Văn
học

Hội ngộ với văn học và lịch sử
Nguyễn
Mông Khôi
Trong
chuyến đi Trung Quốc , mùa hè năm 1999, tôi có dịp
thăm chùa Hàn San. Chùa ở môt vị trí đặc biệt, phía
trước là sông đào Đại Vận Hà, bờ sông trồng toàn
cây dương liễu, phía sau là môt lạch nhỏ, nước trong
xanh. Chùa thuôc thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô.
Đông giáp Thượng Hải, tây giáp Thái Hồ, phía nam
là Hàng Châu và sông Trường giang ở phía bắc. Chùa
có môt lịch sử lâu dài và thăng trầm...
(Tác giả và bà Nguyễn Mộng Khôi)
Chùa
được xây vào thời Thiên Giám nhà Lương ( 502-519
), có tên là Diệu Lợi Phổ Minh Tháp Viện. Hơn 200
năm sau, ngài Hàn San tu ở đây nên được đổi tên
là Hàn San tự. Tới đời Tống, niên hiệu Thái Bình
Hưng Quốc, Tiết đô sứ Tôn Thừa Hữu xây thêm môt
cái tháp 7 từng. Đến cuối đời Nguyên, chùa tháp
đều đổ nát. Vào niên hiệu Hồng Vũ nhà Minh, chùa
được xây lại. Sau này , mấy vua đầu nhà Thanh không
chú ý tới đạo Phật. Chùa không được bảo trì, nên
hư hại nhiều. Mãi tới năm Quang Tự 32, quan Tuần
vũ Trần Loan Long cho sửa sang lại và năm Tuyên
Thống thứ hai, quan đầu tỉnh Trịnh Đức Toàn tu bổ
thêm. Nhưng thời Mao Trạch Đông, những toán Vệ Binh
Đỏ (1972-1975 ) đến phá chùa, bắt tăng đồ hoàn tục.
Chùa gần như bỏ hoang.
Năm
1976 Mao Trạch Đông chết. Đặng Tiểu Bình cho trùng
tu. Chùa Hàn San ngày càng đẹp và có đông du khách.
Chúng
tôi vào chùa bằng môt cổng nhỏ ( không có tam quan
như những cổ tự ở Việt Nam ). Hai dãy nhà dài nằm
xoay lưng ra cổng. Ba chữ HAN SAN TỰ lớn khắc sâu
vào tường sau của dãy nhà bên trái , nên du khách
thấy ngay tên chùa khi mới bước qua cổng. Giữa hai
dãy nhà có môt lối đi dẫn vào điện thờ Phật Di Lặc
, rồi qua khu vườn nhỏ tới chánh điện . Ở giữa thờ
Phật Thích Ca và hai ngài Ca Diếp, A Nan. Hai bên
có Thập Bát La Hán ( đúc vào niên hiệu Thành Hóa
đời Minh ). Trên bức tường phía sau treo môt thạch
bản có 4 chữ HAN SAN THA P ĐẮC do La Sính Sở là
danh sĩ đời Thanh viết. Chùa Hàn San cũng như hầu
hết các cổ tự Trung Quốc có thờ Tứ Đại Thiên Vương
đứng gác cửa chánh điện. Người bình dân tin tưởng
bốn vị Thiên Vương đó sẽ mang lại Mưa Thuận Gió
Hòa ( Phong Điều Vũ Thuận ).
Bên ngoài chánh điện, phía tay mặt là Lầu Chuông
( Chung Lâu ). Chuông treo trên môt gác cao, xây
gạch, bốn mái cong. Trước lầu là môt phiến đá lớn
đề 3 chữ Thính Chung Thạch ( Đá Nghe Chuông ). Người
hướng dẫn viên du lịch ( tour guide ) nhắc lại lịch
sử cái chuông:
’Chuông
có từ thời ngài Hàn San và được đúc bằng môt hợp
chất kim loại đặc biệt như vàng, đồng, thiếc...
theo môt tỷ lệ bí mật, nên tiếng chuông vang xa
hàng chục dậm, tiếng ngân như có môt huyền lực,
nhờ vậy mà chúng ta mới có môt giai thoại văn chương
kỳ thú giữa thi sĩ Trương Kế và thày trò sư Hàn
San sau này. Nhưng cái chuông đó đã hư và được cất
giữ cẩn thận ở Đại Hùng Điện.
Chuông
bây giờ là từ thời vua Càn Long. May mắn lắm chuông
mới còn đến bây giờ vì trong thời chiến tranh Trung
Nhật, môt sĩ quan trong quân đi Thiên Hoàng, yêu
mến cái chuông, đã mang về nước. Nhưng sau không
biết vì lẽ gì, ông đem trả lại ở chỗ cũ.
