| 
Các
lý thuyết mới về văn hóa
Dominique
Guillot
Giải
thích các quy tắc xã hội, các ý tưởng, cái tưởng
tượng... từ lý thuyết tiến hóa, đó là mục tiêu của
các mô hình Darwin mới về văn hóa. Một số lý thuyết
ấy đem lại một tính độc lập cho văn hóa đối với
những bó buộc của tự nhiên.
Đạo
đức, quyền lực, tình yêu, tôn giáo, những liên hệ
xã hội hoặc cả văn hóa nữa, liệu chúng ta có thể
được giải thích bằng sự tiến hóa kiểu Darwin, nghĩa
là nhắc lại sự chọn lựa tự nhiên và các cơ chế di
truyền, không? Đối với câu hỏi tế nhị và nhạy cảm
ấy, nhân học và xã hội học ở thế kỷ XX rất thường
hay trả lời theo lối tiêu cực. Từ đầu thế kỷ, các
khoa học xã hội thật ra đã phát triển chung quanh
ý tưởng cho rằng cái riêng của con người là ở chỗ
tự giải thoát phần lớn khỏi những bó buộc tự nhiên
để đi vào thế giới của văn hóa: nhờ ở ngôn ngữ,
kỹ thuật, trí tuệ, tính phức hợp về tổ chức xã hội,
hay cả ở sự cấm đoán loạn luân. Một đường ranh giới
như vậy là đã được ngầm vạch ra giữa các khoa học
tự nhiên và khoa học xã hội; một bên là tự nhiên,
trong đó các quy luật sinh học chi phối; bên khác,
văn hóa và các xã hội người bị điều khiển bởi những
động thái độc lập.
Từ
những năm 70, các lý thuyết Darwin mới về văn hóa
đã tìm cách bác bỏ sự chia cắt ấy. Chúng đề xướng
áp dụng những lô gích của tiến hóa vào những hiện
tượng xã hội và văn hóa. Những ý định này đã gây
ra những cuộc tranh luận sôi nổi. Các tác giả của
chúng thường bị lên án mắc phải “chủ nghĩa quy vào
sinh học” (réductionnisme biologique) và phủ nhận
mọi sự độc lập đối với văn hóa người. Cuộc tranh
luận ngày càng triệt để giữa những người chủ trương
“tất cả đều là sinh học” và “tất cả đều là văn hóa”
làm cho người ta hiểu rõ hơn những lập trường hiện
có. Các lý thuyết Darwin mới khá thường khi được
mô tả như những biến thể của một khối học thuyết
thuần nhất, chủ yếu tập trung vào ý tưởng quyết
định luận di truyền. Thế nhưng, đằng sau việc quy
chiếu chung vào những lý giải đương thời của Darwin,
những mô hình giải thích ấy vẽ nên một tập hợp khá
rộng, trong đó người ta thấy, bên cạnh những luận
điểm theo thuyết quy vào sinh học và hoàn toàn đối
lập với chúng, là những lý thuyết quay chung quanh
ý tưởng về một sự độc lập hoàn toàn của văn hóa
con người đối với gien. Trong tập hợp ấy, có thể
rút ra ít nhất bốn mô hình tiêu biểu lớn: 1) sinh
học xã hội về con người stricto sensu; 2) lý thuyết
về các “men” (xem sự giải thích dưới đây - N.D)
do Richard Dawkins xây dựng; 3) các lý thuyết về
sự cùng tiến hóa gien / văn hóa; 4) và cuối cùng,
các lý thuyết nhân học lấy cảm hứng từ các khoa
học nhận thức.
Sinh
học xã hội về con người
Sinh
học xã hội (sociobiologie) về con người xuất hiện
trong cảnh tượng trí tuệ phương Tây giữa những năm
70, dưới sự thúc đẩy chủ yếu của nhà côn trùng học
Edward O. Wilson. Lý thuyết đó được xây dựng như
sự kéo dài của sinh học xã hội động vật (sociobiologie
animale). Nó là sự mở rộng từ chủ nghĩa Darwin ra
sự giải thích những ứng xử xã hội, như sự vị tha
thường thấy trong thế giới sinh vật, có thể quan
sát trong thế giới sinh vật.
