| 
NHỮNG
CÔNG LAO BỊ QUÊN LÃNG
Trương
Vĩnh Ký (1837-1898)
( Trích " Các Nhà Văn Quốc Ngữ Tiền Phong "
- Huỳnh Ái Tông)
Tác phẩm :
Cương Từ Thức Truyện
Đối được vợ
Kiếp phong trần
Tên thật của ông, là Trương Chánh
Ký sau đổi thành Trương Vĩnh Ký, tên thánh là Jean
Paptiste, tên chữ là Pétrus, tự Sĩ Tải. Vì vậy người
ta thường viết tên ông là Pétrus Jean Paptiste Trương
Vĩnh Ký, sanh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng
Vĩnh Thành (tục danh Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện
Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long, sau nầy
thuộc tỉnh Bến Tre.
Ông là con thứ ba của Lãnh binh Trương Chánh Thi
và Nguyễn Thị Châu, năm 1842, được 5 tuổi, ông học
chữ hán với ông giáo Học. Năm 1847, cha ông qua
đời trong khi trấn nhậm ở một vùng gần Nam Vang
(Phnom Penh), có lẽ sau đó, mẹ ông giao ông cho
giáo sĩ Tám, với sự dìu dắt của vị giáo sĩ nầy,
ông học chữ Quốc ngữ, sau đó giáo sĩ Tám mất, có
nhà truyền giáo người Pháp tên Việt là linh mục
Long, đem về nhà dòng chánh ở Cái Nhum (Bến Tre)
cho học chữ La tinh.
Dưới triều vua Minh Mạng, năm 1835
hạ Chiếu cấm đạo, nên năm 1848, Linh mục Long đưa
Trương Vĩnh Ký qua học tại Trung Học Pinhalu ở Campuchea,
đây là trường đạo dành để dạy học trò người Việt,
Miên, Lào, Thái Lan, Miến Điện và Trung Hoa , nhờ
ở chung với học sinh các nước Đông Nam Á mà ông
học nói và viết thông thạo các ngôn ngữ kể trên.
Năm 1851, Trương Vĩnh Ký theo Linh
mục Long qua họctại Tổng Chủng Viện Viễn Đông Quốc
Ngoại Truyền Giáo ở Poulo-Pénang (Hạ Châu). Trong
6 năm theo học ở Pénang, ông đã học về văn chương,
khoa học, triết lý qua chữ La tinh, và ở tại đây,
công có dịp học thêm các ngôn ngữ Pháp, Anh, Hy
Lạp, Ấn Độ và Nhật.
Năm 1858, được tin mẹ mất, ông rời
Poulo-Pénang trở về Cái Mơn, năm nầy ông được 21
tuổi. Hai năm sau, qua sự giới thiệu của Linh mục
Lefèvre, Trương Vĩnh Ký ra làm thông ngôn cho Đại
úy Jauréguiberry. Năm 1861, ông lập gia đình với
bà Vương Thị Thọ rồi lập gia cư ở Chợ Quán (nay
ở ngay tại góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình
Trọng, quận 5 Sàigòn). Năm 1862, ông bị chuyển ra
làm việc ở Huế.
Năm 1863, Trương Vĩnh Ký được Pháp
phái theo sứ bộ Nam triều do Phan Thanh Giản làm
Chánh sứ, phái bộ sang triều kiến Pháp hoàng Napoléon
III. Nhờ sứ trình nầy, ông có dịp viếng các nước
Anh, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Ai Cập, Ý, La Mã. Tại
La Mã, ông được Giáo hoàng Pio IX tiếp kiến, còn
trong lúc ở Paris, ông kết thân với các nhà thông
thái, danh vọng nước Pháp như Paul Bert, Duruy,
Littré ... Ông được cử vào Hội viên của hội chuyên
khảo về Nhân loại, và hội chuyên học tiếng Đông
phương.
Từ năm 1886-1888, Trương Vĩnh Ký
được bổ nhậm chức Giám đốc và dạy ngôn ngữ Đông
Phương ở Trường Thông Ngôn ( Collège des Interprètes).
Ngày 16-9-1869, ông được Thống soái
Nam Kỳ Ohier bổ nhiệm Chánh Tổng Tài tờ Gia Định
Báo. Ông đã điều hành tờ báo nầy cho đến năm 1872,
Năm nầy ông được thăng Tri Huyện và được bổ nhiệm
làm Hiệu trưởng trường Sư Phạm (Ecole Normal). Năm
1874, ông là giáo sư dạy chữ Quốc ngữ và chữ hán
ở Trường Hậu Bổ (Collège des Stagiaires).
