuổi bắt câu vó thời gian!
Nên ngay cả Thi sĩ Mãn Giác Thiền Sư cũng để lại rằng:
Xuân đi, trăm hoa rãi
Xuân đến,trăm hoa khai
Xem chuyện đời trước mắt
Tóc trên đầu đã phai
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Tối qua, vườn trước một cành mai.
(Thi sĩ Võ Đình dịch)
Không, mới đọc vào hai câu đầu của Thi kệ, chúng ta
đã nghe lạnh cả hư không và tê buốt cả cõi long, vì
cách sử dụng ngôn từ khúc chiết, dè xẻn để chuyển tải
ý. Mặc dù, từ ngữ hết sức bình dị, đối với những ai
ít khi dùng từ Hán-Việt vẫn có thể hiểu một cách trọn
vẹn. Nhưng nó lại mang ý và tứ thơ vô cùng thâm viễn,
chúng ta thử đọc lại nguyên văn:
" Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai…"
Sự vận hành của thiên nhiên là thế đấy. Khi xuân đã
đi thì trăm hoa rơi rụng, nhưng khi mùa xuân sẽ đến,
đang đến thì trăm hoa khoe sắc
thắm, dưới nắng vàng dìu dịu và vài cơn gió thoảng đung
đưa cành lá. Xuân đến và đi, trong mắt của Thiền sư
là thế – thanh thoát, nhẹ nhàng, bình thản và an lạc.
Cho nên ngay cả:
" Xem chuyện đời trước mắt
Tóc trên đầu đã phai …"
Cũng chẳng có gì là vướng bận tâm hồn. Bởi, Sinh, Trụ,
Dị, và Diệt là như thế, nên cứ bình thản mà sống với
hiện hữu. Những việc qua rồi không nên nuối tiếc, những
gì chưa đến thì đừng mong cầu. Sỡ dĩ, mỗi cá nhân cảm
thấy mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét và muốn luôn
bức bách trong cuộc sống là vì không thể kiềm chế lòng
ham muốn. Nói như vậy, không phải triệt tiêu ý chí phấn
đấu vươn lên của cá nhân trong guồng máy xã hội. Mà
ngược lại, nó mang một chiều hướng tích cực, góp phần
cho việc ổn định, phát triển và đem lại hòa bình Thế
giơi Bởi mỗi cá nhân là thành viên của một quốc gia,
hay nói rộng hơn là thành viên của cộng đồng loài người,
nên mỗi cá nhân có hoàn thiện thì Thế giớ mới hòa bình,
đó là điều kiện ắt có và đủ. Chính vì thế, Mãn Giác
Thiền Sư đã khẳng định:
" Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Tối qua, vườn trước một cành mai…"
Để cho chúng ta thấy rằng, qui luật dời đổi tan thương
của Vũ trụ chỉ là trò đùa đối với những ai đứng bên
ngoài sự vận hành và hiểu rõ từng chuyện đời trước mắt
một cách linh hoạt, tự tại như Vạn Hạnh Thiền sư đã
từng thấy:
Thân như bóng chớp chiều tà
Cỏ xuân tươi tốt Thu qua rụng rời
Sá chi suy thạnh việc đời
Thạnh suy như hạt sương rơi đầu cành.
(Thích Mật Thể dịch)
Đối với các ngài là thế, bình thản trước cảnh biến đổi
thời tiết và bãi bể hóa nương dâu, nên vui buồn, được
mất không làm sao nao núng tinh thần. Trong khi đó,
tâm tư của chúng ta lúc nào cũng đầy ấp bóng dáng của
khổ đau, sợ hãi, lo âu và tránh né sự thật. Vì thế,
khi được thì vui, mất thì buồn. Biệt ly thì đau khổ,
gần gũi thì hạnh phúc. Ai khen thì nở mặt, ai chê thì
ủ rũ. Vừa ý thì hân hoan, trái ý thì cáu giận. Nên khi
gặp cảnh biến thiên của vạn hữu vũ trụ thì ngậm ngùi
như Nguyễn Gia Thiều:
" Trải qua một cuộc biển dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng…"
Trong khi đó, ngoài bộ mặt đau thương biến đổi của Vô
thường còn có sự vĩnh hằng, an lạc của tâm thức và ngoại
cảnh. Tuy nhiên, chổ thâm áo này phải trầy trật lắm
mới thẩm thấu được sự thật của vấn đề. Như chúng ta
đã đọc biết bao nhiêu lần bài thi kệ của Mãn Giác Thiền
sư, nhưng vẫn không có được cái thấy tự tại, an lạc
và giải thoát như ngài. Phải chăng, đó chính là mấu
chốt của vấn đề mà ngài muốn nhắn gởi đến chúng ta,
hãy tu tập, thực hành thiền định, sống trong thiền định.
