Vũ
Anh Khanh Quê hương vẫn còn ly loạn, mà Anh đã về đâu
?
Vũ Anh Khanh và Xuân Vũ là hai
người bạn chí thân trong văn chương và quãng đời dấn
thân chống Pháp cứu nước suốt chín năm máu lửa 1945-1954,
khi thực dân trở lại dày xéo quê hương Việt Nam lần
thứ hai. Mang chí cả của người trai thời loạn, sống
hết mình cho lý tưởng phụng sự đất nước, hai ông cũng
như bao nhiêu người con thân yêu của mẹ, lầm đường lạc
lối trước những xảo thuật chính trị tuyên truyền của
đệ tam quốc tế, qua cái bình phong Mặt trận Việt Minh,
nên ngày hòa bình trở lại năm 1954, đã hăm hở tập kết
về bắc. Nhưng than ôi tất cả chỉ là ảo vọng khi cái
mặt thật của thiên đường xã nghĩa hiện ra trong máu
lệ, qua cảnh đời nghèo đói bất công và nỗi cùng khốn
tận tuyệt của dân chúng vô tội bên bờ này vỹ tuyến,
qua cái gọi là cải cách ruộng đất và vụ án trăm hoa
đua nở, mà chánh quyền cộng sản rập khuôn theo Trung
Cộng để diệt các tầng lớp phú, nông, thợ thuyền và trí
thức VN, những người đã làm đá lót đường, làm cầu qua
sông, làm phương tiện cho đảng chiếm được nửa nước để
thụ hưởng và cầm quyền.
Như
Phùng Quán đã viết :
“Tôi đã đi qua những xóm làng chiến tranh vừa chấm
dứt,
Tôi đã gặp những bà mẹ già quấn giẻ rách
Da đen như củi cháy giữa rừng
Kéo dây thép gai tay máu chảy ròng
Bới đồn giặc trồng ngô trỉa lúa..
Yêu ai cứ bảo là yêu,
Ghét ai cứ bảo là ghét..”
Thế nên hai người đã quyết ý phải từ bỏ thiên đường
đang ngoi ngóp sống, để quay về Nam với mẹ với em, với
những thân thương đang ràn rụa nước mắt đợi chờ. Nhưng
than ôi, số đời đã định, cùng ra đi trong khi Xuân Vũ
biết rằng “Đường đi không đến” thì lại đến vào năm 1965
tại Củ Chi. Trong lúc đó Vũ Anh Khanh đã sắp vói tay
được vào bờ nam dòng sông vỹ tuyến, thì một mũi tên
tẩm thuốc độc vô tình đã kết liễu cuộc đời tài hoa của
người chiến sĩ vào năm 1956. Mới đây, trên tờ Văn Hóa
VN, số 14 mùa thu 2001, xuất bản tại Houston Texas,
Xuân Vũ nhớ bạn có nhắc lại câu thơ: “Vũ Anh Khanh,
quê hương còn ly loạn”, rồi kể lại câu chuyện của một
người chết không mồ. Cuộc đời như vậy sao mà không buồn?
nhất là qua biến cố 30-4-1975 đã cho chúng ta thấy một
cách minh bạch rằng chế độ thực dân đồng chủng hay dị
chủng, Pháp hay Việt cộng bản chất vẫn như nhau và những
điều mà các nhà văn kháng chiến miền nam, trong đó kiệt
hiệt nhất là con chim đầu đàn Vũ Anh Khanh, Người Bình
Thuận-Phan Thiết của miền Trung duy nhất, qua các bản
cáo trạng, tới nay vẫn còn giá trị. Có điều thật là
bất công và tàn nhẫn đối với những người yêu nước, trong
đó có Vũ Anh Khanh, nhất là tại VNCH miền đất được mệnh
danh là tự do dân chủ. Nhưng mai mỉa thay trong khi
chương trình Việt sử bậc trung và đại học quốc gia long
trọng đề cập tới cuộc kháng chiến của dân tộc qua sự
nghiệp lật đổ ách thống trị của Thực dân Pháp từ 1945-1954
tại Nam Kỳ. Nổi đời lại càng bi phẫn hơn qua việc lãnh
đạo miền nam đã mở rộng tim để chấp nhận bản Thanh niên
hành khúc của Lưu Hữu Phước làm Quốc Thiều VN, sau khi
được sửa chữa một vài chữ. Ai cũng biết họ Lưu là Việt
Cộng chứ không phải Việt Minh, nhất là sau khi Miền
Nam mất nước, ngày 20-8-1975, Lưu Hữu Phước qua chức
phận Bộ Trưởng Thông Tin Văn Hóa của cái Chính phủ Lâm
thời CHMN, đã ký nghị định “Đốt sách chôn học trò” trên
khắp lãnh thổ VNCH cũ. Trong khi đó chỉ vì chính trị
và định kiến hẹp hòi, Miền Nam đã gạt bỏ những người
yêu nước như Vũ Anh Khanh, kể luôn các tác phẩm. Ngày
nay trắng đen đã rõ, chỉ đau đớn là “quê hương vẫn còn
ly loạn” mà ông không biết đã về đâu?