Từ 1866-1886, khoảng thời gian 20
năm nầy, ông chuyên về vấn đề văn hóa và giáo dục.
Nhưng năm 1886, người bạn cũ của ông là Paul Bert
sang làm Thống Đốc Nam Kỳ, vì tình bạn ông đã bước
sang sân khấu chánh trị, một bước phù du mà cuối
cùng cuộc đời ông nghèo nàn, danh vọng một thời
đã mai một!
Trước tiên Paul Bert lấy tình thân
hữu nhờ ông giúp cho vài việc liên lạc với triều
đình Huế (1), sau sung Cơ Mật Viện và làm Giám quan,
cố vấn cho vua Đồng Khánh.
Ngày 11-11-1887, Paul Bert mất,
ông có dịp rời khỏi sân khấu chánh trị mà cả phía
Pháp cũng như quan lại Nam triều, kẻ không tin cẩn,
người lại không ưa ông. Trở về nhà, ông sáng tác
và vui thú văn chương.
Trương Vĩnh Ký thiết tha với nền
văn học Quốc ngữ, đọc Ý sáchChuyện Đời Xưa để thấy
rõ hoài bão của ông:
Kêu rằng chuyện đời xưa, vì nó là
những chuyện kẻ lớn trước ta bày ra để mà khen sự
tốt, chê sự xấu cho người ta sửa cách ăn, nết ở
cho tử tế.
Ta cũng có thêm một hai chuyện thiết
tích mà có ý vị vui, dễ tức cười, cũng để cho người
ta thấy khen mà bắt chước, thấy chê mà lánh.
Góp nhóp trộn trạo chuyện nọ chuyện
kia, in ra để cho con nít tập đọc chữ quốc ngữ,
cũng là có ý cho người ngoại quốc muốn học tiếng
An Nam, coi mà tập hiểu cho quen.
Nay ta in sách nầy lại nữa: vì đã
hết đi, cũng vì người ta dùng sách nầy mà học tiếng,
thì lấy làm có ích. Vì trong sách ấy cách nói là
chính tiếng An Nam ròng, có nhiều tiếng nhiều câu
thường dùng lắm.
P.J.B. Trương Vĩnh Ký
Năm 1888, ông xuất bản một nguyệt
san lấy tên là Thông Loại Khóa Trình ( Miscellanées
ou lectures intructives pour les éleves des écoles
primaires, communales et cantonales et les familes),
nguyệt san nầy số 1 không có ghi ngày tháng xuất
bản, chỉ có ghi năm 1888, từ số 3 trở đi có ghi
thêm Juillet 1888 và các số sau ghi mỗi số một tháng
kế tiếp. Như vậy số 1 có thể ra vào tháng 5 (Mai)
1888 và số sau cùng là số 18 năm 1889, in khổ 16cm
X 24cm, mỗi số có 12 trang.
Sau đây trích trang 3 số 1. ( Có
hàng chữ Hán : Thường Bả Nhất Tâm Hành Chánh Đạo)
(Đạo) (Chánh) (Hành) (Tâm) (Nhất)
(Bả) (Thường) (2)
Bảo
Coi sách dạy lắm, nó cũng nhàm;
nên phải có cái chi vui pha vào một hai khi, nó
mới thú.
Vậy ta tính làm ra một tháng đôi
ba kì, một tập mỏng mỏng nói chuyện sang đàng, chuyện
tam hoàng cuốc chí, pha phách lộn lạo xào bần để
cho học trò coi chơi cho vui. Mà chẳng phải chơi
không vô ích đâu, cũng là những chuyện con người
ta ở đời nên biết cả. Có ý có chí thì thì lâu nó
cũng thấm, như là trí con trẻ còn đang sáng láng
sạch sẻ, tinh thần còn minh mẫn, tươi tốt như tờ
giấy bạch, như sáp mềm, vẽ vời, uốn sửa sắc nào
thế nào cũng còn đặng: tre còn măng dễ uốn, con
còn nhỏ dễ dạy.