Đừng chạy theo hiện tượng thời tiết và chẻ sợi tóc ra
làm muôn mảnh để tìm sự thật trong đó!
Tóm lại, cành mai còn sót lại trước sân chùa sau đêm
giao thừa với không khí tưng bừng của ngày lễ hội, hoặc
còn sót lại cuối mùa xuân. Thậm chí, cho đến nó không
có thật trong mùa xuân đó, thì cũng chẳng có gì để chúng
ta thắc mắc. Nhưng chỉ có điều là chúng ta phải ghi
nhận là cành mai đó nó có trong mắt của Mãn Giác Thiền
sư, và không chỉ có khi mùa xuân sắp đến, đang đến mà
nó hiện hữu hằng sát na trong ngài. Bởi vì, ngài đã
từng lặng ngắm thế sự thăng trầm như vậy nhiều năm và
trực nhận triệt để về tính cách bất biến vô sinh của
chân tâm, thấy được bản thể vốn tịch nhiên vắng lặng
và bất sinh bất diệt từ xưa đến nay và mãi mãi về sau
cũng là như vậy. Thì làm gì còn có đến, đi, tàn, phai
và héo úa của một cành mai đối với ngài. Phải chăng,
đó chỉ là cách nói thâm trầm của người Đông phương khi
muốn diễn đạt một vấn đề cho người khác cùng thấy như
mình!
Nhân mùa xuân năm 2000, mùa xuân bắt đầu của một kỷ
nguyên mới, kỷ nguyên đầy hứa hẹn của sự thành tựu khoa
học, để phục vụ cho con người về phương diện vật chất,
người viết mạo muội nói lên một vài cảm nhận qua bài
thi kệ của Mãn Giác Thiền sư để được dịp trao đổi cùng
các bậc thức giả, nhằm mang lại món ăn tinh thần cho
dân tộc nói riêng và cộng đồng loài người nói chung.
Đang khi cầm chung trà, miếng mứt để thưởng thức hương
xuân lan tỏa, chúng ta, đồng thời, cũng nên lẳng lặng
cảm nhận niềm an lạc, trước một mùa xuân mới, mùa xuân
của thời tiết. Nhưng nó lại mang sức sống rừng rực dâng
lên khiến cho lòng người hân hoan thư thới, lạc quan
yêu đời và ngừơi sống vì mọi người, trên tinh thần vô
ngã, vị tha và bình đẳng. Đó là bức thông điệp của Mãn
Giác Thiền sư đã gởi cho chúng ta từ nhiều thế kỷ qua!
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
NHẤT CHI MAI
Hàng năm cứ độ xuân về, các giai phẩm xuân, báo xuân
đều trình làng những bài thơ mới . Tuy nhiên có một
bài thơ cũ cách đây gần ngàn năm vẫn thường được nhắc
đi nhắc lại nhiều lần hàng năm mà không làm ai chán
cả. Ðó là bài thơ của Thiền Sư Mãn Giác. Nó được nhiều
học giả và các nhà sư lý giải qua nhiều lăng kính khác.
Nhân dịp xuân về tôi cũng mạo muội trình bày nó qua
lăng kính của một người Thông Thiên Học.
Bản Hán Việt như sau:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai
Bài thơ này được Cụ Ngô tất Tố dịch như sau:
Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Ðừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Ðêm qua sân trước một cành mai
Về phương diện văn chương, bản dịch của cụ rất hay.