Thăm
chùa Hàn San, chúng tôi có dịp viếng Tàng Kinh Lâu
( Lầu Chứa Kinh ), trên đó để môt Đại Tạng Kinh,
chữ khắc đời Thanh. Nhà dưới, ở hai vách có khắc
toàn bô kinh Kim Cương, chữ viết của học giả Trương
Xư Liêu đời Tống, nét bút rắn rỏi , đôc đáo. Chúng
tôi cũng được xem Bi lăng ( hành lang để bia , với
những tấm bia khắc thi văn của các nhà thơ nổi tiếng
bấy giờ. Bài thơ bắt hủ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương
Kế do thủ pháp của nhà cách mạng lừng danh Khang
Hữu Vi. Cách chùa không xa là Cô Tô thành, bây giờ
không còn nữa mà chỉ vang bóng trong lịch sử
Thuở
đó Cô Tô là thủ phủ của Tô Châu và là kinh đô của
vua Hạp Lư đời Xuân Thu Chiến Quốc. Sau này, nhà
Tần gọi Tô Châu là Ngô huyện, thời Đông Hán gọi
là Ngô Quận. Mãi đến 1276 mới có tên Tô Châu. Nhiều
du khách bảo đây là Venise của Trung Quốc, vì thành
phố được xây trên những sông ngòi chằng chịt. Xưa
kia có 1000 chiếc cầu, ngày nay còn 168 cái. Phía
tây nam chùa có núi Linh Nham. Núi cao chừng 1000
bô, có Linh Nham Sơn Tự, xưa là cung đình của vua
Ngô Phù Sai. Lên núi Linh Nham, chúng tôi được nghe
kể lại mối tình của người đẹp Tây Thi và quan đại
phu Phạm Lãi.
Quan
đại phu nước Việt là Phạm Lãi, nhân môt hôm đi vãn
cảnh gặp Tây Thi. Trai tài gái sắc tương ng. Họ
yêu nhau rồi lấy nhau. Tình yêu đang mặn nồng thì
vua Ngô Phù Sai khởi quân đánh nước Việt để báo
thù cho ông nôi là Hạp Lư. Nước Việt bại trận. Vua
Việt là Câu Tiễn phải đầu hàng và bị đưa sang Ngô
làm tù binh cùng với Phạm Lãi. Tây Thi vô cùng thương
nhớ. Trong ba năm, vua tôi nước Việt bị hành hạ
cực khổ, từ việc hèn mọn như cắt cỏ chăn ngựa cho
tới những việc nhơ bẩn như hót phân, đổ thùng. Để
lấy lòng tin của Phù Sai, có lần Câu Tiễn đã nếm
phân để đoán bệnh cho nhà vua. Cuối cùng được Phù
Sai tin tưởng; rồi trả tự do cho vợ chồng Câu Tiễn
và Phạm Lãi.
Về
nước tuy được sống yên thân, nhưng Câu Tiễn bắt
đầu chiêu binh, mãi mã, tích thảo, tồn lương. Đêm
nằm ngủ trên nệm gai, sáng ra nếm chút mật đắng
( nằm gai, nếm mật ) để không quên cái nhục mất
nước, cái hèn mọn của kẻ tôi đòi. Mặt khác ông dùng
kế mỹ nhân do Phạm Lãi chủ trương để do thám và
làm suy yếu nước Ngô. Người đàn bà như thế phải
có sắc đẹp và thông minh! Chỉ có Tây Thi mới đủ
điều kiện để giao cho công tác đó. Tuy Tây Thi vẫn
Yêu Phạm Lãi như xưa, nhưng nàng biết Phạm Lãi đã
tin tưởng lòng chung thủy của nàng, nên vì quốc
gia đại sự mà giao phó.
Tạm
chia tay với người yêu, sang nước Ngô làm nhiệm
vụ. Phù Sai thấy Tây thi là môt trang tuyệt thế
giai nhân, tinh thông âm nhạc lại biết ca múa nên
vô cùng yêu quý. nhưng lúc nào nhà vua cũng thấy
mặt nàng buồn vời vợi. Để làm vui lòng người đẹp,
nhà vua cho xây: Ngoạn Nguyệt Trì ( hồ ngắm trăng
), Ngoạn Hoa Trì ( Hồ Ngắm hoa ), Cầm Đài( nơi đánh
đàn), Sơ Trang Đài( chỗ trang điểm) và giếng Nguyệt
Tĩnh để tắm. Những di tích này hãy còn dấu vết trên
núi Linh Nham. Ở Ngô tuy được Phù Sai thương yêu
rất mực, nhưng Tây Thi càng nhớ Phạm Lãi và vẫn
âm thầm gửi tin tức nước Ngô về cho Việt Vương Câu
Tiễn, từ những sinh hoạt hàng ngày của nhà vua cho
đến tình hình quân cơ, quốc sự trong 10 năm trời.
Nhờ thế mà khi khởi binh, quân Việt đã thắng quân
Ngô môt cách dễ dàng và mau chóng.
Khi đại quân Việt tràn vào Cô Tô thành, vua Phù
Sai bị giết. Phạm Lãi gặp lại Tây Thi. Họ không
ở đó để hưởng giầu sang phú quí mà lặng lẽ cùng
nhau lên môt chiếc thuyền nan đi chu du miền Ngũ
Hồ...