Phép học là trước học lễ sau học
văn; được cả hai ấy mới ra con nhà gia giáo, biết
phép tắc, lễ nghi, can thường, luân lý, biết chữ
nghĩa văn chương, kinh sử, truyện cổ tích cổ kim
ấy là đấng đợt con người tử tế: ở đời dù sao cũng
chẳng nao, chẳng mếch: vì hể người (Đạo) (Tâm) (
Nhân) đạo tâm nhơn, người (Hiếu) (Tâm) Nhân) hiếu
tâm nhơn, người (Hảo) (Tâm) (Nhân) hảo tâm nhơn,
và người (Thiện) (Tâm) (Nhân) thiện tâm nhơn thì
(Hoàng) (Thiên) (Bất) (Phụ) hoàng thiên bất phụ.
Lấy đó làm mực mà ở thì nên, vì trời đất không lầm
(Thiên) (Địa) (Bất) (Thác) thiên địa bất thác. Hãy
cứ thường nắm một lòng làm đạo chính thì sẽ qua
truông đời xống (3), xống bình an vô sự.
P. Trương Vĩnh Ký
Chẳng những Trương Vĩnh Ký là một
nhà văn tiền phong xứng danh của nền văn học chữ
quốc ngữ mà ông còn là một học giả rất nổi tiếng,
ông đã được các vinh dự:
1-10-1863: Lãnh huy chương Dõng
sĩ cứu thế của Tòa thánh La Mã.
27-6-1886: Lãnh huy chương Isabelle la Catholique
của Tây Ban Nha.
15-2-1876: Được cử làm hội viên Hội chuyên khảo
về Văn hóa Á Châu.
07-7-1878: Được cử làm hội viên Hội chuyên học địa
dư ở Paris.
17-5-1883: Lãnh huy chương Hàn Lâm Viện đệ nhị đẳng
của nước Pháp.
17-5-1886: Lãnh Tứ đẳng Long Tinh, Ngọc Khánh, Long
Khánh của Nam triều.
04-8-1886: Lãnh Bắc Đẩu Bội Tinh đệ ngũ đẳng của
nước Pháp.
03-6-1887: Lãnh Hàn Lâm Viện đệ nhất đẳng của nước
Pháp.
Ông cũng có lãnh Hàn Lâm Viện đệ
nhất đẳng của Hoàng Gia Cam Bốt.
Vua Đồng Khánh ban cho ông chức Hàn Lâm Viện thị
giảng học sĩ.
Vua Khải Định ban hàm Lễ Bộ Tham Tri.
Vua Bảo Đại ban hàm Lễ Bộ Thượng Thư.
Trong khoảng năm 1873-1874, ông
được liệt vào hàng thế giới thập bát văn hào, xếp
theo mẫu tự như sau :
Bác sĩ Allemand, Banadona d"
Ambrum, Bonhomme (Honoré), Cazot (Jules), Đại tướng
Chambron, Bá tước Chambord, Christophie (Albert),
Conte (Casimir), Desmaze (Charles), Duprat (Pascal),
Dupuy (Charles), Garnier-Pages, Guizot, Lafayette
(Oscar de), Lefèvre-Pontalis (Amédée), Marcon, Pétrus
Ký, Thống chế Saldonha Oliveirae Daun.
Cộng tác với Pháp, nhưng chắc chắn
Trương Vĩnh Ký không thích con đường chính trị,
ông lại thiết tha với nền văn học chữ quốc ngữ,
ông có chủ đích quay về sự nghiệp văn chương của
mình, khi Paul bert mất, ông không ngần ngại từ
bỏ sân khấu chánh trị, trở lại nghề dạy học, viết
sách dạy các thứ tiếnng Đông phương, về phương diện
nầy, ông là nhà ngôn ngữ học quảng bác, vì ông có
thể nói và viết 15 ngôn ngữ Tây phương và 11 ngôn
ngữ Đông phương.
Viết sách dạy người Pháp học tiếng
Việt và ngược lại, dịch bộ Tứ Thư (Đại Học, Trung
Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử), cũng như một số sách
chữ Hán ra chữ quốc ngữ, cốt để phổ biến ngôn ngữ
và tư tưởng Đông phương, chính ở phương diện nầy
chúng ta thấy ông là nhà văn hóa, ở sân khấu chánh
trị ông mong tạo sự thông cảm giữa người Việt và
người Pháp, giữa những xung đột lớn lao về chánh
trị, kinh tế, văn hóa giữa hai nước. Tuy theo đạo
Thiên chúa nhưng phải nhận ông vẫn giữ được phong
hóa Đông phương, thấm nhuần tư tưởng Khổng Mạnh,
điểm nầy chúng ta xem lại bài di huấn của ông viết
vào ngày 8-11-1870.
