Kỷ
niệm 2 năm ngày mất Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Thương : Chàng
hào hoa xứ Huế ( 05 - 12 -2002)
Cố
nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương
(NetCodo) Trong giới âm nhạc Việt Nam, giáo sư Nguyễn
Văn Thương là người duy nhất được trao danh hiệu và
giải thưởng cao quý nhất : Ngoài những huân chương trong
nước như Huân chương ông còn được nhận Huân chương Lao
động xuất sắc của Xô Viết Tối cao và Huân chương Hoàng
Hậu Kôxamăc của Vương Quốc Cămphuchia. Ngày 05/12/2002,
ông đã qua đời, hưởng thọ 84 tuổi tuổi, để lại trong
lòng người yêu nhạc niềm tiếc thương và kính trọng khôn
nguôi.
Giữa đêm 3 tết Kỹ Mão (1939) có một chàng thanh niên
học sinh ban Tú tài trường Thăng Long lê gót trên đường
phố Hà Nội. Chàng lang thang buồn bã vì không có tiền
về ăn tết ở xứ Huế quê hương. Bỗng chàng gặp dọc đường
Khâm Thiên một cô đào nhỏ, ủ rũ soi gương tự ngắm vẻ
mặt cô đơn chán chường trước lúc giao thừa. Chàng bỗng
cảm động trước cảnh ngộ tủi cực của người ca nhi xa
quê và ngỡ đấy cũng chính là nỗi tủi cực cô đơn của
mình. Thế là vừa lê gót, chàng vừa lẩm nhẩm một giai
điệu buồn đang dấy lên tự tâm khảm:
"Ðêm đông, xa trông cố hương buồn lòng chinh phu
Ðêm đông, bên song ngẩn ngơ kìa ai trông chồng
Ðêm đông, thi nhân lắng nghe tâm hồn tương tư
Ðêm đông, ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng.."
Những giai điệu và lời ca buồn thương cứ thế dạt dào
tuôn trào, chàng bước nhanh về phòng trọ, lấy giấy bút
ghi lại, rồi viết thành ca khúc "Ðêm Ðông".
Ca khúc hoàn thành thì giao thừa cũng đã qua. Ðấy là
món quà đón năm mới quý giá nhất của chàng. Chàng thanh
niên ấy chính là Nguyễn Văn Thương.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sinh ngày 22.05.1919 tại
Hương Thuỷ, Thừa Thiên Huế. Năm 9 tuổi đã được bố mẹ
dạy cho học đàn nguyệt. Năm 11 tuổi, được bố mua cho
một cây đàn mandolin và với cây đàn này, cậu bé đã chơi
được cả những bản nhạc Tây lẫn nhạc ta như Kim Tiền,
Lưu Thuỷ. Lòng ham mê âm nhạc đã thôi thúc người học
trò ngoài chương trình học ở Trường tiểu học Kinher,
Trường Quốc Học Huế, sưu tâm sách nhạc để tự học. Nguyễn
Văn Thương đã tự nghiên cứu từ sách “Ký xướng âm” của
Marmontel đến các cuốn “Phức điệu” của Koechlin, “Hòa
âm” của René Leonrrmand, “Nghệ thuật sáng tác âm nhạc”
của Vincent d’Jon di v.v Rồi bắt đầu sáng tác bản nhạc
đầu tiên lúc mới 17 tuổi. Học xong tú tài ở Hà Nội,
Nguyễn Văn Thương vào làm việc ở Trung tâm bưu điện
Sài Gòn, và sáng tác ca khúc “Bướm hoa” (1942). Ca khúc
này cùng với trên sông Hương và Ðêm đông là 3 ca khúc
làng mạc rất phổ biến lúc bấy giờ.
