| 
Dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh -
chiếc cầu nối văn hóa Đông Tây (1)
Dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh -
chiếc cầu nối văn hóa Đông Tây (2 )
Hoàng Tiến
Người Việt
ta, từ ngàn xưa đã giao lưu với văn hóa Trung Hoa.
Những tư tưởng Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo từ
Trung Hoa truyền sang, đã chi phối sinh hoạt tư
tưởng của các nhà văn hóa Việt Nam nhiều thế kỷ.
Thơ Đường, thơ Tống, cùng những bộ tiểu thuyết đồ
sộ của thời Minh, thời Thanh (Tam quốc chí, Thuỷ
hử, Hồng lâu mộng, Tây du ký...) đã trở thành món
ăn tinh thần quen thuộc trong giới bút mực Việt
Nam. Một thời gian dài Việt Nam đã dùng chữ Hán
làm phương tiện biểu cảm những tư tưởng và tình
cảm của mình (trong công việc hành chính cũng như
công việc sáng tác).
Còn nền văn hóa phương Tây, ta chỉ mới làm quen
độ hơn trăm năm nay. Những người có công bắc chiếc
cầu nối để ta hiểu phần nào nền văn hóa phương Tây,
cũng như để người phương Tây phần nào hiểu nền văn
hóa Việt Nam, là lớp trí thức hồi đầu thế kỷ, mà
ông Nguyễn Văn Vĩnh là người đáng được ghi công
đầu.
I. Sơ qua về cuộc đời ông Nguyễn Văn Vĩnh
Ông Nguyễn Văn Vĩnh không xuất thân trong một gia
đình thế gia vọng tộc nào cả. Bố mẹ ông là nông
dân nghèo, ở làng Phượng Vũ, phủ Thường Tín (bây
giờ là huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây), vùng đồng
chiêm quanh năm nước ngập, đói, nên phải bỏ quê
ra thành phố kiếm ăn, ở nhờ nhà bà nghè Đại Gia
(tức ông nghè Phạm Huy Hổ) phố Hàng Giấy.
Ông sinh ngày 15/6/1882 tại số nhà 46 phố Hàng
Giấy, trong cảnh loạn lạc, vào lúc thành Hà Nội
bị quân Pháp đánh chiếm lần thứ hai, do Henri Rivière
chỉ huy, được hơn một tháng. Sau đó đã dẫn đến hiệp
ước Patenôtre (1884) buộc triều đình Huế ký nhận
đầu hàng, và Hà Nội trở thành đất nhượng địa của
thực dân Pháp.
Bố mẹ ông đông con, ông lại là con lớn, nên lên
tám tuổi, bố mẹ xin cho đi làm thằng nhỏ kéo quạt
ở trường thông ngôn của Pháp mới mở ở đình Yên Phụ
để đỡ gánh nặng cho gia đình. Cậu bé ngồi phía cuối
lớp kéo hai chiếc quạt nối liền nhau, vừa quạt mát
cho giáo viên vừa quạt mát cho học sinh là những
ông tú tài nho học thất thế quay ra học tiếng Pháp
để làm thông ngôn. Cậu cũng chăm chú nghe giảng,
cũng nói được và viết được tiếng Pháp, lại còn thông
thạo hơn nhiều học sinh lớn tuổi khác.
Hiệu trưởng là ông D’Argence thấy vậy, sau ba năm
mãn khóa, cho cậu thử thi tốt nghiệp. Lớp học có
40 học sinh, cậu đỗ thứ 12 khi mới 11 tuổi. Hiệu
trưởng đặc cách nhận cậu vào học chính thức, được
hưởng học bổng, để theo học khóa tiếp theo.
Nguyễn Văn Vĩnh được là học sinh chính thức lớp
thông ngôn tập sự ngạch tòa sứ khóa 1893-1895, và
đã đỗ thủ khoa lúc 14 tuổi, được tuyển đi làm thông
ngôn ở tòa sứ Lao Cai. Ông bắt đầu cuộc đời viên
chức vào tuổi còn vị thành niên như thế.