1-Vũ Anh Khanh qua minh họa của nhà văn Xuân
Vũ :
Qua
các tài liệu rất ít ỏi, được biết Vũ Anh Khanh tên thật
là Võ Văn Khanh, sanh năm 1926 tại Mũi Né, quận Hải
Long, tỉnh Bình Thuận. Ngoài bút hiệu trên, ông còn
ký tên Vương Ấu Khương khi viết truyện ngắn “Mắt xanh
sống vẫn lầm than bụi đời” đăng trên tờ Xuân VN vào
Tết năm 1951.
Mũi Né, quê hương của nhà văn, vốn là một thị trấn miền
biển bao gồm hai xã Khánh Thiện và Thạch Long, nằm cách
Phan Thiết về hướng đông bắc chừng 20 km, xưa hay nay
cũng vẫn là miền đất trù phú và thơ mộng của tỉnh Bình
Thuận. Ba trăm năm qua như một giấc mộng nhưng cái tên
Mũi Né vẫn tồn tại trong tâm khảm của mọi người, cho
dù trên giấy tờ hay bản đồ qua thời gian với bao nhiêu
cái tên như Vị Nê, Cap Nê, Hải Long, Hàm Dũng và gì
gì nữa trong tương lai. Điều trên cũng giống như thân
phận của nhà văn Vũ Anh Khanh, kẻ chết không mồ nhưng
vẫn sống mãi với những tác phẩm đấu tranh để đời mà
ai cũng biết tới, dù đã có thời gian và ngay bây giờ
chúng vẫn bị cấm đọc hay quảng bá. Sách của ông không
nhiều vì cuộc sống của nhà văn ngắn ngủi, hơn nữa trong
lúc văn thi tài đang lên như diều gặp gió, thì năm 1950
ông đột ngột từ bỏ thành đô hoa lệ, sau một chuyến viếng
thăm Tha La xóm đạo, một làng quê êm đềm thơ mộng như
chính quê hương Mũi Né của ông với những rặng dừa xanh
ẻo lã, chạy song song với đồi cát trùng trùng, ngày
tháng nép mình ôm ấp biển xanh:
“Đây Tha La xóm đạo,
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm xóm Đạo
Giữa mùa nắng vàng hanh..”
Nhưng rồi giặc đến, vào làng giết người cướp của, cuộc
sống an bình của quê hương bỗng chốc thành máu lệ, bao
nam nữ đã ra đi để hiến mình cho quê hương đất nước,
chỉ còn lại nổi tang tóc, buồn hiu:
“Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng
Nhẹ bảo chàng, em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói lửa phủ mịt mù
Người nước Việt ra đi vì nước Việt.”
(Tha La xóm Đạo-Vũ Anh Khanh).