Những người ái mộ âm nhạc Việt Nam không ai là không
biết ”Đêm đông” và “Bình Trị Thiên khói lửa”. Ai đã
từng xem phim “Vợ chồng A Phủ” hẵn cũng không quên những
giai điệu âm nhạc đầy xúc động của ông cùng bài hát
ngắn về tình yêu, đậm đề chất liệu dân ca vùng Tây Bắc
với lời ca thật da diết: "Dù đi cùng trời dù đi
khắp núi. Trời chỉ có sao sớm sao chiều, núi chỉ có
hai người yêu nhau !"
Nguyễn Văn Thương viết ca khúc không nhiều, từ ca khúc
đầu tiên mang tên “Trên Sông Hương” (1936), người ta
có thể đếm trên đầu ngón tay những ca khúc ông để lại
như “Bướm hoa”, “Bài ca Việt – Lào” (phim Hai Bà mẹ),
"Bài ca đã hẹn", "Dân ta đánh giặc anh
hùng", "Dâng Người tiếng hát mùa xuân”, “Gửi
Huế giải phóng", "Tổ quốc ta chưa bao giờ
đẹp thế", "Thu Hà Nội - mùa thu tuyệt vời",
"Yêu Huế"...Tuy vậy, những gì còn đọng lại
với thời gian, lại chính là những ca khúc sâu đậm thân
phận con người, thân phận dân tộc dọc hành trình lịch
sử đầy oanh liệt và vẻ vang.
Người ta nói rằng, mặt mạnh của Nguyễn Văn Thương chính
là khí nhạc. Từ thửa ban đầu, ông đã có tư duy âm nhạc
thuần tuý, và về sau, từng là thực tập sinh tại Nhạc
viện Bắc Kinh (1964 - 1968) và tốt nghiệp nghiên cứu
sinh tại Nhạc viện Leipjig CHDC Ðức (1972). Bản giao
hưởng "Ðồng Khởi" của ông viết về cuộc chiến
tranh giải phóng ở Miền Nam, không chỉ là một tác phẩm
tốt nghiệp Nhạc viện mà nó còn vượt ra ngoài khuôn khổ
một bài thi, trở thành tác phẩm có giá trị nghệ thuật
cao, được dàn nhạc giao hưởng Leipjig chọn trình diễn
nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập Nhạc viện, dưới sự
chỉ huy của tiến sĩ Forster, và dàn nhạc Giao hưởng
quốc gia Latvia biểu diễn tại Liên hoan âm nhạc quốc
tế 1986. đồng khởi cũng đã được vang lên nhiều lần tại
Việt Nam dưới sự chỉ huy của các nhạc trưởng Trọng Bằng,
Nguyễn Thiếu Hoa .v.v . Nguyễn Văn Thương khá thành
công qua những tác phẩm khí nhạc như "Chủ đề và
biến tấu cho piano" được nữ nghệ sĩ Nhật Bản Nichico
Takayama- từng là giám khảo cuộc thi Sôpanh - biểu diễn;
tác phẩm "Trở về đất mẹ" và “Adagio” được
nghệ sĩ nổi tiếng thế giới Marqist Stocke (Thuỵ Sĩ)
biểu diễn…Ông cũng sọan thành công xuất sắc nhiều tác
phẩm khí nhạc cho dàn nhạc dân tộc như độc tấu sáo trúc
'Lý Hoài Nam" có dàn nhạc đệm, độc tấu sáo trúc
và bộ gỗ "Ngày hội non sông"; độc tấu dàn
tre lắc và bộ gỗ "Buôn làng vào hội". Một
số tác phẩm của ông đã được xuất bản ở nước ngoài như:
"Lý Hoài Nam" (Trung Quốc), Tuyển tập 16 bài
piano (Ðức), v.v. Nguyễn Văn Thương còn là nhà soạn
nhạc cho múa và cho phim. Từ sau 1954, ông là một trong
những nhạc sĩ đầu tiên viết nhạc cho các điệu múa chuyên
nghiệp như “Tấm Cám”, “Múa ô”, “Chàm rông”, “Thiếu nữ
bên hồ”, “Dưới trăng”...và khá nhiều bộ phim quen biết
như “Vợ chồng A Phủ”, “Dòng sông âm vang”, “Hai Bà mẹ”,
“Bình minh xôn xao”, “Sao Tháng Tám”, “Ngày ấy bên bờ
sông Lam”,” Thành phố lúc rạng đông”.v.v...