Sự
tận tụy đối với kẻ khác, như sự tận tụy của những
con ong không sinh đẻ hiến toàn bộ năng lượng của
mình cho việc tái sinh và bảo vệ con ong chúa, vẫn
là một bí ẩn từ thời Darwin: giải thích như thế
nào về những ứng xử rõ ràng là bất lợi đối với những
cá thể lẽ ra có thể được giữ lại bởi sự chọn lọc
tự nhiên? Đầu những năm 60, nhà di truyền học William
Hamilton đưa ra giải pháp cho bí ẩn ấy qua lý thuyết
“chọn lọc họ hàng” (kin selection). Nói một cách
đơn giản, lý thuyết này cho rằng một ứng xử vị tha
đối với một thành viên họ hàng (chẳng hạn, đối với
những con kiến thợ, sự chăm sóc những ấu trùng do
kiến chúa đẻ ra), trong một số trường hợp, có thể
là một ứng xử thích nghi: khi chăm sóc những con
chị em nhỏ của nó - có chung với nhau đến ba phần
tư di sản di truyền-, con kiến không đẻ bảo đảm
sự lan truyền một phần quan trọng những gien của
nó, trong khi vẫn trực tiếp sinh đẻ theo con đường
hữu tính.
Trong
cuốn Sociology (1975), E.O. Wilson đã tập hợp và
tổng hợp cả một loạt công trình “nghiên cứu những
cơ sở sinh học của ứng xử xã hội ở động vật cũng
như ở con người” (1). Dù nói tới việc săn mồi tập
thể ở sư tử hay chó sói, những liên hệ tôn ti trật
tự ở gà mái, những ứng xử họ hàng và tính dục ở
các loài chim và động vật có vú, E.O. Wilson cố
chứng minh rằng những hành vi xã hội có thể được
giải thích theo lối thích nghi. Chẳng hạn, việc
các con cái bỏ công chăm sóc con của chúng nhiều
hơn các con đực ở phần lớn các loài động vật chính
là do việc đẻ ra một quả trứng cần tới sự đầu tư
sinh học lớn hơn việc sản sinh ra một tinh trùng.
Những ứng xử đực và cái ở động vật có lẽ là hai
chiến lược thích nghi khác nhau, nhưng đều có hiệu
quả như nhau: chiến lược của con đực là dành tất
cả những nỗ lực của mình nhằm nhân lên những tế
bào tính dục và làm chúng lan rộng ra đến mức có
thể, bằng cách chi phí một lượng năng lượng tối
thiểu cho sự phát triển của con cháu chúng thoát
thai từ các tế bào ấy; còn chiến lược của các con
cái là sản sinh ra ít tế bào tính dục nhưng đem
lại mức tối đa cho những cơ may phát triển và sống
sót của mỗi tế bào đó, nhất là không tiếc sức chăm
sóc sự lớn lên của chúng. Trong chương cuối của
cuốn sách gây tranh luận ấy, E.O. Wilson muốn chuyển
lô gích của Darwin vào cả một lớp hiện tượng của
con người: hôn nhân, đạo đức, tôn giáo, nghi thức,
đổi chác, phân công lao động đàn ông / đàn bà. Vì
thế, trong mắt ông, các chuẩn mực xã hội (các quy
tắc đạo đức, việc tránh loạn luân, hôn nhân và thân
tộc) là biểu hiện những thiên hướng sinh học ăn
sâu vào các gien con người. Các thiên hướng di truyền
ấy, mà trung tâm của chúng chủ yếu nằm ở hệ rìa
của não, có lẽ đã được chọn lựa ở tổ tiên thuộc
thế pleistocene của chúng ta (2), do những ưu thế
chúng mang lại. Những sự phê phán đối với sinh học
xã hội về con người không chỉ đến từ các nhà khoa
học hay trí thức đối nghịch với những luận điểm
động vật học của E.O. Wilson. Từ đầu những năm 70,
một số nhà tập tính học theo phái Darwin mới không
muốn mở rộng những kết luận của họ ra con người.
Tuy vậy, một bộ phận trong số đó vẫn tin chắc rằng
chủ nghĩa Darwin còn có giá trị để giải thích những
hiện tượng xã hội và văn hóa con người, nhưng dưới
một hình thức ngược hẳn lại với thuyết quyết định
sinh học do sinh học xã hội về con người đề xướng.