Sau thời gian ở tòa sứ Lao Cai, ông Vĩnh được thuyên
chuyển làm thông ngôn ở tòa sứ Hải Phòng. Bấy giờ
Pháp đang xây dựng tuyến đường sắt Hải Phòng - Lao
Cai. Rồi ông được chuyển làm thông ngôn ở tòa sứ
Bắc Giang (từ 1902-1905). Lúc này Pháp đang xây
dựng nhà máy giấy Đáp Cầu (1902) và tuyến đường
sắt lên Lạng Sơn đã hoàn thành (1894).
Viên công sứ Bắc Giang Hauser là một trí thức Pháp
đỗ cử nhân luật, đi học ngạch quan cai trị thuộc
địa. Thấy Vĩnh nói tiếng Pháp thành thạo, am hiểu
công việc văn thư, tự mình thảo được công văn và
báo cáo đủ các loại cho tòa sứ, lại viết được báo
tiếng Pháp và là cộng tác viên của tờ “Courrer d’
Haiphong” và tờ “Tribune Indochinoise” của Schneider,
Hauser liền đề bạt Vĩnh làm chánh văn phòng tòa
sứ, nâng lương vượt ngoài khung lương thông ngôn,
và giao cho các công việc đáng lẽ phó sứ phải làm,
mà phó sứ Eckert nguyên là nhân viên của sở mật
thám, không có trình độ văn hóa, không làm được.
Tòa sứ đặt ở Bắc Ninh, gần Hà Nội, nên các quan
chức Pháp thường xuyên qua lại. Ai muốn hỏi việc
gì, công sứ Hauser đều giới thiệu đến chánh văn
phòng và đều được giải đáp nhanh chóng, thỏa đáng
với đầy đủ chứng cứ rõ ràng.
Sau bốn năm làm việc, Hauser càng mến phục Vĩnh,
đi đâu cũng điều Vĩnh đi theo. Cho nên khi Hauser
được về làm đốc lý thành phố Hà Nội thì cũng điều
luôn Vĩnh về.
Khi toàn quyền Beau sang thay Doumer, chủ trương
mở mang học hành, lập các tổ chức y tế và hội thiện,
đốc lý Hauser được giao nhiệm vụ vận động và giúp
đỡ người Việt làm đơn và thảo điều lệ xin phép lập
các trường, các hội, đệ lên phủ thống sứ để duyệt.
Hauser giao toàn bộ công việc này cho ông Vĩnh.
Vì vậy Nguyễn Văn Vĩnh đã trở thành sáng lập viên
của các hội và các trường được lập ra thời bấy giờ.
Như: trường Đông Kinh nghĩa thục, Hội Trí Tri, Hội
dịch sách, Hội giúp đỡ người Việt sang Pháp học
v.v...
Một việc nữa của đốc lý Hà Nội được phủ thống sứ
giao bấy giờ là tổ chức và quản lý gian hàng Bắc
kỳ ở hội chợ thuộc địa mở ở Marseille (Exposition
colonial de Marseille). Hauser lại giao hết cho
ông Vĩnh, nào là làm đề án thu thập sản phẩm hàng
hóa để trưng bầy, nào là tuyển thợ đi sang Marseille
dựng gian hàng. Trần Trọng Kim được tuyển sang Pháp
trong cơ hội này, danh nghĩa là thợ khảm, sau hội
chợ được ở lại Pháp học đại học sư phạm.
Nguyễn Văn Vĩnh vừa đúng 25 tuổi được cử sang Pháp
dự hội chợ thuộc địa từ tháng 3 đến tháng 8/1906,
được tận mắt thấy nền văn minh của một nước tiên
tiến phương Tây.
Sau khi kết thúc hội chợ, ông Vĩnh được ở lại thêm
một tháng. Hauser đưa ông Vĩnh lên thăm Paris. Ông
đã đến thăm nhà in và báo “Revue de Paris”, nhà
xuất bản Hachette, nhà soạn và in từ điển Larousse,
tìm hiểu phong trào báo chí Pháp và nền dân chủ
Pháp.
Ông Vĩnh là người Việt Nam đầu tiên gia nhập Hội
nhân quyền Pháp.