Nguyễn Văn Thương là một nhà soạn nhạc xuất sắc của
nước ta, tất nhiên rồi, nhưng ông cũng là một nhà quản
lý giàu kinh nghiệm, một nhà giáo tận tuỵ và nhân hậu.
Ông từng là Giám đốc Nhạc viện Hà Nội kiêm Giám đốc
Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam. Cho đến cuối đời, ông
vẫn không ngừng sáng tác và truyền thụ kiến thức cho
thế hệ trẻ, những học trò những nghiên cứu sinh âm nhạc
mà ông hằng yêu mến.
Chàng hào hoa xứ Huế, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương đã
hiến trọn cả cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc cho thế kỷ,
cho dân tộc. Ông từ giã cõi đời khi thế kỷ mới đã bước
những bước đầu tiên với niềm hy vọng:"Âm nhạc Việt
Nam hãy phấn đấu không ngừng để hoà nhập với âm nhạc
thế giới. Âm nhạc không chỉ để giải trí mà âm nhạc còn
là hồn nước, là nhân loại".
Vâng, những khát vọng đó của ông như đang thắp lên
ngọn lửa ấm trong thế gian này.
Nguyễn Trọng Tạo
II Về bài hát Đêm Đông
Có lẽ khi viết Đêm đông, Nguyễn Văn Thương không ngờ
được rằng rồi nó sẽ đi vào lòng biết bao thế hệ suốt
mấy mươi năm như thế. Khi ấy ông mới hai mươi tuổi.
Một anh chàng sinh viên nghèo kiết xác, đêm ba mươi
không có tiền về quê ăn tết, đi lang thang trong cái
lạnh Hà Nội, với bộ quần áo tây cũ và đôi giày tây rộng
thùng thình. Chàng ta chỉ đủ tiền ăn ổ bánh mì, dạo
qua phố Khâm Thiên, phố ả đào nổi tiếng của Hà Nội bấy
giờ, mong tìm một chút ấm lòng giữa khu phố dập dìu
đó. Thế nhưng ngay cả khu phố ăn chơi này cũng vắng
ngắt, một cô đào nghe tiếng loẹt quệt trên đường (chứ
nhạc sĩ lúc ấy làm gì dám bén mảng đến cửa nhà ả đào!)
ra đưa mắt nhìn rồi chán nản quay vào, chỉ còn kịp thấy
phản chiếu trong gương một cánh tay trần trắng nuỗn
xanh xao. Buồn, chán đời và chán bản thân mình, quay
về gác trọ và giữa tiếng gió lạnh gào rú bên ngoài,
nhạc sĩ ngồi viết. Viết một mạch xong Đêm đông, từ thân
phận mình, cảm thân phận người. Bài hát lặp lại mãi
từ đêm đông, điệp lại mãi sự điên cuồng của gió! Tuy
nhiên, có một điều rất lạ là người ta đã lãng quên nhân
vật ký tên chung trong bản nhạc Đêm đông với Nguyễn
Văn Thương trong bản in . Đó là Kim Minh. Kim Minh là
một người bạn, người đã trau chuốt lời cho các bản nhạc
của Nguyễn Văn Thương. Tuy nhiên, ông này mất sớm. Chính
vì vậy người ta cũng thành lạ luôn. ( GDX)
III Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương
với món quà âm nhạc tặng vợ
Năm 1953, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương kết hôn với cô giáo
Đặng Thị Thanh Hảo quê ở Nghệ an. Từ tình thương yêu
tha thiết nhạc sĩ đã hứa với lòng sẽ sáng tác tặng người
vợ thân thiết của mình một món quà âm nhạc. Vậy mà điều
dặn lòng đó phải 10 năm sau ông mới thực hiện được.