"" Người đời sanh ký tử
quy, đàng đi nước bước vắn vỏi lắm. Nhưng ai cũng
có phận nấy, hể nhập thế cuộc bất khả vô danh vị,
cũng phải làm vai tuồng mình cho xong đã, mới chun
vô phòng được. Sự sống ở đời tạm nầy, đỏ như hoa
nở một hồi sương sa; vạn sự đều chóng qua hết, tan
đi như mây như khóị Nên phải liệu sức, tùy phận
mà làm vai tuồng mình cho xong...""
Và sau đây là bài thơ ông sáng tác
lúc gần ngày lâm chung :
Quanh quanh quẩn quẩn lối đường
quai,
Xô đẩy người vô giữa cuộc đời.
Học thức gửi tên con sách nát,
Công danh rốt cuộc cái quan tài.
Dạo hòn, lũ kiến men chân bước,
Bò xối, con sùng chắt lưỡi hoài !
Cuốn sổ bình sanh công với tội,
Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.
Ông mất vào ngày 1 tháng 10 năm 1898, thọ 61 tuổi.
Mộ của ông hiện ở góc đường Trần Hưng Đạo và Trần
Bình Trọng Sàigòn, trong khuôn viên nhà của ông
ngày xưa ở Chợ quán. Thời Pháp, tưởng nhớ công nghiệp
của ông, người ta đúc tượng ông, một người nho nhã
mặc quốc phục, đầu bịt khăn đống, tay cầm quyển
sách, tượng đặt trong khuôn viên trước Bộ Ngoại
Giao và Dinh Độc Lập.
Tại Thủ đô Sàigòn, Bộ Giáo Dục dành một trường Trung
Học Lớn mang tên ông, Trường Trương Vĩnh Ký nằm
cạnh Trường Đại Học Khoa Học Sàigòn.
Kê ra những sách và bài của ông
đã viết để thấy văn nghiệp của ông đồ sộ, phong
phú và đa dạng (4):
1. Năm 1865 : Cours pratique de langue Annamite,
à l"usage du college des interpretes.
2. Năm 1867 : Contes Annamite (Chuyện đời xưa)
3. "" : Abrégé de Grammaire Annamite
4. Năm 1872 : Grammaire Francaise (Mẹo Luật dạy
tiếng Lang sa)
5. Năm 1875: Petit cours de Geographie de la Basse-Cochinchine
6. "" : Histoire Annamite en vers (Đại
Nam quốc sử diễn ca)
7. "" : Cour de Langue Annamite (autographié)
8. "" : Cour de Langue Mandarine ou de
Caractes Chinois (autographié)
9. "" : Kim Vân Kiều-Poème transcrit pour
la première fois en quốc ngữ avec des notess explicatives,
précédé d"un résumé succinet du sujet en prose
et suivi de quelques pièces de vers relatives à
la même histoire.
10. Năm 1876: Manuel des Écoles Primaires-(Syllabaire
quốc ngữ, Histoire Annamite, Histoire Chinoise (en
ananmite)
11. "" : Quatre livres classiques en caractères
Chinois et en annamite (autographié)
12. "" : Alphabet quốc ngữ
13. Năm 1877: Sơ học vấn tân Répertoire pour les
nouveaux étudiants en caractères
14. Năm 1879: Cour d" Histoire Annamite, en
2 volumes
15. Năm 1881: Voyage au Tonkin en 1876 (Chuyến đi
ra Bắc kỳ năm Ất hợi)
16. "" : Retraite et Apothésose de Trương
Lương.
17. "" : Les convenances et les Civilités
Annamites.
18. Năm 1882: Saigon d"autrefois.
19. "" : Saigon d"aujourd"hui.
20. "" : Passe-temp (Chuyện khôi hài)
21. "" : Apologie de Trương Lương (Trương
Lương hầu phú)
22. "" : Événement de la vie (Kiếp phong
trần, 3è edition)
23. "" : Fais ce que doit , advienne que
pourra (Bất cượng)
24. "" : Devois des Filles et des Femmes.
25. "" : La Bru (Thơ dạy làm dâu)
26. "" : Défaut et Qualités des Filles
et des Femmes.