Về nước, ông xin thôi ngạch quan chức, chuyển sang
làm báo và nghề in cùng với Schneider là kỹ sư ngành
in ký hợp đồng sang giúp chính quyền thuộc địa Pháp
ở Đông Dương. Hồi ấy người ta hay nói câu cửa miệng:
“La plus grande invention de l’homme c’est l’imprimerie”
(Nghề in là sự phát minh lớn nhất của loài người).
Ông Vĩnh quyết định bỏ búi tó và khăn xếp, bỏ áo
dài quần là, mặc áo quần Âu, đội mũ cát, tóc húi
cua, đi giầy da, lái xe môtô hiệu Terrot mang từ
Pháp về, và lấy bút danh là Tân Nam tử tức Người
Nam mới.
Ông là chủ bút các báo tiếng Việt đầu tiên dùng
chữ quốc ngữ như tờ Lục tỉnh tân văn, Đăng cổ tùng
báo, Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn và tờ
Học báo; chủ bút các báo tiếng Pháp như tờ Notre
journal, Notre revue và L’Annam nouveau; cùng làm
giám đốc nhà xuất bản Âu Tây tư tưởng.
Ông còn có chân trong hội đồng dân biểu Bắc kỳ
và hội đồng kinh tế tài chính Đông Dương, đã lên
tiếng bênh vực cho quyền lợi đồng bào trong đó có
quyền lợi của mình.
Đại hội đồng kinh tế tài chính Đông Dương (Grand
Conseil des Intérêts économiques et Financiers de
I’Indochine) họp ở Sài Gòn năm 1932, ông Vĩnh đã
thay mặt giới doanh nghiệp phản đối việc chuyển
đồng tiền Đông Dương từ ngân bản vị sang kim bản
vị [1].
Cuộc họp chưa xong thì ở Hà Nội đã có trát của
tòa án đòi tịch biên gia sản vì ông thiếu nợ. Ông
vay tiền nhà băng để kinh doanh, dựng tòa soạn báo
L’Annam nouveau, và nhà xuất bản Âu Tây tư tưởng
(dãy nhà hoành tráng nhưng lòng rất hẹp ở đầu phố
Hàng Gai chạy dài về phía Thủy Tạ, trông ra bồn
phun nước Bờ Hồ).
Vỡ nợ, ông phải đi sang Lào đào vàng, và chết vì
một cơn sốt rét ác tính, trong một chiếc thuyền
độc mộc, trên dòng sông Sêbăngghi, với một chiếc
quản bút trong tay, đang viết dở thiên ký sự bằng
Pháp văn đăng tải trên báo L’Annam nouveau: “Một
tháng với những người tìm vàng” (Un mois avec des
chercheurs d’or), ở tuổi 54, vào đúng ngày 1-5-1936.
Ông Vĩnh là người Việt Nam đã hai lần từ chối huân
chương Bắc đẩu bội tinh của chính phủ Pháp ban tặng,
và ông đã cùng với bốn người Pháp viết đơn gửi chính
quyền Đông Dương phản đối việc bắt giữ cụ Phan Chu
Trinh.
II. Hội dịch sách.
Ngày 26-6-1907 ở Hội Trí Tri Hà Nội, có hơn 300
người, vừa người Hà Nội vừa người ở các tỉnh về
họp, để lập Hội dịch sách. Ông Nguyễn Văn Vĩnh đã
đọc một bài diễn thuyết. Xin trích đoạn để độc giả
tham khảo, như sau:
“Trình các quan,
“Ở thế gian này, xem trong các nước, phàm nước
nào đã gọi là nước văn minh, là cũng có văn chương
riêng cả, tiếng nói thế nào, chữ viết như thế. Mà
cái văn minh người ta cũng ở đó mà ra, vì chữ có
là ảnh tiếng nói thì mới dùng để truyền bá hay đi
trong nước ai ai đều học được cả. Cách truyền tư
tưởng đi có hai cách: một là lấy miệng mà nói, thì
chỉ ai đứng nghe nói thì nghe được mà thôi, mà nói
xong nhời nói có nhẽ quên đi được. Một cách nữa
là nghĩ điều gì hay, làm ra sách thì tư tưởng truyền
đi được xa, mỗi quyển sách in ra nhiều người đọc
được, mà không đọc khi này, đọc khi khác, có nhãng
lại có thể đọc lại được (...)