Nó được thi nhân lồng vào đó cảm xúc của mình và thi
vị hóa thêm (hoa cười- việc đi mãi- già đến rồi). Cái
đẹp thi văn chú trọng nhiều vào nét thẩm mỹ hơn.. Ðể
cho phù hợp với góc nhìn của mình, mang tính khoa học
quy luât hơn. Ðồng thời giữ được nét thản nhiên của
thiền và hai cặp đối đại nhị nguyên (bốn chữ cuối của
bốn câu đầu) mà thiền sư rất chú trọng. (Tôi xin mở
ngoặc ở đây một chút . Mỗi góc nhìn đều có một sắc thái
riêng và giới hạn của nó. Ở đây tôi chỉ nêu ra sắc thái
chứ không có ý phê bình.) Tôi xin được dịch như sau:
Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa khai
Dòng đời qua trước mắt
Tuổi già đến sau lưng
Ðừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Ðêm qua sân trước một cành mai
“Hoa rụng”, “Hoa khai”, “qua trước mắt” , “đến sau
lưng” đó là những chữ tôi dùng để mô tả cuộc đời bằng
sự quan sát khách quan , một đặc tính của khoa học.
Ðồng thời vẫn giữ được âm điệu thản nhiên, một hương
vị của thiền . Ngoài ra tôi dùng hai cặp “hoa rụng/hoa
khai” và “trước mặt/sau lưng” để đối hai cặp “hoa lạc/
hoa khai” và “quá/lai”. Tuy rằng không chỉnh về lời,
nhưng chỉnh về ý vì nó tạo được hai cặp đối đãi mà Thiền
Sư Mãn Giác đã dụng công đưa vào mà đa số những bài
dịch khác từ trước tới nay ít chú ý đến điểm này, một
điểm then chốt khi bàn luận về thiền.
Trở lại bài thơ trên với hai câu đầu, Thiền Sư Mãn
Giác trình bày một quy luật bất di bất dich của thế
giới sắc tướng này: đó là lẽ sinh diệt, diệt sinh, thành,
trụ, hoại, diệt, xuân ,hạ, thu, đông, v…v , quy luật
tuần hoàn của vũ trụ, nét đặc thù của thế giới sắc tướng
- ẩn hiện, biến ảo và quy luật này chi phối tất cả mọi
phần tử trong vũ trụ . Câu ba và câu bốn thiền sư đem
quy luật này ứng dụng cụ thể vào con người. Theo dòng
đời con người sẽ già và mất . Cái hay của bốn câu thơ
trên là chổ một quy luật khoa học đã được thiền sư trình
bày bằng một tiết điệu của thi ca mà không làm mất đi
tính chầt khách quan của định luật khoa học. Ðọc bốn
câu thơ trên ta thấy thiền sư không dùng bất cứ một
tĩnh từ hay trạng từ nào (thường thì những tĩnh từ hay
trạng từ hay được thi nhân dùng dể diển tả những cảm
xúc của thi nhân cùng tăng phần thẩm mỹ. Tuy nhiên,
đôi khi chúng làm mất đi cái tính khách quan).Thay vào
đó thiền sư dùng toàn động từ để mô tả tánh cách vận
hành của một quy luật khoa học một cách rất chính xác,
nhưng khi đọc lên lại vẫn có giai điệu thi ca mới hay
(thường trong thơ mà dùng toàn động từ đơn điệu thì
nó dễ thành văn xuôi ). Ngoài ra thiền sư đã khéo léo
trong khi gieo vần, đặt bốn chữ cuối cùng của bốn câu
thơ đầu thành ra hai cặp, lạc/khai ( diệt/sinh), quá/lai
(đi/đến) để tạo thành ấn tượng cho người đọc. Bằng lối
điệp ý, Thiền Sư đã xử dụng hai cặp đối đãi nhị nguyên
liên tục trong bốn câu đầu. Ðiều này cho chúng ta thấy
thiền sư muốn nhấn mạnh đến quy luật tất yếu này, quy
luật của thế giới nhị nguyên đầy sắc tướng này. Nhìn
thấy việc dụng công trong việc dùng chữ của tác giả,
nên tôi cũng theo ấy mà dịch .