Với việc lấy lại và cập nhật hóa một ý tưởng khá
cũ, được các nhà tâm lý học như Donald T. Campbell
hay vài nhà di truyền học như Luca Cavalli-Sforza
ủng hộ cũng vào thời đó, các nhà nghiên cứu này
đã chủ trương luận điểm cho rằng nguyên lý chọn
lọc hay tiến hóa vẫn còn hoàn toàn thích hợp với
việc giải thích những hiện tượng của con người,
nhưng chỉ dùng nó như một sơ đồ trừu tượng cho phép
hình thức hóa động thái văn hóa bằng loại suy.
Các
“men” chống lại các “gien”
Nổi
tiếng nhất trong các cấu trúc lý thuyết ấy chắc
chắn là lý thuyết về các “men” do nhà tập tính học
Anh R. Dawkins đề xướng vào những năm 70 và ngày
nay được lấy lại, nhất là bởi nhà triết học Mỹ D.C.
Denneth. Trong cuốn sách được coi như một cột mốc,
Gien vị kỷ, Dawkins (3) nhấn mạnh rằng ý tưởng cách
mạng của chủ nghĩa Darwin là ở chỗ coi sự tiến hóa
như một quá trình đi xuống có thay đổi, hay có thể
nói, việc sao chép có những đột biến (4). Nhà tập
tính học Anh nói rõ rằng các gien là những đơn vị
sống lâu dài có khả năng tạo ra những sự sao chép
trung thành với chính bản thân chúng, hoặc do sự
tái sinh sản, hữu tính hay không, những cơ thể mang
theo chúng, hoặc bằng những cách khác, đặc biệt
là những ứng xử xã hội do chúng đẻ ra trong những
cơ thể ấy. Những cơ thể sinh học, vì thế, chỉ là
những cái máy được các gien sử dụng để chúng tự
tái sinh sản. Nhưng, giống như trong mọi quá trình
sao chép, những bản sao ấy có những sai lầm: đó
là những đột biến tạo ra những gien mới. Một số
gien mới ấy có thể sản sinh ra nhiều bản sao hơn
những gien khác. Lúc đó, chúng trở thành những gien
chiếm ưu thế về mặt thống kê trong quần thể gien
mà chúng phải cạnh tranh. Đôi khi chúng bị thất
bại về sự sao chép và biến mất.
Theo
R. Dawkins, các gien chỉ là một ví dụ trong nhiều
ví dụ sao chép khác. Cơ chế tiến hóa, như đã được
mô hình hóa trong chủ nghĩa Darwin, vượt ra ngoài
giới hạn những hiện tượng sinh học, nó cũng chỉ
huy cả động thái văn hóa. Văn hóa của mỗi nhóm người
có thể được mô tả, theo R. Dawkins, như một tập
hợp những đơn vị mà ông muốn gọi là các “men” (menes)
- có thể nói là chúng tạo thành những ý tưởng cơ
bản của một nền văn hóa. Một men - có lẽ Thượng
đế muốn thế - là một thực đơn, một ca khúc, một
ý kiến bài ngoại, một adagio của Mozart, một định
lý toán học... Các men được truyền từ bộ não này
đến bộ não khác bằng cách tự sao chép, giống hệt
như các gien trong tiến trình tái sinh sản. ở đây,
sự sao chép chủ yếu được thực hiện bằng cách bắt
chước kẻ khác, theo nghĩa rộng. Những gien văn hóa
tốt như vậy cư trú trong các quần thể người. Do
đó, các men truyền từ bộ não này sang bộ não khác
giống như những vi khuẩn trong một quá trình dịch
tễ. Nhưng giống như đối với các gien cũng truyền
đi bằng cách sao chép, đôi khi cũng có những cái
hỏng trong quá trình sao chép. Và sự sao chép bị
thay đổi ấy kết thúc bằng việc sản xuất ra một bản
sao đột biến: một tu sĩ thời trung đại quên mất
hay thay đổi một câu trong khi chép lại một cuốn
sách cổ; một chính phủ cho bỏ phiếu về một sự sửa
đổi trong một đạo luật; một người thay đổi một chữ
trong điệp khúc một bài hát; hoặc nữa, một kẻ nào
đó thực hiện một cải tiến kỹ thuật trong động cơ
ôtô hay thay đổi cách cắt một bộ áo quần. Thường
thì các men đột biến không tự chúng đi tới chỗ sản
sinh ra các bản sao: nói cách khác, không ai bắt
chước chúng cả. Nhưng trong một số trường hợp, khi
nhảy từ bộ não này sang bộ não khác, chúng lan ra
cả quần thể, đôi khi theo lối thoáng qua - như các
mốt thời thượng -, còn những lần khác thì lại theo
lối vững bền - như “men Thượng đế” chẳng hạn. Theo
nghĩa đó, các men cũng như các gien là đối tượng
của một quá trình chọn lọc. Các men có thể thay
đổi cơ may lan truyền của chúng bằng cách liên kết
với nhau, tạo thành những phức hợp tích hợp có thể
sao chép lẫn nhau có hiệu quả hơn là chúng ở cách
xa nhau. Chẳng hạn, ý tưởng về ngọn lửa địa ngục
và về Thượng đế, một khi chúng liên kết nhau, thì
chúng càng củng cố lẫn nhau một cách mạnh mẽ hơn
và làm tăng thêm những khả năng thích ứng với quần
thể, giống hệt như các gien chỉ huy một sự gắn kết
mật thiết của răng, hàm, dạ dày, ruột và các giác
quan.