Đó chính là lý do ông đã từ bỏ tất cả để dấn thân vào
cuộc kháng chiến chống Pháp đang bùng nổ dữ dội khắp
nước, dù đang có nhiều sách bán chạy như chuyện dài
BaÏc Xíu Lìn, được Tiếng Chuông xuất bản năm 1949, chỉ
trong 2 tháng đã bán hết 10.000 cuốn, sau đó phải tái
bản nhiều lần vẫn không cung ứng nhu cầu của người ái
mộ. Nói chung theo giáo sư Nguyễn Văn Sâm viết trong
“Văn Chương Nam Bộ và cuộc kháng Pháp 1945-1950”, thì
hầu hết tác phẩm của Vũ Anh Khanh rất có giá trị và
tiêu biểu trong dòng văn chương đấu tranh thời đó, dù
là thơ như Chiến Sĩ Hành (Tân VN, Sài Gòn 1949), Truyện
dài Nửa Bồ Xương Khô gồm 2 tập (Tân VN, Sài Gòn 1949),
Cây Ná Trắc (Tân Việt, Sài Gòn 1947), truyện ngắn Ngũ
Tử Tư (Tân VN, Sài Gòn 1949), Đầm Ô Rô (Tiếng Chuông,
Sài Gòn 1949), Sông Máu (Tiếng Chuông, Sài Gòn 1949)
và Bên Kia Sông (Tân VN, Sài Gòn 1949). Riêng bài thơ
Tha La Xóm Đạo của ông, sau này được nhạc sĩ Dũng Chinh,
tên thật là Nguyễn văn Chính, cũng là người Phan Thiết,
phổ nhạc và rất được mọi người ưa thích, giống như bài
“Hoa trắng thôi cài trên áo trắng” của thi sĩ Kiên Giang.
Ngoài ra soạn giả cải lương nổi tiếng Viễn Châu cũng
đã mượn ý của Vũ Anh Khanh để viết tình khúc tân cổ
giao duyên “Tha La xóm đạo”.
Theo Xuân Vũ thì Vũ Anh Khanh lớn hơn ông chừng vài
tuổi, hai người đã quen biết nhau khi cùng ở chung trong
hàng ngũ kháng chiến quân, gọi tắt là Việt Minh, một
tổ chức chống Pháp qui tụ toàn dân VN không phân biệt
đảng phái chính trị. Theo hí họa của họa sĩ Thanh Long
và các bằng hữu lúc đó đang phục vụ tại Ban Tuyên Huấn,
Phòng Chính Trị, đóng ở Cái Thun, gần Cái Chanh Lớn,
miệt Cạnh Đền miền tây Nam Phần như các Thi sĩ Rum Bảo
Việt, Nguyễn Văn Trị, Điêu khắc sư Trần Văn Lắm, Sơn
Nam, Hà Huy Hà, các họa sĩ Thanh Tòng, Thanh Long, Hoàng
Tuyển, nhà thơ Việt Ánh, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí, Phạm
Công Nhiều, Quốc Hương và Xuân Vũ thì Vũ Anh Khanh lúc
đó dù là một nhà văn đang nổi tiếng và có rất nhiều
tác phẩm bán chạy, lại là một sĩ quan lục quân, tốt
nghiệp tại Trường Lục quân, thuộc Phân hiệu II Trần
Quốc Tuấn nhưng tánh tình khiêm cung, hiền hậu, có thể
nói là chẳng bao giờ để lộ cái tôi ra ngoài, khiến cho
cả đơn vị kể luôn Xuân Vũ lúc đó, không hề biết ông
là ai. Đối với những tâm hồn nghệ sĩ lớn như Vũ Anh
Khanh, viết lách, làm thơ, phát biểu những ẩn ức trong
lòng, được coi như lẽ sống của kẻ cầm bút, nhưng theo
Xuân Vũ thì từ năm 1950 khi về phục vụ tại cơ quan chính
trị kháng chiến, không hiểu vì lý do gì Vũ Anh Khanh
trở nên bất động, thậm chí tại Khu có tờ báo mang tên
Tiếng Súng Kháng Địch, sau đổi thành tờ Quân đội nhân
dân miền tây, vậy mà Vũ Anh Khanh hầu như không hề biết
tới, kể cả những lúc sinh hoạt cũng chẳng hề có ý kiến,
nếu bị hỏi tới mới nói: “tôi đồng ý” thế thôi. Như vậy,
chẳng lẽ lúc đó ông đã nhận ra cái mặt thật của Việt
Minh đang bị Việt Cộng núp bóng điều khiển hay vì cực
khổ nên hối hận? cả hai thắc mắc không thấy Xuân Vũ
đề cập tới, ngoài một thố lộ chân thành là Vũ Anh Khanh
với người bạn kháng chiến Nguyễn Hữu Trí, em ruột tướng
Nguyễn Thanh Sơn, xuất thân trong một gia đình vọng
tộc, đại điền chủ tỉnh Vĩnh Long, và Vũ Anh Khanh cũng
thuộc một gia đình giàu có ở Mũi Né, Phan Thiết..nên
trong lúc cả nhóm đi cải thiện sinh hoạt, kiếm thêm
chất tươi để bồi dưỡng vì thức ăn hằng ngày chỉ có muối,
chao và các loại rau dại. Những lúc này, hình như Vũ
Anh Khanh không biết làm gì cả ngoài việc quơ quào các
thứ rau má ngoài vườn, hỏi sao không đi cắm câu, bắt
cá thì ông chỉ cười và trả lời từ nhỏ tới lớn, gia đình
không cho làm chuyện này, dù rằng tại quê hương Mũi
Né của ông cũng có vườn, ruộng và biển. Thêm một chi
tiết khác là ông còn độc thân cho tới lúc qua đời. Cũng
theo lời kể của Xuân Vũ, thì hai ông sống chung rất
lâu nhưng năm 1954 tập kết ra Bắc, Xuân Vũ đi tại bến
Chắc Băng, Cà Mau và chỉ gặp lại Vũ Anh Khanh tại Hà
Nội trong khu tập thể của dân Nam kỳ tập kết.