27. Năm 1883: Guide de conversation Annamite Francaise
(Sách tập nói tiếng An-nam Phangsa)
28. "" : École domestique ou un Père et
à ses Enfants.
29. "" : Caprises de la Fortune (Thạnh
suy bỉ thời phú)
30. "" : Procription des Corbeaux (Bài
hịch con quạ)
31. "" : Un lettré pauvre (Hàn nho phong
vị phú)
32. Năm 1884: Grammaire de la Langue Annamite (Sách
mẹo tiếng Annam)
33. "" : Tam tự kinh.
34. "" : Sơ học vấn tân.
35. "" : La Digne (Mắc cúm từ)
36. "" : Jeux et Opium (Cờ bạc, nha phiến)
37. "" : La Bucheron et la Pêcheur (Ngư
tiều trường điệu)
38. "" : Huấn mông ca Transcription et
traduction en annamite et en francais.
39. Năm 1885: Alphabet Francais pour les Annamite.
40. Năm 1886: Conférence sur le Souvenir histoirique
de Saigon et de ses environs.
41. "" : Cours de la Langue Annamite aux
Européens-Phrasélogie-Thèmes versions.
42. "" : Cours d"Annamite aux Élèves
Européens-Explication du Lục Vân Tiên
43. "" : Cours d"Annamite aux Élèves
Annamites-Explication du Lục Vân Tiên
44. "" : Prosodie et Versification Annamite-Cour
d"Annamite aux Élèves Annamite.
45. Năm 1886: Dispute de Mérite entre les six Animaux
domestique (Lục súc tranh công)
46. "" : Maitre et Élève sur la Grammaire
Francaise (Thầy trò về mẹo luật tiếng Phangsa).
47. "" : Kim Vân Kiều en prose-Converti
et commenté en langue vulgaire pour les Élèves Annamite.
48. "" : Théâtre, Comédies, Chants, Chansons
Annamite(Hát lý hò Annam) Cours aux Elèves Annamite.
49. Năm 1887: Cours de caractères Chinois, 2è année-Explication
du Mencius, Thèmes, Versions et explication des
pièces officielles.
50. "" : Vocabulaire des Mot usueles,
Noms et termes Techniques, Scientifiques, et Administratifs.
51. "" : Livres Élémentaire de 3.000 caractères
(Tam thiên tự giải nghĩa).
52. "" : Résumer de la Chronologie de
l"Histoire et de la Production de l"Annam
en Tableau Synoptiques (Ước lược sự tíchnước Nam)
53. "" : Précis de Géographie
54. "" : Les six Annimeaux domestiques
(Lục súc)
55. Năm 1888: Đại Nam thập nhứt tỉnh thành đồ.
56. "" : Miscellanées ou Lectures instructives
pour les Élèves des Écoles primaire, communales
et cantonales et les Familles.
57. Năm 1889: Poème populaire (Lục Vân Tiên)
58. "" : Poème populaire (Phan Trần)
59. "" : Cours de Siamois
60. "" : Cours de Langue Malaise, professé
et autographié jusqúà là 7è lecon.
61. "" : Đại Nam tam thập nhứt tỉnh địa
đồ
62. "" : Quatres Livres classiques en
Caractères Chinois et en Annamite-Grande Étude Invariable
Milieu.
63. "" : Grand Dictionnaire Annamite Francaise-1er
feuille comme spécimen
64. Năm 1890: Cours de Cambodgien (Ecriture et langue)
65. "" : Vocabulaire du Cours d"Annamite.
66. "" : Vocabulaire du cours de Caractères
Chinois.
67. Năm 1891: Cours de Littérature Chinoise.
68. "" : Cours de Littérature Annamite.
69. "" : Programme Générale d"Études
des les Écoles Annamites.
70. "" : Modèles des Pièces officielles
et administratives en caractères.
71. "" : Généalogie de la Famille de P.
Trương Vĩnh Ký.
72. "" : Sĩ viên thi thảo.
73. "" : Recueil de Brochures sur l"histoire
de la littérature annamite, relié.