Trong câu ba thiền sư dùng chữ “nhãn tiền”, hẳn là
thiền sư muốn nói cái quy luật này quá rõ ràng ai cũng
nhìn thấy, nó quá hiển nhiên, lồ lộ giữa ban ngày. Quả
thật, quá rõ ràng. Hoa nở rồi hoa tàn, rụng - MẤT. Con
người sinh ra, trưởng thành, bịnh tật rồi chết, hình
hài tan biến - MẤT. Quả thật,không còn trật vào đâu
KHI NÓ BIẾN MẤT trong thế giới sắc tướng này, và rồi
ai cũng đinh ninh là như vậy. Nhưng vừa dứt câu bốn
qua câu năm thiền sư liền cảnh giác : “Ðừng bảo xuân
tàn hoa rụng hết”. Bây giờ chúng ta lần lượt xem xét
từng chữ trong câu trên xem thiền sư muốn truyền đạt
điều gì. Xuân tàn ý nói đến quy luật. Còn hoa ở đây
biểu tượng cho Sự Sống là Chơn Nhơn là Bản Ngã, là Bản
Lai Diện Mục , là cái gì cũng được tùy bạn gọi. Hoa
lạc tận là hoa rụng hết, không còn hoa nữa -biến mất.
Tóm lại ý của câu thơ thứ năm là đừng lầm lẫn khi nghĩ
rằng sự hủy diệt hình hài, sắc tướng cũng hủy diệt luôn
sự sống ẩn tàng ở bên trong mà Thông Thiên Học gọi là
gọi là Chơn Nhơn, con người thực thụ của mình- bất tử,
không bao giờ chết. Chỉ có Phàm Nhơn ẩn hiện theo quy
luật. Sự hiển rồi ẩn của Phàm Nhơn cho chúng ta cái
cảm giác mất mát. Theo Thông Thiên Học, Phàm nhơn không
chỉ là Thể Xác này mà nó còn có hai thể khác nữa; đó
là Thể Vía và Thể trí. Theo chu kỳ tiến hóa ( luân hồi),con
người thể hiện qua các thể để tiến hóa nên cái định
luật xuân tàn này chỉ ứng dụng cho thế giới sắc tướng
của các thể mà thôi. Hình tướng biến thiên, còn mất,
ẩn hiện, đôi khi người ta còn gọi nó là thế giới mộng
ảo nhưng Sự Sống, Chơn Nhơn, con người thực, linh hồn
vẫn trường tồn bất diệt.
Câu sáu thiền sư sẽ cho chúng ta thấy cái trường tồn
bất diệt ấy, một câu thơ thật thần kỳ. Chúng ta hãy
xem câu sáu nói gì.
“Ðêm qua” nói về ngày tháng, biểu tượng cho thời gian.
“Sân trước” nói về nơi chốn, biểu tượng cho không
gian.
Một cặp nhị nguyên : không gian/ thời gian.
Thường thì chúng ta thấy cặp nhị nguyên xuất hiện
dưới dạng có/không, trắng/đen, phải /trái, trước /sau,
sinh/tử như một dạng hình học phẳng. Nhưng ở câu kết
thiền sư cho chúng ta thấy thêm một dạng thức khác đó
là cặp thời gian và không gian như dạng hình học không
gian đa chiều. Nó biến ảo khôn lường rất khó mà nhận
dạng được chúng. Hải ở Việt Nam, Hải ở Hoa Kỳ, Hải 1960,Hải
2000 Hải nào là Hải đây? Cặp nhị nguyên này cũng rất
quen thuộc với người Thông Thiên Học.
Ngoài ra thiền sư cũng cho chúng ta thấy chúng trong
dạng thức nhị nguyên khác: âm /dương.
“Ðình tiền”- sân trước ý là lồ lộ công khai biểu tượng
cho dương tính .