(...) Có như thế thì tôi thiết tưởng bây giờ mà
muốn cho trí dân Annam chóng mở mang ra, thì phải
có sách bằng tiếng nôm. Nhưng trong nước ta bây
giờ, chưa có ai có tài mà làm được nên quyển sách
để dạy dân. Dẫu có học chữ ngoại quốc, mà hiểu được
một vài ý hay nữa, mà có làm ra sách mới, thì vị
tất đã có ai xem, vì cách tư tưởng của mình xưa
nay, huyến hồ viển vông, bây giờ nghe những nhẽ
mới cũng khó vỡ. Vậy trước khi xem được những sách
bắt chước ngoại quốc mà làm ra, thì dân phải đã
biết qua những ý nguyên ấy. Sau nữa lại còn một
nhẽ rằng: người ta không ai chịu ai, một người có
làm ra quyển sách bây giờ, những người xem cũng
không để vào tai, vì mình đã quen xưa nay chỉ học
sách của thánh. Có họa bây giờ, những người học
được các sách hay của ngoại quốc, mà cố đem tiếng
bản quốc dịch ra rõ được ít nào hay chút ấy, thì
người ta xem đến, dẫu không biết được hết nghĩa,
nhưng cũng vỡ được đại khái, khi đã có nhiều người
nghe phang phác được cái tư tưởng của người ta,
rồi lúc bấy giờ có mượn những tư tưởng ấy mà làm
ra sách nôm thì ta mới có nhiều người hiểu.
Vì nhẽ ấy, cho nên chúng tôi định lập ra Hội dịch
sách này.
Chắc rằng làm việc là việc bạc, vì bây giờ đem
sách người mà dịch ra tiếng bản quốc, nếu cứ dịch
cho đúng từng chữ thì xem không hiểu được. Tất phải
dịch lấy nghĩa. Lấy nhời nhẽ ta mà giải nhời nhẽ
người. Đến lúc thiên hạ xem hiển nhiên rồi, tất
có người rạch ròi muốn biết nghĩa thâm trầm thì
lại đem dịch lại, nhưng lúc bấy giờ dịch kỹ mới
có người hiểu. Chúng tôi cũng biết rằng sách dịch
ra bây giờ, đời sau là có người chê, nhưng có thế
mới gọi là tiến bộ, chúng tôi cũng sẽ thỏa lòng
rằng: mình đã có cắm nêu lên trước, cho nên mới
có kẻ theo hút sau.
“Các quan bây giờ mà giúp vào lập thành cho cái
Hội này, thì cái công đức các quan thực là to nữa.
Thực là đúc một quả chuông to, vì chuông này, đánh
một tiếng rồi kêu mãi, mà có tiếng chuông này rồi
mới nảy ra trăm nghìn tiếng khác liên thanh, tai
hậu thế lúc nào cũng được nghe tiếng hay. (...).
“(...) Còn nên dùng chữ nôm hay chữ quốc ngữ, thì
chắc các quan cũng nghĩ như chúng tôi: nước Nam
có muốn hòng một mai tiếng nói có thể nhiều tiếng
ra, tiếng nhiều vần thêm bớt vô cùng, thì phải dùng
một lối chữ có vần. Có nhiều ông đã nghĩ ra một
lối chữ mới, cũng chắp nét diệu lắm, nhưng hễ còn
dùng chữ một-vần-một, thì muôn đời tiếng nói không
rộng ra được. Cũng may! Dù khéo thế nào mặc lòng,
một thứ chữ một người đặt ra không ai chịu theo.
Vả chữ viết có in tiện, thì dùng mới tiện. Như lối
chữ quốc ngữ, thì có 25 chữ, sắp lại tiện mà chóng
lắm. Còn như cái chữ nôm của mình ngày xưa, thì
thực nên bỏ. Chữ phải có mẹo mực, chớ một chữ mà
đọc nhiều cách viết nhiều cách được, thì khó học
lắm.