Trong
lý thuyết về các men, văn hóa người hiện ra như
một trung tâm tiến hóa độc lập, tách khỏi sự tiến
hóa sinh học và nhanh hơn nhiều. Những kẻ sao chép
văn hóa, chẳng hạn như ý tưởng độc thân, cũng đối
lập với các gien. Theo nghĩa đó, lý thuyết do R.
Dawkins đề xướng đối lập với mọi hình thức của thuyết
quyết định sinh học hay của thuyết quy vào sinh
học trong sự giải thích những hiện tượng văn hóa.
Sự
cùng tiến hóa gien / văn hóa
Chính
trong nhân học, những lý thuyết này cho đến nay
đã dành được những thành công lớn, nhất là qua mô
hình truyền thụ những đặc điểm văn hóa của L. Cavall-Sforza
và Marcus W. Fedman, và mô hình tiến hóa của các
cơ thể văn hóa do Robert Boyd và Peter J. Richerson
đề xướng. Trong môn khoa học này, những suy nghĩ
lý thuyết xung quanh sự loại suy giữa các gien và
các tác nhân sao chép văn hóa dần dần hướng tới
việc xây dựng một lý thuyết tổng thể về văn hóa,
bằng cách hợp nhất hai trình độ phát triển. Hai
xu hướng chính hiện lên trong những mô hình hóa
về sự cùng tiến hóa gien / văn hóa.
Xu
hướng thứ nhất, do E.O. Wilson đại diện trong những
năm 80, hơi cách xa với sinh học xã hội để bảo vệ
một lý thuyết trong đó văn hóa, ít ra về nguyên
tắc, không còn bị quan niệm như một biểu hiện đơn
giản của những thiên hướng sinh học nữa, mà như
một loại hiện tượng tương đối độc lập, tác động
qua lại với các gien trong một quá trình cùng tiến
hóa. ý tưởng chung của sự cùng tiến hóa gien / văn
hóa, theo cách hiểu của E.O. Wilson, có thể tóm
tắt như sau: sự chọn lọc tự nhiên giúp cho các gien
mang một số năng lực có được những ứng xử văn hóa
(năng lực tập việc, sáng tạo công cụ, nắm được ngôn
ngữ, hành vi xã hội, v.v...). Các văn hóa người
phát triển từ cái vốn năng lực ấy (được chương trình
hóa về di truyền) sẽ ảnh hưởng trở lại tới sự chọn
lọc những gien mang theo những ứng xử ấy (5). Ông
đưa ra ví dụ sau đây. Sợ hãi và bị thôi miên trước
những con rắn một phần là do một bản năng bẩm sinh
ở phần lớn động vật có vú. ở con người, việc truyền
sự sợ hãi ấy hình thành bởi sự chuyển tiếp văn hóa
cũng như bởi bản năng “nhiều xã hội đã xây dựng
các huyền thoại về rắn như kẻ đại diện cho cái ác.