74. Năm 1894: Cours d"Annamite parlé (vulgaire)
75. "" : Grand Dictionnaire Francais-Annamite
(invachevé)
76. ( 5 ) : Grammaire de la Langue Chinoise (Mẹo
chữ Nhu)
77. "" : Grammaire Annamite en Annamite
(Mẹo tiếng Annam)
78. "" : Langage de la Cour en Extrême-Orient
79. "" : Vocabulair Francais-Malais
80. "" : Guide de la Conversation Malaise-Francaise
81. "" : Vocabulair Francais-Cambodgien
82. "" : Guide de la Conversation Cambodgienne-Francaise
83. "" : Vocabulaire Francais-Siamois
84. "" : Vocabulaire Siamoise-Francaise
85. "" : Cours de la Langue Birmane
86. "" : Vocabulaire Birman-Francais
87. "" : Guide de la Conversation Birmane-Francaise
88. "" : Cours de Ciampois
89. "" : Vocabulaire Ciampois-Francais
90. "" : Guide de la Conversation Ciampoise-Francaise
91. "" : Cour de la Langue Laotienne
92. "" : Vocabulaire Laotien-Francais
93. "" : Guide de la Conversation Laotienne-Francaise
94. "" : Cours de la Langue Tamoule
95. "" : Vocabulaire Tamoul-Francais
96. "" : Guide de la Conversation Tamoule-Francaise
97. "" : Cours de la Langue Indoustane
98. "" : Vocabulaire Indoustan-Francais
99. "" : Guide de la Conversation Indoustane-Francaise
100. "" : Minh tâm-La précieux Miroir
du Coeur (en 2 vol)
101. "" : Cours de la Géographie de l"Indochine
avec carte générales et partiuculières en six parties:
1. La Cochinchine-francaise, 2. L"Annam central,
3. Le Tonkin, 4. Le Cambodge, 5. Le Siam, 6. La
Birmanie.
102. "" : Cours d"Annamite écrit
(Mandrin ou de caractères chinois)
103. "" : Mencius-(Quatre Livres) No 3
104. "" : Luận ngữ (Quatre Livres) No
4
105. "" : Dictionnaire Chinois-Francais-Annamite.
106. "" : Annam Politiqye et Social
107. "" : Dictionnaire biographie Annamite
(ou De Viris illustribus regni Annamitici)
108. "" : Flore Annamite
109. "" : Produits de l"Annam
110. "" : Dictionnaire Géographie Annamite.
111. "" : Les Droits de l"Annam dans
la Vallée du Mékong (Mémoire sur)
112. "" : Recueil de Chansons populaire
Annamites
113. "" : Recueil d"Oraisons funèbres
Annamites
114. "" : Recueil de pièces de théâtre
Annamite
115. "" : Sujets Histoiriques des Poèmes
Annamites
116. "" : Étude comparée sur les Langues,
Écritures, Croyances, et Religions des Peuples de
l"Indochine.
117. "" : Combinaisiondes systèmes d"écritures
idéographique, hiérogkyphique, phonétique, alphabétique
118. "" : Étude comparée des Langues et
des Écritures des trois branches linguistique.
119. Năm 1937: Petit Dictionnaire Francais-Annamite
à l"usage des écoles et des bureaux.
Sau khi kê các tác phẩm của Trương
Vĩnh Ký, chúng ta thấy khoảng thời gian 33 năm với
119 tác phẩm chúng ta được biết đến, có thể có những
tác phẩm đã bị thất lạc nên không có trong danh
sách nầy.
Văn nghiệp để lại đồ sộ, phong phú,
đa dạng, gồm nhiều địa hạt như : Triết học, Văn
học, Sử học, Địa lý... Riêng về ngành ngôn ngữ học,
ông đã viết nhiều sách dạy tiếng Á Châu như : Trung
Hoa, Lào, Kam pu chia, Thái Lan, Miến Điện, Mã lai,
Ấn Độ chứng tỏ ông là nhà thông thái hiếm có, danh
tiếng của ông chẳng những chỉ có ở trong nước mà
còn có ở nước ngoài thời bấy giờ.
Cho nên về văn học chữ quốc ngữ,
Pétrus Trương Vĩnh Ký thật xứng danh là một nhà
văn tiền phong.
( ...)
Huỳnh
Ái Tông
(1) Nhân Loại bộ mới số 4 ngày 15-10-1958 trang
30-32
(2) Chúng tôi dùng chữ trong ngoặc thay cho chữ
Hán.
(3) Chúng tôi để nguyên văn, không sửa chữa chánh
tả, xống: sống
(4) Chép theo Petite Dictionnaire Francais-Annamite.

|