| 
Thạch
Lam (1909 - 1942)
Người Lính Cũ
Một
buổi tối về tháng chạp, tôi cùng với một người bạn
có việc cần phải về quê. Khi ở tầu xuống một cái
ga nhỏ thì đã gần mười giờ đêm. Chúng tôi còn phải
đi qua một quãng đồng vắng đến bảy, tám cây số nữa.
Trời rét như cắt ruột, mà gió lại thổi mạnh. Chúng
tôi vừa cúi lom khom đi, vừa run cầm cập, tuy đã
mặc rất nhiều áo: bộ quần áo tây bằng dạ, ngoài
khoác áo ba đờ suy, ngoài nữa lại khoác một cái
áo tơi đi mưa. Một chiếc khăn quàng bằng len quấn
kín lấy cổ và mặt lên đến mang tai.
Cánh đồng chúng tôi đi qua là một cánh đồng mầu,
bấy giờ chỉ còn trơ cuống rạ trên đất nẻ khô. Làng
mạc đã ngủ yên lặng trong đêm tối, không còn một
bóng lửa nào. Thỉnh thoảng, bên con đường khúc khuỷu
chúng tôi đang đi, hiện ra cái vừng đen thẫm của
một cây nhãn, nổi lên nền trời đen nhạt hơn.
Hai chúng tôi cắm đầu rảo bước mau, chỉ mong chóng
về tới nhà. Đi được một quãng khá dài, chân đã thấy
mỏi, bỗng người bạn tôi chỉ tay về phía trước, nói:
- Sắp đến quán đa rồi, đến đấy ta hẵng nghỉ một
chút đã rồi hãy đi.
Tôi gật đầu biểu đồng tình. Quán đa là một cái
nhà nhỏ xiêu vẹo, sắp đổ nát; ban ngày, có một bà
cụ già dọn hàng nước bán ở đấy cho những người đi
làm đồng, nhưng đến tối bà cụ lại dọn hàng về. Những
khi về quê chúng tôi vẫn thường ghé vào đấy uống
chén chè tươi, và nói dăm ba câu chuyện với những
người nhà quê vào nghỉ ở đó.
Gần đến nơi, tôi đã nghe tiếng ào ào của lá đa
lật gió, một cây đa cỗi, mà vùng đấy, người ta bảo
là đã sống lâu lắm. Chúng tôi cúi mình bước vào
quán, tới cái bục bằng đất, phủ một manh chiếu của
bà hàng trải lên đất thay ghế cho khách ngồi.
Vừa ngồi xuống, chúng tôi đã ngạc nhiên nghe thấy
tự trong xó tối đưa ra một tiếng rên khừ khừ như
tiếng rên của người ốm.
Bạn tôi nghe thấy tiếng hỏi:
- Ai đó?
Chúng tôi nghe thấy tiếng người cựa mình, tiếng
chiếu sột soạt; hình như người đó ngồi dậy. Rồi
một tiếng nói khàn khàn trả lời, tiếp theo mấy tiếng
ho rũ rượi:
- Tôi. Các thày đi đâu bây giờ?
- Chúng tôi về Son.
Tuy có nghe tiếng, nhưng chúng tôi không trông
thấy gì cả, vì trong quán tối như mực. Bạn tôi lại
hỏi:
- Ai đó? Sao lại ra đây mà ngủ, có rét chết không?
- Các thầy tính không nhà không cửa thì phải ra
đây vậy chứ biết làm thế nào.
- Làng bác có gần đây không? Sao không ngủ nhờ
người trong làng?
Người ấy lại ho rũ một hồi nữa mới trả lời được:
- Tôi ở ăn ngay đây. Nhưng mình nghèo khổ ai người
ta cho ngủ nhờ. Và người ta khinh trọng tôi cũng
không thích. ấy, thà rằng ra ở nhờ bà cụ hàng nước
đây lại còn hơn, bà ta tử tế.
Lời nói khí khái đó làm chúng tôi ngạc nhiên. Người
đàn ông lại hỏi:
- Thầy có thuốc lào cho tôi xin...
- Có. Nhưng mà không có điếu.
- Điếu đây.
Tôi nghe thấy anh ta sờ soạng trong bóng tối. Chúng
tôi nhích lại gần. Tôi cho tay vào túi lấy thuốc,
rồi nói với bạn tôi một câu bằng tiếng Pháp:
- Thật là rét quá nhỉ.
Tức thì người đàn ông trả lời:
- Vâng, rét thật.
Tôi sửng sốt hỏi:
- Bác cũng biết tiếng Tây à?
- Thưa, gọi là biết qua loa một vài chữ. Hồi trước
chúng tôi cũng có đi lính sang Pháp.
Que diêm đánh lên, thoáng ánh lửa sáng, tôi nhận
ra một người đã đứng tuổi, gầy còm và hốc hác, ngồi
co ro trên cái bục đất sát vách. Quần áo bác ta
rách nát, trên vai phủ một cái bao gạo đã thủng
nhiều chỗ.
