| 
Thêm
Một Dị Bản Bài Ca Dao: “Tát Nước Đầu Đình”
Tát nước đầu đình là một bài Ca Dao nổi tiếng của
nền văn học dân gian Việt Nam, đã được lưu truyền
rộng rãi ở hầu khắp mọi làng quê. Quá trình lưu
truyền đó đã làm xuất hiện một số dị bản. Mới đây
trong chuyến đi ở Đồng Xuân (tỉnh Phú Yên), chúng
tôi đã sưu tầm được một bản Tát Nước Đầu Đình, xin
được giới thiệu cùng độc giả:
“Áo anh rách lỗ bàn sàng
Cậy nàng mua vải vá quàng cho anh
Vá rồi anh trả tiền công
Đến lúc lấy chồng anh giúp của cho:
Giúp cho một quả xôi vò,
Một con heo béo, một vò rượu tǎm.
Giúp cho chiếc chiếu nàng nằm,
Đôi áo nàng bận đôi vòng nàng đeo.
Giúp cho quan mốt tiền cheo,
Quan nǎm tiền cưới, lại đèo bông tai
Giúp cho một rổ lá gai
Một cân nghệ bột với hai tô mè
Giúp cho năm bảy lạng chè
Cái ấm sắc thuốc cái bồ (ghè?) đựng than
Giúp cho đứa nữa nuôi nàng
Mai ngày trọn tháng cho chàng tới lui…”
Điều dễ dàng nhận thấy bài ca dao nói trên có những
dấu hiệu gần gũi với bài Tát Nước Đầu Đình (Bản
hiện hành do Vũ Ngọc Phan sưu tầm và giới thiệu).
Biểu hiện rõ nhất là nội dung cảm hứng và kết cấu
bài ca. Cả hai đều là ca dao tình yêu, xây dựng
lời tỏ tình của chàng trai trên nền kết cấu “áo
rách – nhờ khâu (vá) – trả công” Điểm giống nhau
nầy rất căn bản cho ta xác lập mối liên hệ mật thiết
giữa bài ca dao vùng đồng bằng Bắc Bộ với bài ca
dao Đồng Xuân. Chắc chắn trong quá trình mở rộng
địa bàn tồn tại bài ca dao Tát Nước Đầu Đình đã
được người dân Đồng Xuân tiếp nhận trên tinh thần
địa phương hóa . Và do vậy bên cạnh việc giữ lại
nét căn bản của bài ca, người dân Đồng Xuân đã có
những sang tạo nhất định khiến cho bài ca có những
điểm tương đồng (như vừa nêu) vừa có những dị biệt.
Theo chúng tôi, sự khác nhau giữa hai bài ca thể
hiện ở ba điểm sau:
Thứ nhất, bài ca dao Đồng Xuân không dùng lối nói
đưa đẩy, bóng gió như ta đã thấy ở bài Tát Nước
Đầu Đình điều nầy có lý do của nó: người dân miền
Trung vốn “ăn ngay nói thẳng”, không thích loanh
quanh, vòng vèo. Lối đặt vấn đề trực tiếp là nguyên
nhân dẫn tới việc lược bỏ 6 câu đầu. Do đó câu 1
của bài ca dao Đồng Xuân tương đương với câu 7 bài
“ttđ”
Thứ hai, bài ca dao Đồng Xuân không chỉ đề cập tới
nội dung “giúp của” phục vụ cho hôn lễ mà còn chú
ý đến những việc làm sau hôn nhân. Sáu câu cuối
bài mang một nội dung hoàn tòn mới so với bài Tát
Nước Đầu Đình. Ở đây việc mở rộng kết cấu có tác
dụng nâng giá trị bài ca lên một bước mới, giúp
người đọc có một sự nhìn đầy đủ về tính cách chủ
thể trữ tình: thẳng thắn và chu đáo.
Thứ ba, bài ca dao Đồng Xuân cũng có những điểm
khác biệt so với bản Tát Nước Đầu Đình về mặt ngôn
ngữ và chi tiết. Chẳng hạn, bản Đồng Xuân không
nói “lợn” mà nói “heo” không nói “khâu” mà nói vá,
không nói “giúp đôi chăn” mà nói “giúp đôi áo” …
Điều nầy do sự quy định của phương ngữ và điều kiện
tự nhiên – sinh hoạt của mỗi vùng đất
Những khác biệt nói trên giữ một vai trò hết sức
quan trọng trong việc tăng cường màu sắc địa phương
cho bài ca. Ở đây có thể nói, quá trình hình thành
dị bản Tát Nước Đầu Đình diễn ra theo con đường
địa phương . Nhờ vậy, trên nền cảm hứng chung, những
dị bản phản ảnh được nếp cảm, nếp nghĩ của con người
từng vùng đất khác nhau
Cũng xin nói thêm, bài ca dao Đồng Xuân có sự gần
gũi hơn so với bài ca dao phát hiện ở Bình Định
năm 1986:
Tát Nước Đầu Đình (Bản Bình Định)
Áo anh đã rách hai tay
Cậy nàng so chỉ và may cho cùng
Vá rồi anh trả tiền công
Mai mốt lấy chồng anh giúp của cho
Giúp cho quan mốt tiền cheo,
Quan nǎm tiền cưới, lại đeo mâm chè
Giúp cho nửa dạ hột mè
Nửa ang tiêu sọ, nửa ghè muối khô
Giúp cho cái ấm cái ô
Cái niêu sắc thuốc cái bồ đựng than
Anh giúp cho một đứa nuôi nàng
Lâu ngày chẵn tháng rồi chàng tới thăm…”
Biểu hiện rõ nhất là ở cách tổ chức kết cấu bài
ca. Điều nầy cũng dễ hiểu vì Bình Định và Phú Yên
cùng chung một vùng văn hóa - địa lý, con người
vì thế có những tương đồng. Rất có thể, bản Đồng
Xuân chính đã được tạo ra trên cơ sở bản Bình Định
Bài viết chỉ nhằm mục đích giới thiệu một dị bản
mới của Tát Nước Đầu Đình. Người viết không đặt
nhiệm vụ phân tích kỹ và sâu . Ở đây chỉ xin được
nhấn mạnh : Những tác phẩm dân gian có giá trị bao
giờ cũng mở ra được những chân trời sáng tạo mới.
Lê
Nhật Ký (ĐHSP Qui Nhơn)
(Trích từ Kiến Thức Ngày Nay số 146 năm 1994)

|