“Tạc dạ” - đêm tối ý là ẩn kín biểu tượng cho âm tính.
Quả thật là tài tình khi dụng ngữ. Cùng một chữ mà
Thiền sư làm cho người đọc nhận ra được tính đa dạng
biến hóa của một cặp nhị nguyên như một viên kim cương
lấp lánh nhiều mặt.
Theo tôi câu sáu này có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất
thiền sư muốn truyền đạt là Sự Sống Duy Nhất (nhất chi
mai) hay Chơn Nhơn nó thường hằng. Nó lồ lộ giữa ban
ngày(đình tiền) vì vô minh (tạc dạ) nên chúng ta không
nhận ra được . Chúng ta chỉ thấy cái sắc tướng bề ngoài
mà thôi.
Muốn hiểu được nghĩa thứ hai mà thiền sư muốn truyền
đạt, chúng ta phải để ý đến cách hành văn trong câu
sáu. Nó không phải là một câu mà là ba nhóm chữ kết
hợp mà không có động từ_: “Ðình tiền_ tạc dạ _nhất chi
mai”. Những khoảng hở không động từ này chính là hành
động mà hành gỉa phải tự điền vào. Thật vậy, qua một
khoảng cách thì chúng ta phải làm thế nào? Chỉ có một
cách duy nhất là phải vượt qua. Phải vượt qua thế giới
nhị nguyên đầy sắc tướng này để đến bờ nhất thể _nhất
chi mai . Nếu thiền sư dùng động từ vượt ở trong câu
thì nó là cái vượt của nhị nguyên mất rồi. Không thể
nói được, chỉ có sống thôi, chỉ có hành động thôi. Thiền
sư đã dẫn dắt hành gỉa một đoạn đường rồi để hành gỉa
phải tự mình tìm lấy cho mình một hành động thích hợp
mà sống-sống thiền . Như thế mới quả thật là thiền.
Không nói mà là nói. Không dùng động từ mà đầy cả hành
động. Khi sự sống được người ta trình bày, được nói,
đươc chuyển thành khái niệm hay được định nghĩa thì
nó đã chết tức thì cho nên thiền sư không nói mà để
dành cho hành gỉa tự điền vào chỗ trống- tự hành. Quả
thật là đầy tính thiền.
Nói tóm lại bài thơ trên thiền sư Mãn Giác đã dẫn
dắt hành giả từ thế giới nhị nguyên đến thế giới trường
tồn bất diệt một cách mạch lạc và đầy hương vị của thiền
học. Thiền sư ân cần nhắc nhở dù cho sắc tướng có biến
thiên thế nào cũng đừng lầm lẫn. Hình tướng bị hủy diệt,
tan biến đó chỉ là những biến ảo của thế giới nhị nguyên
đầy sắc tướng mà thôi. Hành gỉa phải hiểu rằng còn có
"một cành mai " một Sự Sống Duy Nhất vẫn trường
tồn, một Bản Ngã duy nhất vẫn bất diệt đang ẩn tàng
trong đó. Theo chu kỳ tiến hóa, Phàm Nhơn ẩn, hiện -
chết, sống nhiều kiếp làm cho chúng ta có cảm giác mất
mát. Sự mất mát, sự ẩn rồi hiện chỉ là sắc thái của
những chu kỳ tiến hóa mà thôi .Nên dẫu Phàm Nhơn có
ẩn,hiện ,biến mất nhưng Chơn Nhơn vẫn còn đó bất diệt.
Ðừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Ðêm qua_ sân trước_một cành mai.
Nguyễn như Hải
BÀI ĐỌC THÊM:
VỀ
MỘT BÀI THƠ THIỀN MÙA XUÂN
Bên
Lề Bài Thơ Cổ Điển Nhất Chi Mai
Thiền
Lão Thiền Sư và khuynh hướng sống cho mình
Thiền
và thi ca trong thi kệ Mãn Giác Thiền Sư
TÍNH
CHẤT NGHỆ SỸ TRONG CON NGƯỜI MÃN GIÁC
|