2- Xuân Vũ kể lại cái chết của Vũ Anh Khanh:
Ngay khi vừa ký kết hiệp định ngưng bắn năm 1954 tại
Genève chia đôi đất nước, Bắc Việt đã mở ngay chiến
dịch tuyên truyền về cái gọi là Kháng chiến VN, đánh
đuổi Pháp-Nhật do đảng cộng sản lãnh đạo, bằng cách
cho nhiều phái đoàn văn nghệ sĩ VN đến các nước thân
cộng, cộng sản, trung lập hay có liên hệ ngoại giao
để tuyên truyền. Trong chiến dịch qui mô này, Hồ đã
cho Nguyễn Văn Bổng, tức Trần Hiếu Minh sau này được
cài vào VNCH tổng chỉ huy đám văn nghệ sĩ nằm vùng,
Đoàn Giỏi, Anh Thơ, Nguyễn Ngọc, Nguyễn Tuân đi Tân
Tây Lan và Úc Đại Lợi. Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng
đi Liên Xô, Trung Cộng, Tô Hoài đi Đông Âu còn Nguyễn
Công Hoan, Võ Huy Tâm, Phạm Hữu Tùng và Vũ Anh Khanh
đi Ấn Độ.
Trước khi đi, Khanh có đến thăm các bạn Nam Kỳ trẻ
tập kết lúc đó chưa có tiếng tăm gì như Nguyễn Quang
Sáng, Bùi Đức Ái, Xuân Vũ..đối với cây đại thụ trong
làng thi văn Nam Kỳ là Vũ Anh Khanh. Bao nụ cười ra
nước mắt, những đắng cay chua xót của kiếp người nhất
là những người văn nghệ sĩ có tim, óc và tri thức đã
được Xuân Vũ đắng cay cười cợt diễn tả nhắc lại qua
các mẫu đối thoại giữa hai người bạn thân cùng trong
cảnh ngộ lầm đường lạc lối, bỏ tất cả để hôm nay chuốc
lấy sự nản phiền và đau lòng. Có đọc Xuân Vũ mới biết
về Vũ Anh Khanh, có nghe Xuân Vũ tự sự về bạn mình từ
lúc sống với nhau trong khu đồng chua nước mặn ở tận
cùng cảnh nghèo cực của miền tây Nam Kỳ và sau này trong
thiên đàng xã nghĩa chết bỏ tại Bắc Việt, ta mới nghiêng
mình cảm phục những tâm hồn hy sinh vì nước của các
đại gia công tử giàu sang phú quý như Vũ như Khanh,
như Trí và cũng vì đã từng sống trong cảnh giàu, trước
khi dấn thân vào con đường chông gai chống Pháp, họ
đã biết tự trọng như việc Vũ Anh Khanh mượn quần áo
sang của Đảng để diện khi đi ngoại quốc làm vẹt tuyên
truyền, lúc về vẫn hoàn trả nguyên vẹn, mà theo bè bạn
lúc đó là chuyện điên rồ. Cũng theo Xuân Vũ thì mới
đây, nhà văn Nhuệ Hồng viết trên tờ Thời Luận hải ngoại,
cho biết năm đó ông đại diện cho VNCH cùng đi dự Hội
nghị các nước Á Phi và có gặp Vũ Anh Khanh tại New Delhi,
thủ đô của Ấn Độ. Chắc chắn đây là nguyên nhân thúc
đẩy ông tìm đường về Nam, một việc đã nung nấu từ lâu
nhưng không thực hiện được hoặc vì một lý do thầm kín
mà chúng ta không biết được vì bản tính của Vũ Anh Khanh
trước sau kín như bưng, kể cả người bạn thân Xuân Vũ
cũng không hiểu được.