Ông đã sáng tác một bài hát tặng vợ mang tựa đề : “Bài
ca đã hẹn”. Vì sao lại có sự hẹn hò dài năm tháng như
vậy?
Hãy nghe ông kể: “Tôi lấy nhà tôi năm 1953, vào lúc
cả nước đang kháng chiến chống Pháp. Hoàn cảnh lúc đó
không thể sáng tác các ca khúc trữ tình dù tôi có muốn
bao nhiêu cũng không thể làm được. Dù có sáng tác được
thì cũng xếp xó thôi, vì lúc đó ngay cả hát bài “Đêm
đông” cũng đã khó rồi chứ chưa nói chuyện sáng tác ca
khúc yêu đương. Nhưng khi lấy nhà tôi, tôi đã có lời
hứa là sẽ có một bài hát tặng vợ. Nhưng còn phải chờ
hoàn cảnh cho phép cảm hứng trỗi dậy. Mãi đến năm 1963,
nhà tôi bị một trận đau thận nặng tưởng chết, đã đưa
xuống nhà xác. Hôm sau tôi xuống thăm, các bệnh nhân
cứ bảo cũng may cho ông, tưởng hôm nay vào ông chỉ còn
ôm xác bà mà thôi. Tôi bỗng giật mình và nghĩ là lúc
này mà mình không thực hiện lời hứa thì thật là dở.
Sau đó tôi về viết bài : “ Bài ca đã hẹn”, vì quả thực
là đã hẹn lâu lắm rồi nhưng phải 10 năm mới thực hiện
được”.
Vậy mà phải đến năm 1982, bài hát mới phổ biến ra ngoài
được. Ca sĩ hát bài này là Hồng Năm, cô hát rất thành
công các bài hát mang âm hưởng dân ca Nghệ tĩnh. Bởi
vì bà Hảo là người Nghệ An nên ông đã chọn nền nhạc
đậm chất trữ tình của vùng quê này. Còn phần lời thì
cũng có đôi điều thú vị. Theo bà Hảo đây là bài đầu
tiên và cũng là bài duy nhất cho đến nay ông viết về
tình cảm yêu đương . Và do đó, cũng là bài độc nhất
ông sử dụng các đại từ xưng hô “anh, em”. Phần lời cũng
thật là đằm thắm dịu ngọt và cũng thật là hiện thực,
khắc ghi hình bóng của người phụ nữ mà nhạc sĩ đã yêu
trọn một đời mình: “Yêu em, yêu mái tóc dài em buông.
Yêu đôi mắt đen thoáng nét u buồn. Yêu em, anh yêu dài
theo năm tháng. Bao lâu xa vắng vẫn chờ ,vẫn mong”.
Hơn hai mươi năm bị bệnh tiểu đường, và bốn lần lên
bàn mổ với những trận ốm thập tử nhất sinh, ông vừa
được Nhà nước trao giải thưởng Hồ Chí Minh với những
cống hiến to lớn cho nền âm nhạc nước nhà. Mặc dù bệnh
tật nhưng ông vẫn cố gắng để sáng tác và trong 5 năm
liền từ năm 1996 đến năm 2000 ông luôn đoạt được giải
thưởng âm nhạc của Hội Nhạc sĩ.
Năm 1996 ông đoạt giải thưởng về ca khúc còn các năm
còn lại là được giải thưởng về khí nhạc. Riêng năm 2000
ông được giải thưởng với bản Caprixiô viết cho dàn nhạc
giao hưởng. Có được kết quả như vậy ông luôn nhớ đến
công lao người vợ yêu quý của mình, ông đã tâm sự rất
chân thành: “Vấn đề sức khoẻ đối với tôi đặc biệt quan
trọng. Chính nhà tôi là người đã chăm chút cho sức khoẻ
của tôi. Chế độ ăn uống thuốc men bà ấy quản còn chặt
chẽ hơn cả người y tá ở bên cạnh và có những lời khuyên
rất là xác đáng. Và do vậy nhà tôi có ảnh hưởng rất
to lớn đến sự nghiệp sáng tác của tôi”.
