
Bình
thơ:Hoàng hạc lâu
TTO - Trong kho tàng thơ Đường, Hoàng hạc lâu của
thi hào Thôi Hiệu (?- 754) là một tuyệt tác, Ngay
cả khi thi hào Lý Bạch (701- 762) khi đến lầu Hoàng
hạc, nhớ lại bài thơ ấy đã cảm thán:
Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu
(Trước mắt có cảnh không nói được
Thôi Hiệu đề thơ ở trên đầu)
Điều này đã khiến
nhà phê bình Kim Thánh Thán có lời bình sâu
sắc: “Làm thơ không nhiều mà có thể khiến cho Lý
Bạch phải gác bút, thì đúng là bậc đại trượng phu
trong rừng bút mực vậy”.
Một tuyệt tác thì bao giờ cũng quyến
rũ người đời sau tìm đến và thử dịch sang tiếng
mẹ đẻ của mình. Cho đến nay bản dịch sang tiếng
Việt của thi sĩ Tản Đà (1889 - 1939) vẫn tồn tại
qua thử thách khắc nghiệt của thời gian và được
người yêu thơ chấp nhận.
Tuy nhiên, gần đây, nhà giáo, nhà
nghiên cứu Nhật Chiêu đã nỗ lực dịch lại theo cảm
hứng của riêng mình. Bài viết sau đây của nhà báo
Lam Điền đã gợi mở nhiều điều thú vị...
Thử
dịch lại tuyệt tác Hoàng hạc lâu
Đầu thế kỷ XX, Tản Đà chuyển ngữ
bài Đường thi Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu và được
giới yêu thơ đánh giá là tuyệt tác. Tất nhiên, có
nhiều người đã dịch Hoàng hạc lâu, nhưng bản đắc
ý nhất vẫn cứ là của Tản Đà. Tám câu lục bát Lầu
hoàng hạc sừng sững như thế trong làng thơ dịch
ngót một thế kỷ nay, thậm chí có người còn phải
công nhận bản dịch của tản Đà có thần thái không
thua gì nguyên tác.
Nay,
đầu thế kỷ XXI, lại có một nhà giáo cao hứng dịch
Hoàng Hạc lâu.
Không phải rỗi hơi, càng không phải
"trước mắt không thấy núi Thái Sơn", mà
nhà giáo Nhật Chiêu đã suy nghĩ về bản dịch của
Tản Đà so với nguyên tác "trong nhiều năm giảng
dạy Đường Thi". Để rồi trong một dịp đi Phú
Yên giảng cho lớp đại học một học phần về thơ Đường,
Nhật Chiêu có dịp gặp lại Hoàng Hạc lâu.
"Chính xác là tôi đã lẩm nhẩm
bài Hoàng hạc lâu trong khi đang nằm trên tàu hoả.
Không hiểu sao, tôi cứ lướng vướng cái ý Thử địa
không dư Hoàng hạc lâu được Tản Đà dịch thành Mà
nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ. Rồi ngay trong
câu dịch đó, tôi lại vướng bởi chữ "trơ".
Tôi cho rằng Tản Đà đã chuyển ngữ chữ "không
dư" thành "còn trơ" là chưa đắt".
Thế rồi, thầy giáo Phan Nhật Chiêu
cứ lẩm nhẩm "không dư, không dư" hoài
cho đến lúc một ý tưởng bật ra; "Ồ, sao không
thể dịch là Bỏ hư không lại còn Hoàng hạc lâu nhỉ?
"Thế là tôi ngồi dậy, lấy giấy bút ghi lại
cái tứ vừa bật ra", và bài thơ Hoàng hạc lâu
của Thôi Hiệu thêm một lần nữa hình thành dưới dạng
tám câu lục bát:
Hoàng
hạc lâu
Chở tiên đi, cánh hạc vàng
Bỏ hư không lại còn Hoàng hạc lâu
Hạc vàng mất hút thiên thu
Để ngàn năm trắng mây từ từ trôi
Sông tình, cây Hán Dương tươi
Bờ Anh Vũ cỏ xanh ngời ngời xa
Quê hương đâu? bóng dương tà
Trên sông khói sóng còn ta với sầu
NHẬT CHIÊU
Theo Nhật Chiêu, thì sau Thôi Hiệu, còn rất nhiều
tao nhân mặc khách đến với lầu Hoàng Hạc. Kể cả
Lý Bạch cũng đến đây, duy chỉ không đề thơ vì "đã
có bài của Thôi Hiệu trên đầu". Như vậy thì
lầu Hoàng Hạc vẫn sống động, nếu dịch thành "trơ"
e uổng quá. Và, trong bản dịch của mình, Nhật Chiêu
đã chuyển ngữ tứ thơ của Thôi Hiệu bằng những thần
thái mới.
Tất nhiên, giữa Mà nay Hoàng hạc
riêng lầu còn trơ và Bỏ hư không lại còn Hoàng hạc
lâu thì tôi chọn tứ của Nhật Chiêu hơn. Bởi nó đặt
lầu Hoàng hạc trong trơ trọi của hư không. Giữa
cái rỗng rang có một cá thể tồn tại, đây cũng là
ý Thử địa không dư Hoàng hạc lâu (đất này còn một
cái lầu Hoàng hạc trống không) của Thôi Hiệu.