Sau khi ở hội nghị về, Vũ Anh Khanh có mua một chai
rượu quý của Anh quốc để giải sầu với đám bạn bè Nam
kỳ tập kết. Theo Việt Thường trong tác phẩm “Chuyện
thâm cung DTDHCM” thì năm đó (1956), tình hình miền
Bắc vô cùng rối loan, nhất là bộ đội miền nam tập kết
ra Bắc, thuộc sư đoàn của Đồng Văn Cống và Tô Ký, bất
mãn nên nổi loạn cướp phá tỉnh Ninh Bình, một số trốn
chạy về Nam. Giống như tâm trạng của những người bộ
đội trên, Vũ Anh Khanh đã kín đáo mượn cớ đi Ấn Độ về,
ông dùng rượu để chia tay bạn bè thay lời vĩnh biệt,
vì sau đó trong một cuộc Hội nghị khoáng đại của Hội
Liên Hiệp Văn Nghệ, Xuân Vũ mói biết tin Vũ Anh Khanh
đã chết ở Vĩnh Linh, Quảng Trị vì tai nạn Đó là ngày
09 tháng 12 năm 1956
Sự thật theo tiết lộ của Võ Hồng Cương, phó Tổng thư
ký Hội cũng là Cục phó Cục Tuyên Huấn quân đội nhân
dân Bắc Việt thì năm 1956, Vũ Anh Khanh được nghỉ phép
ở Vĩnh Phúc nhưng ông đã sửa giấy phép thành Vĩnh Linh,
Quảng Trị và từ đó bơi qua sông Bến Hải quảng trên cầu
Hiền Lương vài cây số, quyết tâm về Nam tìm tự do nhưng
hỡi ơi Trời không thương người hiền, nên khi sắp tới
bến tự do thì bị Bộ đội biên phòng bờ Bắc phát giác
và để khỏi bị Ủy ban quốc tế làm biên bản vi phạm Hiệp
định ngưng bắn, thay vì dùng súng, Việt Cộng dùng tên
tẩm thuốc độc bắn chết Vũ Anh Khanh. Sông Bến Hải lớn
hơn sông Mường Mán tại Phan Thiết và thủy triều lên
xuống bất thường, nên xác của người chết nhất là một
phạm nhân vượt tuyến nếu may mắn không bị trôi ra biển
đông hay xuôi về mạn ngược, mà tắp vào một bãi bờ nào
đó trong khu phi quân sự, thì chắc chắn cũng được dân
chúng vùi dập vội vã để làm phước, chứ đâu có ai dám
truy nguyên lý lịch của nạn nhân, để tự chuốc họa cho
mình?
Mấy năm sau Xuân Vũ theo phái đoàn văn nghệ đi công
tác ở Vĩnh Linh, Quảng Trị và ông cũng đã có ý định
như Vũ Anh Khanh, bơi qua sông tìm tự do nhưng khi chợt
nhớ tới giọng ngâm sang sảng năm nào của người quá cố:
“Vũ Anh Khanh, quê hương còn ly loạn”..thì tỉnh ngộ,
nhờ vậy trong cuộc trường kỳ “đường đi không tới” nhưng
cuối cùng ông đã tìm được tự do thật sự khi ra hồi chánh
vào năm 1965 tại Củ Chi, Hậu Nghĩa.
3-Vũ Anh Khanh, một đời đáng kính:

Sống trong buổi loạn ly, nhà tan nước mất, chỉ có một
thiểu số không tim óc dửng dưng nhìn thế sự xoay vần,
mặc cho quốc dân bị đè bẹp dưới gót sắt của ngoại bang.
Nhưng tuyệt đại đa số dân chúng VN đã đứng dậy hưởng
ứng phong trào chống trả với giặc thù. Cuối tháng 12-1946,
quân Pháp chính thức làm chủ Sài Gòn và cũng giống như
lần trước, giặc đã gặp phải sự chống trả của toàn dân.