“Bây giờ ta nên xét xem dịch thì nên dịch sách
gì trước.
“Điều ấy phải để tùy ý những người dịch, vì những
người đã có thể dịch được, tất học thức đã rộng,
dân Annam đương cần học gì tất cũng đã biết, bây
giờ chắc hẳn những điều cao kiến lắm, dân mình xưa
nay trí khôn chỉ là là mặt đất cũng chưa với đến
được. Chắc các ông vào việc dịch sẽ chọn những sách
phổ thông. Mỗi thứ phải có một ít, cách trí, bác
vật, hóa học, toán học, cơ khí học, thương mãi học
là điều cốt nhất.
“Lẽ tất nhiên trong hội các quan cũng nhiều người
ngoại thư cũng đã rộng, bây giờ dịch những sách
phổ thông thì cũng khí chán, nên xin thế nào cũng
có dịch một hai điều cao kiến như kinh tế học, chính
trị học. (...)
“(...) Còn như sách nho, vốn đạo Nho là gốc cách
ăn ở, gốc phong tục nước mình, ta nên giữ lấy, vì
trước khi bỏ một đạo hãng phải có sẵn đạo khác hay
hơn mà thế vào đã! Vả sửa lại thì sửa chớ việc chi
phải bỏ đạo Nho là đạo thực hay: kìa như sách nho
đã có mấy nghìn năm nay mà xem những ý mới Âu châu
bây giờ cũng nhiều ý không ra ngoài tứ thư ngũ kinh.
Sách thì hay nhưng học không hay cũng chỉ vì vụng
học. Giá bây giờ dịch ra tiếng nôm, mỗi bài chính
văn lại lấy nhời nhẽ nôm mình mà bàn cho kháp vào
thực sự thì có nhẽ hay. (...)
“(...) Những số tiền đóng, thì chúng tôi đã tính
chiếu theo số 1000 hội viên. Hễ được số ấy, thì
có thể mỗi tháng in được cho mỗi ông một quyển nhỏ
độ 120 trang, khổ Tân dân tùng báo, giấy cũng vậy.
“Nhược bằng không được số ấy, thì hội hãng sẽ in
thạch bản, xem tạm vài tháng, đến khi có đủ số hội
viên sẽ in bản sắt.
“Việc này lại còn có ích một chút nữa, là người
Annam bây giờ nhiều ông muốn mở nhà in, nhưng trước
khi mở một cái nhà in, phải chắc có việc làm đều,
tháng nào cũng có, mới mở được. Giá hội này của
ta thành, rồi về sau lại mở được vài cái nhật báo
nữa, thì nghề in có nhẽ mở mang ra được to”.
(Nguyễn Văn Vĩnh. Trích trong Đăng cổ tùng báo
số 813 và 814)
Chẳng cần phải phẩm bình gì nhiều nữa. Vạn sự khởi
đầu nan. Chúng ta chỉ còn biết cúi đầu bái phục
lớp cha ông đầu thế kỷ, vốn Tây học còn ít, công
việc thì mới mẻ, nhưng với tấm lòng cầu học, cầu
hiểu biết, muốn dân trí được nâng cao, đổi mới,
đã không quản ngại khó khăn ghé vai đảm nhận công
việc nặng nhọc xây chiếc cầu nối giữa hai nền văn
hóa Đông Tây.
III. Những công trình dịch thuật của ông
Nguyễn Văn Vĩnh
Ông Nguyễn Văn Vĩnh đã nói một câu bất hủ, hồi
ấy thường in ở các bìa sách do ông xuất bản. “Nước
Nam ta mai sau này hay dở cũng ở chữ quốc ngữ”.
Ông và lớp trí thức thế hệ ông đã làm cuộc cách
mạng chữ viết thành công hồi đầu thế kỷ. Chữ quốc
ngữ đã đánh bại chữ Hán và chữ Nôm trở thành chữ
viết của toàn dân tộc.
Những công trình dịch thuật của ông Vĩnh tạm thống
kê như sau:
1. Dịch từ Pháp văn sang Việt văn:
- Thơ ngụ ngôn của La Fontaine.
