Liên hệ

 
 


 

 

Elfriede Jelinek: Ở giữa âm nhạc và văn chương

Elfriede Jelinek được Viện Hàn lâm Thụy Điển tôn vinh vì “làn sóng âm các giọng nói đan xen trong tiểu thuyết và tác phẩm sân khấu”. Bà là nhà văn nữ thứ mười được giải Nobel văn học, tiếp sau Wislawa Szymborska vào năm 1996. Giải Nobel năm nay cũng là một cách đề cao nền văn học Trung Âu kỳ vĩ nhưng có phần bị chìm lấp, sau những Nobel của Jaroslav Seifert (Tiệp Khắc) và Imre Kertész (Hungary)

Thành phố Vienne xinh đẹp là cái nôi văn hóa lớn của cả vùng Trung Âu. Hai tòa lâu đài Belvedere và Schoenbrunn cộng với cung điện Hofburg là những niềm tự hào kiến trúc của thành phố, nhưng đáng kể hơn cả là những công trình văn hóa, những dấu tích của những con người vĩ đại từng sống ở nơi đây. Ở Vienne có thể dễ dàng tìm thấy nhà thờ Thánh Stefan nơi Mozart từng làm lễ cưới, nhà của Schubert, của Freud, nhà hát Burgtheater - nơi tất cả các nhà viết kịch lớn đều đã thử sức. Cho nên cũng không lạ khi dù sinh ra ở Muerzzuschlag miền Đông Bắc nước Áo (vào năm 1946), Jelinek đã bị Vienne cuốn hút, đến đây từ trẻ và đã thực sự trở thành “công dân thành Vienne” theo đúng nghĩa, dù sau này cuộc sống của bà chia làm hai nửa giữa Vienne và Munich (Đức).

Khởi đầu từ thơ.- Thoạt tiên Jelinek theo học ngành âm nhạc. Sau khi lấy bằng âm nhạc vào năm 1964, bà theo học kịch nghệ và lịch sử nghệ thuật ở Đại học Vienne trong khi vẫn tiếp tục theo đuổi con đường âm nhạc. Năm 1971 bà nhận bằng về trình diễn đàn organ tại nhạc viện.

Jelinek bước vào văn chương với thơ, từ khi còn rất trẻ, nhưng tiểu thuyết mới làm nên danh tiếng của bà, trong đó nổi tiếng hơn cả là Những người tình nữ (1975), Những kẻ bên lề (1980) và Cô giáo dương cầm (1983).

Sau Naipaul và Coetzee, thêm một lần nữa giải Nobel Văn học được trao cho một nhà văn chuyên miêu tả bạo lực, thể hiện thế giới dưới cái nhìn đầy bấp bênh, lúc nào cũng chừng như oằn xuống vì tội lỗi và mặc cảm. Nhưng khác với hai nhà văn kia, những người nhìn vấn đề chủ yếu dưới khía cạnh chính trị và sắc tộc, Jelinek đào sâu vào khía cạnh gớm ghiếc của các ngành giải trí, bất công trong xã hội và bất bình đẳng về giới.

Trong bài nói chuyện với Yasmin Hoffmann, dịch giả tiếng Pháp của bà (thực hiện năm 1989) xung quanh tiểu thuyết Những kẻ bên lề, Jelinek cho biết bà thường lấy cảm hứng cho tác phẩm của mình từ các tin vặt đăng trên báo. Những kẻ bên lề lấy lại tin vụ phạm tội của một nhóm thanh niên còn rất trẻ vào năm 1965. Bà biến mẩu tin vặt thành một tác phẩm, đi những nhát cắt mạnh mẽ hé lộ cuộc sống của một tuổi trẻ nổi loạn, của màu sắc bạo lực bao trùm lên nước Áo sau thế chiến thứ II. Bà coi các cuốn sách của mình như là những “xú páp qua đó thứ hơi nước nóng bỏng của bạo lực, của sự tàn ác trong xã hội có đường bay thoát ra”. Trong cuốn Những kẻ bên lề đó, thông qua việc miêu tả một gia đình đầy tội lỗi của nhân vật chính Rainer, kẻ cầm đầu băng đảng, bà cũng ngoái nhìn lại chính gia đình của mình. Bà tự coi mình đồng hóa với Rainer, chỉ khác một điều là bà được giải thoát nhờ văn chương.