Lần trước vào năm 1862, người Việt dùng những vũ khí
thô sơ và lòng yêu nước để chống chọi với súng đạn tối
tân. Lần này, người Việt tuy vô chánh phủ và thực tế
chỉ là những lực lượng tự phát nhưng lại có trong tay
các loại vũ khí hiện đại như người Pháp, của Nhật để
lại. Thêm vào đó là tim óc của các tầng lớp trí thức
tân học, thể hiện qua các tác phẩm tuyên truyền, những
lời hiệu triệu, những tờ truyền đơn nẩy lửa, tố cáo
sự dã man của Pháp, đồng thời kêu gọi toàn dân đứng
lên đáp lời sông núi, tiêu diệt kẻ thù. Ngày xưa các
cụ Đồ Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Thông, Phan Văn Trị..cũng
đã từng dùng thơ văn cổ xúy cho cuộc kháng Pháp của
Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Thiên
Hộ Dương..nhưng lúc đó vì phương tiện và hoàn cảnh eo
hẹp nên ảnh hưởng không được bao nhiêu. Trái lại khoảng
thời gian năm năm 1945-1950, các nhà văn, nhà thơ, nhà
báo, nói chung là văn nghệ sĩ miền nam đã tiếp tay cho
kháng chiến một cách tích cực, góp phần lớn với toàn
dân cả nước, tạo nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954,
thu lại nền hòa bình độc lập cho đất nước. Trong chiều
hướng trên, các tác phẩm văn xuôi của Vũ Anh Khanh,
từ truyện ngắn cho tới truyện dài, qua nhận xét của
các nhà nghiên cứu văn học hiện đại, trong đó có giáo
sư đại học Nguyễn Văn Sâm, đều đáng được xem là những
tiêu biểu nhắm vào các mục đích đấu tranh nhằm tố cáo
chính sách ngu dân của thực dân Pháp, làm cản trở sự
tiến hóa của dân tộc VN. Tình trạng tạo nên cảnh ngu
dân này, trước đây cũng đã được các nhà ái quốc tiền
phong như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh..đặt thẳng vấn
đề với nhà cầm quyền Pháp nhưng có lẽ quyết liệt hơn
hết là tôn chỉ của VN Quốc Dân Đảng, được cố Đảng trưởng
Nguyễn Thái Học, viết trong bức thư tuyệt mệnh vào tháng
3-1930 gởi cho Hạ nghị viện Pháp, yêu cầu mở trường
cũng như cải tổ nền giáo dục tại VN. Nối tiếp tâm nguyện
của tiền nhân, Vũ Anh Khanh qua các tác phẩm Bên Kia
Sông và Cây Ná Trắc, đã công khai tố cáo Pháp cố tâm
ngăn chận sự học hành của VN, trong truyện ngắn Một
Đêm Trăng, Vũ Anh Khanh qua lời nhân vật của mình, đã
thổn thức: “..Dân VN hiếu học nhưng bao lâu nay, họ
cam tâm chịu dốt nát vì bị người ta tìm cách chèn ép..”
Hậu quả trên đã tạo nên tuyệt đại tầng lớp dân chúng
thất học, chịu câm lặng cúi gập trước nỗi bất công phi
lý, như hầu hết các nhân vật trong truyện dài Nửa Bồ
Xương Khô gánh chịu. Song song, ông còn mạnh mẽ tố cáo
Pháp cố tình tạo nên một xã hội băng hoại, để đầu độc
dân tộc VN, là tác giả của những tệ nạn rượu chè, hút
xách, cờ bạc, đĩ điếm, công khai khuyến khích hay dùng
bạo lực bắt dân chúng phải mua rượu, trồng nha phiến,
mở sòng bạc, ổ điếm. Tất cả những tệ nạn xã hội trên
đều được Vũ Anh Khanh ghi lại đầy đủ và nát tim trong
các tác phẩm Bạc Xíu Lìn, Sông Máu và Đầm Ô Rô ..Tất
cả các cơ sở trụy lạc trên đều nhan nhản khắp nước,
đặc biệt là tại Hà Nội, Hải Phòng và nổi tiếng ở Sài
Gòn-Chợ Lớn với hai sòng bạc Kim Chung và Đại Tthế Giới,
do các xì thẩu Hoa, Ấn và Pháp kiều toa rập làm chủ,
kết quả nhiều người Việt vì say mê cờ bạc, thần đề,
bàn đèn, đĩ điếm..phải tán gia bại sản và cuối cùng
đã:
“..bán con, thế vợ, đợ chồng
hết cơ, mất nghiệp, thần vòng rũ đi..”