Tuy nhiên, Đường thi chủ trương
ý tại ngôn ngoại, nên câu nguyên tác trên còn có
thể hiểu là: "giữa hư không, đất này còn lại
cái lầu Hoàng hạc". Và Nhật Chiêu đã khía vào
ý đó, để mạnh dạn chuyển ngữ hai câu đầu.
Nhưng đến phần dịch hai cặp thực,
luận của bài Hoàng hạc lâu thì ngòi bút Nhật Chiêu
mới thật là phóng túng tài hoa:
Hạc vàng mất hút thiên thu
Để ngàn năm trắng mây từ từ trôi
Câu thứ tư, không kể cái ý "không
du du" được chuyển thành "từ từ trôi"
một cách khéo léo trong việc dùng điệp từ để dịch
điệp từ, khi Nhật Chiêu dịch Để ngàn năm trắng mây
từ từ trôi cho Bạch vân thiên tải không du du là
một cấu tứ đặc biệt. Bởi nếu theo khả năng ngắt
nhịp lục bát của câu thơ dịch, thì "ngàn năm
trắng" ở đây có thể hiểu: "mây trắng ngàn
năm", hoặc "trắng cả ngàn năm" đều
được.
Khi Thôi Hiệu viết "bạch vân
thiên tải" thì chính cái áng "bạch vân"
ấy đã được Nhật Chiêu đưa sang làm hai vệt phản
ánh: mây trắng, là trắng cả không gian, nhưng nếu
là mây ngàn năm, thì mây ấy trắng cả thời gian.
Do vậy mà, Để ngàn năm trắng mây từ từ trôi là ý
phát triển của câu trên: Hạc vàng mất hút thiên
thu. Không còn hạc vàng, không còn người tiên, chỉ
có mây bay trắng cả trời và trắng cả ngàn năm.
Trong mạch dịch như thế, Nhật Chiêu
tiếp tục dùng điệp từ để dịch điệp từ trong câu:
Sông tình, cây Hán Dương tươi
Bờ Anh Vũ cỏ xanh ngời ngời xa.
“Phương thảo thê thê" được
dịch thành "cỏ xanh ngời ngời" như Nhật
Chiêu thì quả thật phải đợi đến thời nay, với tiết
tấu ngắt nhịp mới của thơ lục bát Việt Nam, Đường
thi mới được chuyển ngữ đến mức kỹ lưỡng như thế.
Và, dụng công của Nhật Chiêu còn
ở chỗ đóng lại ý thơ kết. Riêng hai câu thơ được
xem là bất hủ của Tản Đà: Quê hương khuất bóng hoàng
hôn / trên sông khói sóng cho buồn lòng ai thường
làm ngán ngại những ai muốn đặt bút dịch lại bài
Hoàng hạc lâu.
Nhưng Nhật Chiêu đã bám sát nguyên
tác mà thể hiện bằng sự đồng cảm của mình:
Quê hương đâu, bóng dương tà?
Trên sông khói sóng còn ta với sầu.
Nhật Chiêu xoáy vào cái ý Thôi Hiệu
vẫn đau đáu khi đặt ra hình bóng quê hương và hỏi
thẳng "hà xứ thị" ở chỗ nào - mà dịch
thành "quê hương đâu"? Vận dụng cách ngắt
nhịp ba trong câu thơ sáu chữ, hóa ra Nhật Chiêu
hỏi vào bóng dương tà.
Cũng như trong câu sau: Trên sông
khói sóng còn ta với sầu cũng chở được âm hưởng
buồn của kẻ tha hương. Tản Đà đã rất thần tình khi
dịch chữ "sử" trong "sử nhân sầu"
thành chữ "cho" trong câu mang ý nghi
vấn "cho buồn lòng ai". Nhưng trong khi
Tản Đà kết lại bài Hoàng hạc lâu bằng cái ý buồn:
"buồn lòng ai", hai câu kết của Nhật Chiêu
không chỉ buồn mà còn lại gom cả nỗi cô đơn làm
một: "còn ta với sầu".
Tất nhiên, để thực hiện ngần ấy
dụng công, Nhật Chiêu có chỗ cũng đành phải để câu
dịch "sót": Đó là chữ "tình"
trong câu Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ, đã
không dịch được, Nhật Chiêu tạm chuyển thành "sông
tình, cây Hán Dương tươi", "sông tình"
chính là "sông tạnh", nhưng dịch "tình
xuyên" thành "sông tình" thì chính
đó là chỗ "bất khả đắc" của việc dịch
vậy.
Dẫu sao, thêm một bản dịch có nhiều
chỗ đắt như thế, cũng khoan khoái lắm cho giới yêu
thơ, nhất là yêu nghệ thuật chuyển ngữ thơ Đường.
LAM
ĐIỀN

Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|