- Truyện trẻ con của Perrault.
- Truyện Gil Blas de Santillane của Lesage (4 quyển).
- Mai nương Lệ cốt (Manon Lescaut) của Abbé Prévost
(5 quyển).
- Ba người ngự lâm pháo thủ của A.Dumas (24 quyển).
- Những kẻ khốn nạn của Victor Hugo.
- Miếng da lừa của Balzac.
- Guy-li-ve du ký của J.Swift.
- Tê-lê-mặc phiêu liêu ký của Fénélon.
- Kịch của Molière (Trưởng giả học làm sang, Giả
đạo đức, Người bệnh tưởng, Người biển lận).
- Kịch của Lesage (Tục ca lệ tức Turcaret, 2 quyển).
- Truyện các danh nhân Hy lạp và La Mã của Plutarque.
- Rabelais của E.Vayrac.
- Đàn cừu của chàng Panurge của A.Vayrac.
Ngoài ra còn những bài dịch về Luân lý học và Triết
học yêu lược đăng tải nhiều kỳ trên Đông Dương tạp
chí.
2. Dịch từ tiếng Việt sang tiếng Pháp
- Kim Vân Kiều tân điển Pháp văn của thi hào Nguyễn
Du (đăng từng kỳ trên Đông Dương tạp chí và L’Annam
nouveau, sau này in thành sách).
3. Dịch từ chữ Hán sang tiếng Pháp
- Tiền Xích Bích (đăng trong Đông Dương tạp chí)
- Hậu Xích Bích (đăng trong Đông Dương tạp chí).
Ông Vĩnh xứng đáng là nhà quán quân trong công
việc dịch thuật ở nước ta hồi đầu thế kỷ. Trong
vòng 10 năm ông đã làm được một khối lượng dịch
thuật đồ sộ, ngoài ra còn viết báo, in sách, soạn
niên lịch thông thư, đề xuất những vấn đề cải cách
nông thôn, hôn nhân, xã hội v.v...
IV. Sơ bộ nhận xét
Nhận xét tổng quát: Xét về các nước ở châu Á và
Đông Nam Á tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa và
văn học phương Tây, thì nước ta thuộc diện sớm nhất
và biến chuyển nhanh nhất. Thực vậy, chỉ kể một
giai đoạn từ 1925-1945, khỏang độ hai chục năm trời,
đã nở rộ những trào lưu cùng các loại hình văn học:
thơ mới, văn học lãng mạn, văn học hiện thực, văn
học cách mạng, kịch nói, kịch thơ, văn triết học,
văn chính luận, văn khảo cứu, v.v... mà ở phương
Tây, như nền văn học Pháp tiêu biểu, cũng phải đi
mất hàng trăm năm. Những loại hình nghệ thuật chữ
nghĩa ấy đều được viết bằng chữ quốc ngữ ngày càng
chính xác, trong sáng, tế nhị và uyển chuyển.
Phép lạ gì làm chúng ta rút ngắn được thời gian
như vậy? Nhờ giao lưu văn hóa. Mà cái cầu để nối
nhịp giao lưu là công việc dịch thuật.
Sau đây xin được kể công cho ông Nguyễn Văn Vĩnh,
với vị trí một dịch giả, đã làm cái công việc khai
phá giới thiệu các loại hình văn học phương Tây
hồi đầu thế kỷ còn quá xa lạ đối với người Việt
Nam lúc bấy giờ. Tất nhiên là có nhiều người khác
cùng làm công việc này, họ rất đáng được ghi công.
Nhưng mong có dịp khác sẽ được đề cập đến.
1. Thơ Pháp. - Thơ Pháp được giới thiệu trên báo
chí Việt Nam, sớm nhất, nếu không lầm, là bài “Con
Ve và con Kiến” của La Fontaine, vào năm 1907, in
trên Đăng cổ tùng báo, hồi ấy còn gọi là thơ “dĩ
vật giáo nhân” (lấy vật dạy người). Thoạt đầu ông
Nguyễn Văn Vĩnh đã chuyển dịch sang thể lục bát,
là lối thơ truyền thống của Việt Nam. Bảy năm sau
ông dịch lại, theo đúng điệu Tây vần Tây đăng trên
Đông Dương tạp chí năm 1914.