Không đợi cho chúng tôi hỏi, bác ta hấp tấp kể
chuyện về thân thế bác, như hể hả vì được kể lại
với người lạ cái đời gian truân của mình:
- Hai thầy nghe, tôi cũng đã có lúc sung sướng,
chứ có phải khổ như bây giờ đâu. Lúc bấy giờ tôi
đăng lính sang Tây mới có ngoài hai mươi tuổi. ở
bên ấy bốn năm được lon bếp. Tôi lại có cả vợ đầm,
nó thương yêu tôi lắm. Nhưng từ khi về nước đến
giờ, lo việc làm ăn, nên tôi cũng chẳng gửi tin
tức gì sang cả. Không biết ở bên ấy nó ra sao.
Rồi anh ta thuật lại cho chúng tôi nghe cái đời
anh đã được sống ở bên Pháp. Những khi khoác tay
vợ đi xem chớp ảnh, trong túi có ba, bốn trăm quan,
vào hàng cà phê uống rượu rồi đi tiệm khiêu vũ.
Những khi theo vợ về quê ở miền Provence, ra cánh
đồng hái nho, rồi cùng đoàn kéo nhau về nhảy hát
vui vẻ quanh cái giếng rượu nho ở giữa làng. Anh
ta nhắc lại những tên tỉnh đã ở qua, bây giờ xa
xôi mù mịt: Tuolouse, Bordeaux, những tên làng nhỏ
anh ta qua chơi: Militry, Saint-Etreuil.
- Bác đã qua Paris chưa?
- Có, tôi được ở Paris năm tháng, Montmartre, Bois
de Boulogne tôi đã đi xem cả.
Chúng tôi yên lặng nghe anh kể - không khỏi buồn
cười khi tưởng đến những cảnh tượng xán lạn ánh
sáng ở thành phố Paris, lại nghĩ đến bác lính này,
bây giờ là một anh nhà quê An Nam nghèo khổ ngồi
bó gối hút thuốc lào trong một cái quán vắng giữa
chốn đồng không mông quạnh.
Bạn tôi hỏi:
- Thế làm sao mà bây giờ bác như thế này?
Bác lính thở dài, như trút bao điều uất ức ra hơi
thở, chép miệng đáp:
- Cũng là cái vận mình như thế, hai thầy ạ. Khi
tôi mãn về, nhà cũng có trâu, ruộng cày cấy đủ dư
dật. Một năm sâu ăn, mấy năm mất mùa, nước lụt thành
hết sạch cả. Lại thêm một vài cái kiện vì rắc rối
trong họ, thế là gia tài khánh kiệt. Đến bây giờ
thì thật là một thân, một mình, không nhà, không
cửa.
- Thế sao bác không tìm việc làm, hay là xin nhà
nước giúp?
- Có, tôi đã đi làm ở tòa sứ được hơn một năm,
thì ông quan thầy tôi về Pháp, tôi cũng bỏ việc.
Từ độ ấy, người ta cũng có giúp kỳ được mười đồng,
kỳ dăm đồng. Nhưng hai thầy tính sao đủ: tôi lại
bị bệnh ho ra máu và lóa mắt nữa, bao nhiêu tiền
thuốc men hết cả.
Bác ta nói đến đấy lại vớ cái điếu cầy đánh diêm
châm hút. Tôi thấy mặt mặt bác hốc hác thêm; bác
hút xong, đặt điếu, ho rũ rợi một hồi rồi lại ngồi
yên lặng trong bóng tối.
Chúng tôi không biết nói gì để an ủi bác, sửa soạn
đứng dậy đi. Bác ta xin vài chiếc diêm và mấy điếu
thuốc lào. Khi que diêm sau cùng sáng lên, tôi thấy
bác nhìn chúng tôi ngập ngừng như muốn nói gì mà
không dám nói. Tôi ngờ bác ta muốn xin tiền mà không
dám xin chăng? Đã toan đãi bác mấy hào chỉ, nhưng
tôi lại lưỡng lự không đưa, sợ làm tủi bác ta quá.
Tôi thấy bác khẽ thở dài.
Ra khỏi quán, gió thổi mạnh làm tung tà áo. Trời
lấm tấm mưa, rét buốt cả chân tay. Chúng tôi đi
yên lặng, nghĩ đến người lính khốn nạn kia, bây
giờ lại đắp manh chiếu rách không đủ che thân, nằm
nhớ lại những lúc khoác tay vợ đầm bước vào tiệm
nhiều ánh sáng, tận bên kia trái đất. Những kỷ niệm
sung sướng ấy bây giờ đối với anh ta chua xót biết
bao.
Như cùng một ý nghĩ, người bạn tôi thong thả nói:
- Chắc anh ta bây giờ đang mơ mộng nhiều cái đẹp
lắm thì phải.
Tôi yên lặng, không trả lời. Chúng quanh chúng
tôi, cái đen tối của đêm khuya dầy dằng dặc.
Tập truyện ngắn "Gió đầu mùa",
Nxb Đời nay, Hà Nội 1937.

|