Sau rốt, ông đã tố cáo thực dân làm cho người VN trở
thành lạc hậu, hung tàn, mất hết bản tánh con người
văn hiến. Trong lãnh vực này, Vũ Anh Khanh xứng đáng
là một chiến sĩ, một nhà văn can trường khi dám dùng
trí óc như những phát súng thần công nhắm thẳng vào
bọn cầm quyền Pháp, lũ xì thẩu bất nhân Hoa kiều và
đám tư bản bốc lột Ấn Độ, chuyên sống ký sinh trên thân
thể đầm đìa máu lệ của người Việt, qua các truyện ngắn
như Sài Gòn ơi, Ma Thiên Lãnh, Hối tắc..Nói tóm lại
dưới chế độ thực dân, qua nỗi nghèo cực tối tăm, người
Việt không còn tương lai và gần như đánh mất hết đạo
lý của thánh hiền, trở nên yếu hèn nông nổi vì quanh
quẩn bị bạo lực vây bủa, kềm chế, sống trong cảnh một
cổ bốn tròng, chia rẽ Trung Nam Bắc dù tất cả đều là
VN và thê thảm nhất về kinh tế, Pháp và bọn ký sinh
Hoa-Ấn hầu như nắm hết tất cả nguồn lợi quốc gia. Nạn
đói năm Ất Dậu 1945 khiến cho hơn 2 triệu người bị chết
đói, là hậu quả tất yếu của chính sách trên, sau này
được Vũ Anh Khanh lập lại trong truyện dài ưng ý và
nổi tiếng nhất của ông Nửa Bồ Xương khô...Văn chương
của Vũ Anh Khanh phản ảnh đúng nét đặc trưng của người
Bình Thuận, ngay thẳng, trung hậu vì vậy thật linh động,
có lúc thống thết lâm ly, có khi mỉa mai cay độc nhưng
vẫn không dấu nổi nét cảm khái hùng hồn, chứa chan niềm
uất hận.
Vũ Anh Khanh hiện diện trên cõi đời thật ngắn ngủi
(1926-1956), giống như hoàn cảnh của Vũ Trọng Phụng
cũng tài hoa lại vắn số, nhưng ông cũng đã làm tròn
thiên chức của một thanh niên thời đại, trong cảnh quốc
phá gia vong. Đây cũng là cái giá trị cao quý nhất của
kiếp người, nhất là giới mày râu hàng tri thức có lương
tri và nhân phẩm, cái hào quang để thế nhân phân biệt
được hư thực, tốt xấu của con người. Sau năm 1975, nhiều
văn nghệ sĩ miền Bắc thẳng thắn bảo rằng, cái chết sớm
của Vũ Anh Khanh là một hạnh phúc, để ông không trở
thành cái bình vôi như hầu hết các văn thi sĩ tiền chiến
đã lãnh trong suốt thời gian sống nhục nơi cõi thiên
đàng xã nghĩa u trầm. Qua việc Vũ Anh Khanh tập kết
ra bắc năm 1954, nhiều người kết tội ông là cộng sản.
Cũng vì lý do này mà suốt thời gian 1955-1975, tác phẩm
của ông lại bị cấm tiếp, không được tái bản, lưu hành,
không có tên trong chương trình giáo dục, dù năm 1956
ông đã bị cộng sản miền Bắc bắn chết trên sông Bến Hải,
khi quyết lòng đi tìm tự do sau khi đã đối mặt với sự
thật não lòng. Thật ra việc Vũ Anh Khanh có là cộng
sản hay không, giờ này cũng chưa có ai xác nhận được
vì trong 9 năm chống Pháp, Việt cộng núp bóng Việt Minh
để quản thúc toàn dân kháng chiến và trong Việt Minh
lúc đó có đủ mọi thành phần, đảng phái. Vũ Anh Khanh,
Xuân Vũ..hay mọi người khác trong dòng người yêu nước
lúc đó, biết ai là Việt Minh hay Việt Cộng. Còn vấn
đề về Tề hay tập kết phần lớn chỉ vì mang tâm trạng
sợ bị trả thù, nên bặm môi tới đâu hay đó.