Việc tiếp thụ “gien văn hóa” sợ rắn ấy đã đẩy người
ta chạy trốn khỏi rắn, còn những xã hội có các “gien
văn hóa” được coi là tốt như thế thì có cơ may sống
còn của họ nhiều hơn. Như vậy, đã có một sự cùng
tiến hóa giữa gien / văn hóa. Tuy nhiên, ngay cả
khi văn hóa can thiệp vào quá trình chọn lựa các
năng lực, xét đến cùng nó cũng chỉ là cái chuyển
tiếp hay gia tốc sự tiến hóa hơn là động cơ thật
sự của nó. Rốt cuộc, những hành vi và tín ngưỡng,
nói cách khác là văn hóa, vẫn chịu sự kiểm soát
của các gien: “các gien dắt mũi văn hóa”, E.O. Wilson
nói.
Xu
hướng thứ hai quy tụ những nhà nhân học tuy đồng
ý có một sự độc lập thực sự của văn hóa, nhưng lại
cố dựng lên một sự phân loại về những liên hệ có
thể có giữa các gien và các đơn vị văn hóa - hay
các men - và đề xướng những nghiên cứu kinh nghiệm
để minh họa cho những mô hình được xây dựng như
vậy. Đặc biệt, nhà nghiên cứu Mỹ William H. Durham
đã phân biệt hai hình thái lớn (6): một mặt, những
phương thức liên hệ gien / văn hóa trong đó sự tiến
hóa văn hóa tác động và phản ứng lẫn nhau, như trong
trường hợp ăn sữa ở người lớn (đa số đến tuổi trưởng
thành không thể tiêu hóa sữa được, chứng tật này
thấy rõ chủ yếu ở những nước không có truyền thống
tiêu dùng những sản phẩm sữa); mặt khác, những hoàn
cảnh trong đó văn hóa thay đổi chủ yếu dưới ảnh
hưởng của động thái của chính nó.
Theo
W.H. Durham, phải phân biệt ba trường hợp trong
tập hợp nhỏ thứ hai này: “sự tăng cường” động thái
văn hóa do động thái di truyền - mà sự tiến hóa
văn hóa của cấm kỵ và loạn luân, dưới con mắt của
nhà nhân học Mỹ này, là ví dụ rõ nhất -, sự “trung
tính” và, cuối cùng, sự “đối lập” - mà người ta
có thể quan sát một cách đặc biệt ở người Fore tại
Nouvelle Guinée. Những tập quán ăn thịt người, được
khuyến khích về mặt văn hóa trong xã hội Fore, đã
lan sang các nhóm khác cũng ở trong xã hội đó, khiến
cho một chứng bệnh tâm sinh lý gây chết người -
bệnh kuru, một dạng thể cũ của bệnh bò điên - từng
giết hại khá đều đặn một phần dân cư. Từ đầu năm
80, một trào lưu Darwin khác xuất hiện, nằm trong
sự nối tiếp những luận điểm tâm lý học được phát
triển trong khuôn khổ các khoa học nhận thức. Những
người đại diện cho trào lưu này, đặc biệt nhà nhân
học Dan Sperber, giống như các nhà lý thuyết về
men và phần lớn các nhà lý thuyết về cùng tiến hóa,
cho rằng sự tiến hóa văn hóa tuân theo một lô gích
lan truyền giống như sự lan truyền của dịch tễ.
Theo D. Sperber, những ý tưởng và biểu tượng lan
từ một bộ não sang một bộ não khác bằng một lối
lây nhiễm, do đó mà có nhan đề cuốn sách Sự lây
nhiễm của các ý tưởng (7). Tuy nhiên, các nhà nhân
học được nhắc tới ở đây đã cho thấy rất rõ khoảng
cách của họ đối với những mô hình khác nhau, dựa
vào ý tưởng về những tác nhân sao chép văn hóa bằng
cách này hay cách khác, và đã đưa ra nhiều sự phê
phán đối với các mô hình đó. Đặc biệt, D. Sperber
lưu ý rằng sự lan tỏa của những đơn vị văn hóa chỉ
được thực hiện rất hiếm hoi theo một bản sao lại
cái gốc. Rất thường thấy là khi chuyển từ bộ não
này sang bộ não khác, các ý tưởng đã biến đổi. Một
sự bất ổn như vậy không cho phép coi những biểu
tượng văn hóa như những bản sao. Trên thực tế, ông
nhấn mạnh, sự biến đổi mà không phải sự sao chép
mới là quy luật chung của sự truyền thụ văn hóa.