Và như ông đã thổ lộ trong “Bài ca đã hẹn” : “Yêu nhau
ta yêu tình yêu đằm thắm. Bao năm nung nấu nghĩa tình
thấm sâu.” ( GDX)
Lê Tấn Quốc,
Đêm đông và Nguyễn Văn Thương
Hẳn sẽ có người nhắc nhở: tại anh lâu lâu mới ghé đến,
đêm nào ở đây lại không là những ca khúc ấy!
Tôi đồng ý một nửa - đấy là chuyện "lâu lâu…".
Nửa còn lại không hẳn như thế. Mười mấy năm qua tôi
không xa lạ với quán nhạc này, tôi đã nghe nhiều lần,
đã đi và đã trở lại mỗi lần muốn nhìn thấy Lê Tấn Quốc.
Tôi yêu mến cái dáng ngồi cô đơn của anh chờ tới giờ
trình tấu, im lặng, nhẫn nại như lẫn vào góc tối. Tôi
yêu mến cái dáng đứng khiêm tốn, hiền lành, đắm chìm
vào âm nhạc khi anh đã đặt môi lên chiếc saxo. Lê Tấn
Quốc không thổi, chiếc saxo của anh đang hát. Trong
nhận định hàm hồ của riêng tôi, mỗi khi anh trình bày
ca khúc Đêm đông… sẽ không có ai “nhả” được từ “đêm
đông…” hay hơn anh nữa, tiếng kèn tiết chế âm vực đến
nén lại, luyến nhẹ như tiếng thở dài khắc khoải, rung
động. Đã có nhiều thế hệ ca sĩ tên tuổi hát lên ca khúc
này của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương suốt hơn nửa thế kỷ
qua: Bạch Yến, Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Kim Tước,
Quỳnh Dao, Lê Dung, Lệ Quyên, Cẩm Vân, Lan Ngọc… Chỉ
Lê Tấn Quốc "hát" kiểu của mình, chiếc saxo
trong tay anh như một danh ca không chân dung, không
hình bóng. Khán giả ít thấy anh cười, nụ cười nhếch
rất nhanh, rất nhẹ chỉ duy nhất những khi anh kết thúc
một tác phẩm nghe thấy tiếng vỗ tay từ phía khán giả,
những con người đang lắng nghe anh, còn anh đã dường
như không nhìn thấy họ từ lâu rồi. Giữa đêm Sài Gòn
náo động, đông nghẹt dòng xe cộ và ánh đèn đô thị phù
hoa, khán giả của anh và ban nhạc của anh luôn là những
người đi tìm kỷ niệm riêng của mình qua tiếng kèn, những
tác phẩm một thời họ đã từng nghe với một người nào
đó.
Con người u buồn, lặng lẽ mà cuộc đời anh nếu tách
khỏi chiếc kèn, tách khỏi âm nhạc hẳn sẽ là một bi thương
không gì hơn thế được. Tiếng saxo của Lê Tấn Quốc là
thứ anh an ủi chính anh trước đã và còn hơn thế. Anh,
mỗi tối, mỗi đêm còn như an ủi cho rất nhiều người từ
chỗ ngồi khán giả.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương vừa ra đi, hẳn ông đã được
nghe nhiều thế hệ ca sĩ hát Đêm đông… bất hủ của mình.
Nhưng không rõ ông có lần nào đến đây nghe tiếng kèn
saxo của Lê Tấn Quốc?
Như có một buổi tối, tôi đến đây im lặng trong góc
riêng nghe Đêm đông… lần thứ bao nhiêu trong đời không
nhớ được. Nhìn Lê Tấn Quốc và nhớ đến tác giả đã đi
xa…(Đỗ Trung Quân)
|