Tại sao ông lại làm thế? Theo ý chúng tôi, hẳn
là ông muốn giới thiệu một lối thơ của phương Tây
với quốc dân đồng bào. Các thể loại thơ nước ta
cho đến lúc ấy, thường chỉ quen làm theo lối lục
bát hay song thất lục bát truyền thống Việt Nam,
hoặc lối Đường luật hay Cổ phong là theo các lối
của thơ Trung Quốc. Bây giờ được biết một lối thơ
khác hẳn của một nền văn minh khác hẳn. Chính nó
là những con suối khơi mạch tạo nên dòng chảy cho
con sông thơ mới giai đoạn 1930-1945 của thơ ta
sau này. Âm điệu thơ là lạ, vần chân liền hoặc cách
quãng, với số chữ so le. Bản dịch bám rất sát nguyên
bản, cả từ và điệu. Cho đến nay vẫn chưa có bản
dịch nào vượt được bản dịch của ông Vĩnh hồi đầu
thế kỷ.
Xin công bố cả hai bản dịch để bạn đọc tiện so
sánh.
Nguyên bản tiếng Pháp:
La Cigale et la Fourmi
La Cigale, ayant chanté
Tout l’été,
Se trouva fort dépeurvue
Quand la bise fut venue;
Pas un seul petit morceau
De mouche ou de vermisseau.
Elle alla crier famine
Chez la Fourmi sa voisine,
La priant de lui prêter
Quelque grain pour subsister
Jusqu’ à la saison nouvelle.
“Je vous pairai, lui dit-elle,
Avant l’out, foi d’animal,
Intérêt et principal”.
La Fourmi n’est pas prêteuse;
C’est là son moindre défaut.
“Que faisiez-vous au temps chaud?
Dit-elle à cette emprunteuse,
- Nuit et jour, à tout venant,
Je chantais, ne vous déplaise.
- Vous chantiez? j’en suis fort aise
Et bien! dansez maintenant.
Bản dịch lục bát 1907;
Truyện con Ve và con Kiến
Trên cây có một con Ve
Hát hết mùa hè mùa lạnh kiết so
Bắc phong càng thổi càng lo
Ruồi, sâu bọ hết, ăn nhờ vào đâu?
Âu là đành phận đem đầu
Chạy sang chị Kiến kêu cầu lân bang
Nhờ bà hàng xóm lòng thương
Cho vay dăm hạt thóc lương trợ thì
Khi nào hết lạnh sang hè
Lại xin đem nộp lãi lờ phân minh
Nhược bà có bụng nghi tình
Xin thề Giời Phật chứng minh việc này.
Kiến bà tính ghét mượn vay
Trong nghìn thói độc, thói này nhỏ nhen
Lắc đầu rồi lại còn chèn
Lúc trời nắng ráo anh em làm gì?
Ve rằng tôi ngâm phú thi
Đêm ngày nhai nhải, cái gì cũng ngâm.
Kiến bà chúa tệ độc tâm
Đáp rằng xưa hát, nhẩy đầm nay coi!
Bản dịch điệu tây văn tây 1914:
Con Ve và con Kiến
Ve sầu kêu ve ve,
Suốt mùa hè.
Đến kỳ gió bấc thổi,
Nguồn cơn thật bối rối.
Một miếng cơm chẳng còn,
Ruồi bọ không một con.
Vác miệng chịu khúm núm
Sang chị Kiến hàng xóm,
Xin cùng chị cho vay,
Dăm ba hạt qua ngày.
“Từ nay sang tháng hạ,
Em lại xin đem trả.
Trước thu, thề Đất Giời!
Xin đủ cả vốn lời”.
Tính Kiến ghét vay cậy,
Thói ấy chẳng hề chi.
“Nắng ráo chú làm gì?
Kiến hỏi Ve như vậy.
Ve rằng:- Luôn đêm ngày,
Tôi hát, thiệt gì bác.
Kiến rằng: - Xưa chú hát!
Nay thử múa coi đây”.
Đọc tiếp

|