Theo
D. Sperber, nếu như một số biểu tượng văn hóa có
một sự ổn định nào đó, thì đó là do có những “tác
động văn hóa” (attracteurs culturels). Câu chuyện
Cô bé trùm khăn đỏ, chẳng hạn, bị thay đổi không
ngừng từ một người nào đó qua một cuốn sách hay
từ một cuốn sách qua một người khác. Nhưng những
thay đổi cộng thêm lẫn nhau ấy không có những biến
đổi đến mức cái bản có được sau nhiều sự lan truyền
chẳng dính dáng gì với bản gốc. Hoàn toàn ngược
lại, những bản khác nhau vẫn được giữ chung quanh
một nội dung chuẩn trung bình mà không bao giờ giống
hẳn với nó cả. Theo D. Sperber, tính ổn định của
những biểu tượng văn hóa ấy là do tính chất “hấp
dẫn” của những bản trung bình ấy.
Những
sức hấp dẫn của các biểu tượng từ đâu đến? Tại sao
một ý tưởng nào đó lại quan trọng hơn những ý tưởng
khác và được tái hiện dễ dàng hơn? Về điểm này,
D. Sperber lấy lại những luận điểm của tâm lý học
tiến hóa đã được các khoa học nhận thức noi theo,
đặc biệt là những công trình của John Tooby và Leda
Cosmides (8).
Một
tập hợp không thuần nhất
Từ
sinh học xã hội về con người đến những lý thuyết
về cùng tiến hóa gien / văn hóa; từ lý thuyết về
các men đến nhân học nhận thức, các mô hình hiện
nay phỏng theo Charles Darwin trong các khoa học
xã hội là rất khác nhau. Thậm chí đôi khi chúng
trái ngược nhau trong những nguyên lý và kết luận
của chúng. Dù sao thì chúng cũng không quy vào một
mô hình của sinh học xã hội về con người. Những
lý thuyết này, nói cho đúng hơn, xuất hiện những
cách nêu lại một số mô hình xã hội học truyền thống
lớn theo ngôn ngữ khoa học, các khoa học về sự sống.
Trong
những mô hình Darwin mới ấy, không phải tất cả đều
có chất lượng khoa học như nhau. Một số dựa vào
những tư biện sơ sài và mang nặng hệ tư tưởng. Đó
là trường hợp của nhiều nghiên cứu thỉnh thoảng
xuất hiện trong sách báo sinh học xã hội về con
người(9). Một số khác, như của W.H. Durham, là những
mô hình được xây dựng kỹ và phức hợp. Sự giống nhau
hay gần giống nhau về từ vựng không thể đánh lừa
về bản chất của những mô hình ấy. Điều quan trọng
là phân tích từng mô hình ấy theo tính chuyên môn
của nó nếu ở đó có một sự đề xuất lại độc đáo về
lý thuyết và đủ vững chắc để thảo luận, hay đó chỉ
là một trang phục từ vựng để xem lại cái dáng vẻ
khoa học cho những quan niệm không có hiệu quả.
Huyền
Giang dịch từ tiếng Pháp
_________________
1.
E.O. Wilson, Sinh học xã hội (dịch từ bản tóm tắt
Sociobiology: The new synthesis, 1975), Le Rocher,
1987.
2.
Thời kỳ nằm ở đầu thế kỷ thứ tư, tương ứng với thời
đá cổ.
3.
R. Dawkins, Gien vị kỷ, Odile Jacob, 1996.
4.
Tái sinh sản dưới cùng một hình thức của chất liệu
di truyền.
5.
C.J. Lumsden, E.O. Wilson, Genes, Mind and Culture.
The coevolutionary process, Harvard University Press,
1981.
6.
W.H. Durham, Coevolution, Genes, culture and human
diversity, Stanford University Press, 1991.
7.
D. Sperber, La contagion des idées, Odile Jacob,
1996.
8.
Đặc biệt, xem J.F. Dortier, Tâm lý học tiến hóa
là gì?, Sciences humaines, No 119, tháng Tám - tháng
Chín 2001.
9.
R. Wright, L’animal moral, Michalon, 1995.
|