Nhưng thôi sự thật giờ đã rõ ràng, bộ mặt thật của
cộng sản từ 1930-2002 cũng đã trôi hết lớp son phấn
và huyền thoại, cho nên sự thức tỉnh của Vũ Anh Khanh
năm 1956 là thái độ của một anh hùng đáng kính phục
và mến mộ. Hơn nữa công hay tội của một con người xin
hãy để cho lịch sử định đoạt. Tự dưng tâm hồn cảm xúc
và bối rối kỳ lạ khi bâng quơ đi vào ngỏ khuất của một
phần đời nhà văn bị đời quên lãng Vũ Anh Khanh. Trong
gió, trong mưa, trong cảnh mùa đông sụt sùi nước mắt,
hình như có tiếng ai đang thì thầm: “Hãy khóc lên đi
cho quê hương yêu dấu. Quê hương vẫn còn trong cơn ly
loạn mà anh nay ở đâu ?” -/
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Văn chương Nam Bộ và cuộc kháng Pháp của Nguyễn Văn
Sâm
Văn học Miền Nam tổng quát của Võ Phiến
Trăm hoa đua nở trên đất Bắc
Người chết không mồ của Xuân Vũ đang trong VHVN số 14-2001
xuất bản tại Hoa Kỳ
Thi văn quốc cấm thời Pháp thuộc của Thái Bạch
Đạc san Bình Thuận,DDPN,HV,LV
40 năm văn học của Nguyễn Vy Khanh
XB đông 2004
Mường Giang
Tha
La xóm đạo - Vũ Anh Khanh
- Đây Tha La xóm đạo,
Có trái ngọt, cây lành.
Tôi về thăm một dạo,
Giữa mùa nắng vàng hanh,
Ngậm ngùi, Tha La bảo:
- Đây rừng xanh, rừng xanh,
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh,
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.
Viễn khách ơi! Hãy dừng chân cho hỏi
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng
Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng.
Có trái ngọt, cây lành im bóng lá,
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây! Khách hỡi! Có ai chờ?
Ai đưa đón?
- Xin thưa, tôi lạc bước!
Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, đưa đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài trên vệ cỏ.
Nghìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
Nhìn hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng
Tha La hỏi: - Khách buồn nơi đây vắng?
- Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!
- Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn.
Gió vun vút, gió rợn rùng, gió rít,
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:
- Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh
Khách rùng mình, ngẩn ngơ người hiu quạnh
- Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch.
Gặp cụ già đang ngắm gió bâng khuâng
Đang đón mây xa... Khách bỗng ngại ngần:
- Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
Nhẹ bảo chàng: "Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!
Người nước Việt ra đi vì nước Việt
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương giống nòi, đau đất nước lầm than".
***
Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng
Ngày hiu quạnh. ờ...Ơ...Hơ... Tiếng hát,
Buồn như gió lượn, lạnh dài đôi khúc nhạc.
Tiếng hát rằng:
Tha La hận quốc thù,
Tha La buồn tiếng kiếm.
Não nùng chưa! Tha La nguyện hy sinh
ờ... Ơ... Hơ... Có một đám Chiên lành
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy
Quỳ cạnh chúa, đám Chiên lành run rẩy:
- Lạy đức Thánh Cha!
Lạy đức Thánh Mẹ!
Lạy đức Thánh Thần
Chúng con xin về cõi tục để làm dân...
Rồi... cởi trả áo tu,
Rồi... xếp kinh cầu nguyện
Rồi... nhẹ bước trở về trần...
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy ngừng chân,
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ
Trời Tha La vần vũ đám mây tang,
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi cho bẽ bàng!
ờ... Ơ... Hơ...ờ... ơ Hơ... Tiếng hát;
Rung lành lạnh, ngân trầm đôi khúc nhạc,
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách quá đi thôi!
***
Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng
đổ
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ.
Lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay...
Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
- Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tha La dâng ngàn hoa gạo
Và suối mát rừng xanh
Xem đám Chiên hiền thương áo trắng
Nghe trời đổi gió nhớ quanh quanh... // ]
(*) Tha La là một địa danh thuộc Trảng
Bàng, Tây Ninh, cách Thị trấn Trảng Bàng khoảng 3 cây
số
|