Ngoài sáng tác, Jelinek còn là dịch giả của một số nhà văn nước ngoài như Thomas Pynchon, Georges Feydeau và Christopher Marlowe. Bà cũng viết kịch bản phim và viết nhạc.

Jelinek giữa dòng văn học Áo.- Sinh ra sau chiến tranh, nhưng thế hệ của Jelinek phải hứng chịu gần như toàn bộ sức nặng của cuộc chiến mà nước Áo là một trong những kẻ bại trận. Gần như cùng thời với thế hệ AYM (Angry Young Men – những người trẻ tuổi nổi giận) ở nước Anh, giới trẻ Áo hoang mang sau khi những giá trị cũ sụp đổ mà những giá trị mới chưa được hình thành, giữa bóng ma của chủ nghĩa phát xít còn chưa mất hẳn đi và những đe dọa của chủ nghĩa tiêu dùng đang tiến lại gần. Ngổn ngang giữa đống đổ nát, họ đã làm nên một tuổi trẻ đầy chất phản kháng nhưng cũng vô cùng bế tắc. Những di chứng đó để lại không ít trong các tác phẩm của không những Jelinek mà còn của Thomas Bernhard hay Peter Handke. Nhưng cũng còn cần nhìn nhận nền văn học đương đại Áo trong dòng chảy lịch sử sâu sắc hơn, một dòng chảy lấp lánh không ít những viên ngọc quý của văn chương thế giới.

Khó có thể nói là văn học Áo được nghiên cứu rộng rãi ở Việt Nam. Chúng ta thường đồng nhất nền văn học đó với một cái tên duy nhất: Stefan Sweig, trong khi trước, cùng thời và sau Sweig, nước Áo đã sản sinh không ít tài năng văn chương. Hành khúc Radetzky của Joseph Roth, Người không phẩm chất của Robert Musil được hầu khắp các nhà phê bình coi là kiệt tác của văn chương thế giới, các nhà thơ như Georg Trakl và Hugo von Hofmannsthal là những gương mặt không thể bỏ qua khi nghiên cứu thi ca hiện đại châu Âu. Ngay bản thân Jelinek cũng hay được so sánh với hai nhà văn lớp trước là Karl Kraus và Thomas Bernhard, một là tác giả vở kịch dài 20 tiếng mang tên Những ngày cuối của nhân loại, còn người kia là tượng trưng cho tinh thần phản kháng trong văn chương, cộng với lối nói cay độc khiến nhiều khi người ta phải phát sợ.

Cũng lạ là cho đến giờ Áo mới giành được giải Nobel Văn học đầu tiên cho mình.

Tiểu sử: E. Jelinek sinh năm 1946 tại Stryia. Năm 1967 xuất bản tập thơ Lisas Schatten. Thập niên 1970 bà tham gia phong trào sinh viên châu Âu, cho ra đời tiểu thuyết châm biếm Bé con, chúng ta là những con mồi; tiếp đó là nhiều tác phẩm nổi tiếng: Cô giáo dương cầm, Những thời đại diệu kỳ, thật kỳ diệu...

Cao Việt Dũng (từ Paris)

.

Thiên cổ đoạn trường kim nhất tục.
Phiếm Đàm tòng thử kế Thừa sai.

Tìm kiếm tin đã đưa
Liên kết website






 

 

 

 

 

 

ĐIẠ CHỈ: WWW.HAINGOAIPHIEMDAM.COM.

EMAIL: HAINGOAIPHIEMDAM@YAHOO.COM

|Tại sao?| Lượm lặt | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu|Hỏi&Đáp| Thơ cay |Tiểu phẩm|Thư tín|TRÁI TIM HỒNG|CHĂN GỐI | Rừng cười |Góc tối|MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn| | Nhân vật |Đó Đây|KINH TẾ | Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ Đọc Truyện