|
Ai là tác giả cuốn từ
điển cổ nhất Việt Nam? Cuốn
"Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa" - đang được trưng
bày tại triển lãm "Di sản chữ Nôm" nhân hội
thảo khoa học quốc tế lần đầu tiên được tổ chức tại
Hà Nội (11-14.11) - hiện được coi là cuốn từ điển cổ
nhất VN hiện nay. Tuy nhiên, xung quanh cuốn cổ thư
này vẫn còn rất nhiều ẩn số, mà vấn đề tác giả là ẩn
số đang được quan tâm nhất.
Một cuộc "cách mạng" và 7 truyền bản
Bản "Chỉ nam ngọc
âm giải nghĩa" tại
triển lãm.
"Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa" - theo nhà nghiên
cứu Đào Duy Anh có niên đại khoảng thời Lê sơ - là một
cuốn từ điển Hán - Việt, dùng thơ Nôm để giải thích
các mục từ chữ Hán, gồm 3394 mục từ. Hiện sách này còn
7 truyền bản cổ in và chép tay: lưu tại thư viện của
Viện Hán Nôm, thư viện Societe Asiatique (Pháp), 1 do
Viện Viễn đông Bác cổ thuê chép, 1 tiếp thu được từ
thư viện Long Cương của ông Cao Xuân Dục và 3 bản khác
đang được lưu giữ tại các tư gia của GS Nguyễn Tài Cẩn,
ông Phùng Uông và PGS Ngô Đức Thọ. Các truyền bản có
sự khác nhau về kiểu chữ, số trang (bản nhiều 85 tờ,
bản ít 82 tờ), nội dung đôi chỗ không trùng khớp nhưng
nhìn chung không khác nhau nhiều.
Theo như bài tựa chữ Hán trong "Chỉ nam ngọc âm
giải nghĩa", cuốn từ điển này được "chỉnh
lý, bổ sung" từ một cuốn sách có tên là "Chỉ
nam phẩm vựng". Theo suy đoán của TS Hoàng Thị
Ngọ, cuốn "Chỉ nam phẩm vựng" là một cuốn
từ điển Hán - Việt ra đời từ rất sớm, phần tiếng Việt
được ghi lại bằng một thứ chữ Nôm rất cổ. "Chỉ
nam ngọc âm giải nghĩa" chính là cuộc "cách
mạng" về văn tự để trở thành một cuốn từ điển dễ
hiểu với người đương thời.
"Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa" là một di sản
quý giá của kho tàng chữ Nôm. Nó vừa là chứng tích một
trang cổ sử chữ viết của dân tộc ta, đặc biệt là có
nhiều từ cổ giờ đây đã biến dạng hoặc biến mất. Nó vừa
là một "bảo tàng" liên quan đến nhiều lĩnh
vực của xã hội đương thời như hôn nhân, văn hoá dân
gian, y học, nông nghiệp, thiên văn học, nhạc khí, binh
khí v.v… Tuy nhiên, 21 năm sau luận án của TS Trần Xuân
Ngọc Lan năm 1983, mãi đến đầu tháng 11 năm nay, mới
có thêm một công trình nghiên cứu nữa về cuốn từ điển
này là của TS Hoàng Thị Ngọ (Viện Hán Nôm). Còn lại,
cuốn sách này chỉ được bàn qua trong các công trình
nghiên cứu liên quan đến chữ Nôm hoặc một vài bài báo
nhỏ.
Tác giả là hoàng hậu?
Đầu mối để xác định tác giả "Chỉ nam ngọc âm giải
nghĩa" là một câu thơ trong bài tựa chữ Nôm có
đề cập đến người làm sách là "Hồng phúc danh hương
chân pháp tính", các quan điểm khác nhau xuất phát
từ sự khác nhau trong cách ngắt nhịp câu thơ để giải
nghĩa. Năm 1975, nhà nghiên cứu Đào Duy Anh phát biểu
rằng "Pháp hiệu của tác giả là Hương - chân - pháp
- tính" ("Hồng phúc/danh Hương Chân Pháp Tính").
Song giả thuyết cho đến nay vẫn có đông đảo "tín
đồ" nhất lại xuất hiện trước đó 7 năm, là của nhà
nghiên cứu Trần Văn Giáp: tác giả là "một vị túc
tăng là nữ sĩ Pháp Tính, xuất gia tu Phật". Pháp
Tính là đạo hiệu của Lê triều Hoàng Thái Hậu, chính
cung Hoàng hậu của vua Lê Thần Tông - bà Trịnh Thị Ngọc
Trúc (1619 - 1643), nên sau ý kiến của Trần Văn Giáp,
nhiều sách báo đều cho rằng cuốn "Chỉ nam ngọc
âm giải nghĩa" là của bà Hoàng hậu này.
Tuy nhiên, những điểm bất cập trong giả thuyết này
đã được TS Trần Xuân Ngọc Lan chỉ ra trong nghiên cứu
của mình từ năm 1983. Bà Lan đã dựa vào một câu khác
trong bài tựa chữ Nôm: "Trẻ từng vả đấng khoa danh/
Già lên cõi thọ tìm doành bụt tiên" để làm rõ hơn
về thân thế tác giả là thời trẻ đã đỗ đạt trong đường
thi cử, và khẳng định tác giả không thể là nữ vì thời
đó chỉ nam giới mới có thể "vả đấng khoa danh".
Hơn nữa, trong bài tựa tác giả lại tự xưng là "tăng",
chứ không phải "ni".
"Thêm vào đó, tư liệu lịch sử còn cho thấy rằng:
Dòng dõi họ Trịnh rất khinh ghét chữ Nôm. Do đó khó
tưởng tượng có một công chúa họ Trịnh lại có thái độ
trân trọng, có kiến thức uyên thâm, có quan điểm quần
chúng trong việc phổ biến chữ Nôm như trong bài tựa".
Trong khi nghiên cứu cuốn sách này, bà Lan được cung
cấp một thông tin khác: Trong gia phả phân chi họ Trương
ở Như Quỳnh có ghi ông Trương Hỗ (1721 - 1798) có trước
tác "Chỉ nam ngọc âm". Song, trong gia phả
lại ghi ông Trương Hỗ làm quan đến năm 70 tuổi rồi về
trí sĩ tại quê nhà, trong khi tác giả cuốn sách lại
là người tu hành. Như vậy, bà Lan đã đưa ra được những
lý lẽ phản bác khá thuyết phục, song lại chưa đưa ra
một giả thuyết nào làm sáng rõ hơn chân dung tác giả.
TS Hoàng Thị Ngọ đã đưa ra một cách ngắt nhịp câu khác
"Hồng Phúc danh/ Hương Chân pháp tính" để
thử "giải mã" câu thơ này: Tác giả là nhà
sư có pháp tính (đạo hiệu) là Hương Chân, ở chùa có
tên gọi Hồng Phúc. Theo sử sách, chùa Hồng Phúc được
xây dựng từ thời Lý (nay là chùa Hoè Nhai - HN).
Liệu có một giả thuyết nữa: Tác giả tên là Hồng Phúc,
đạo hiệu là Hương Chân?
Phương Duy
|