Phía
nam chùa Hàn San có những vườn hoa nổi tiếng như
Thương Lăng Đình, Chuyết Chính Viên và Lưu Viên.
Đặc biệt ở phía tây của Lưu Viên là ngọn giả sơn,
trên núi nhân tạo đó có môt rừng phong nhỏ, mỗi
đô thu về mầu vàng choán cả mt góc vườn. Có người
bảo, trong dịp đi xứ Tàu năm 1811, cụ Nguyễn Du
đã tới đây và ghi lại trong truyện Kiều:
- Rừng phong thu đã nhum mầu quan san.
Chùa
Hàn San được nổi tiếng, phần vì, vị trí gần những
thắng cảnh cảnh trên, nhưng chỉ thật sự được nhiều
người biết tới là từ khi ngài Hàn San trụ trì và
môt giai thoại văn chương tuyệt vời giữa nhà sư
và thi hào Trương Kế. Người ta không rõ nhà sư sinh
và mất năm nào, chỉ biết ngài là môt vi chân tu,
học rng, cùng tu với sư huynh Thập Đắc và môt chú
tiểu thông minh hay chữ. Tuy không rõ tuổi tác,
nhưng vì sống cùng thời với Trương Kế mà ông này
làm quan vào niên hiệu Đại Lịch, Đường Thái Tôn
( khoảng năm 756 ). Ông đỗ tiến sĩ rồi được phong
chức Kiêm Hiệu Viên Ngọai Lang. Tuy chức trọng,
quyền cao, nhưng tính tình phóng khoáng. Ông thường
ngao du sơn thủy để làm thơ và ngâm vịnh.
 Truyện
kể, vào môt đêm trăng đầu tháng. Sư cụ trằn trọc
mãi không ngủ được, bèn đánh thức chú tiểu; rồi
thày trò đi dạo quanh chùa Hàn San.
Xúc cảnh trăng non trên trời, in bóng lung linh
dưới hồ nước xanh. Nhà sư ngâm khẽ:
-Sơ tam sơ tứ nguyệt mung lung
Bán tự ngân câu bán tự cung
Tản Đà dịch:
-Mồng ba mồng bốn trăng mờ.
Nửa như móc bạc nửa ngờ vành cung.
Nhưng sư cụ chỉ làm được hai câu rồi hết tứ luôn.
Chú tiểu theo sau, thấy thày mình lúng túng mãi
không nghĩ tiếp được thêm hai câu nữa cho trọn môt
bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt. Chú thấy thơ thày hay
quá mà ngưng ở đây thật uổng. Bỗng như môt tia chớp
lóe trong đầu, chú xuất thần ngâm to:
-Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán trầm thủy để bán phù không.
Tản Đà dịch:
-Hồ xanh ai xẻ đôi vùng
Nửa chìm đáy nước nửa lồng chân mây.
Sư cụ khen hay quá, rồi nhẩm lại bài Thất Ngôn Tứ
Tuyệt của hai thày trò vừa sáng tác:
-Sơ
tam sơ tứ nguyệt mung lung
Bán tự ngân câu bán tự cung.
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn,
Bán trầm thủy để bán phù không.
- (Mồng ba mồng bốn trăng mờ,
Nửa như móc bạc, nửa ngờ vành cung
Hồ xanh ai xẻ đôi vùng.
Nửa chìm đáy nước nửa lồng chân mây.)
Sư cụ bảo chú tiểu lên lầu chuông gióng 3 tiếng
để tạ ơn chư Phật.
Cũng
tối hôm đó, thi sĩ Trương Kế đậu thuyền ở bến Phong
Kiều, nhìn sương đêm phủ đầy trời, mặt trăng mờ
ảo đang từ từ lặn. Có tiếng quạ kêu đêm. Nhìn hàng
cây phong ở bờ sông, nhìn anh thuyền chài ngủ....đối
cảnh mà but miệng làm thơ:
-Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên.
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
Tản Đà dịch:
-Trăng tà chiếc quạ kêu sương.
Lửa chài cây bến sâu vương giấc hồ.
Ngâm xong 2 câu , Trương Kế cũng cụt hứng. Nghĩ
mãi mà không thêm được câu thơ nào; rồi ông chập
chờn vào giấc ngủ. Nhưng ông bỗng giật mình vì hồi
chuông chùa Hàn San, ngoài thành Cô Tô. Nhờ tiếng
chuông mà Trương Kế làm tiếp được 2 câu thơ:
-Cô Tô thành ngoại Hàn
San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Tản Đà dịch:
-Thuyền ai đậu bến Cô
Tô.
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Trương
Kế hân hoan ngâm khẽ bài thơ:
-Nguyệt lạc ô đề sương
mãn thiên.
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự.
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
-Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô.
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Rồi đặt tên bài thơ là Phong Kiều Dạ Bạc ( PKDB-Đêm
Trăng Đậu thuyền ở bến Phong Kiều ).
Cho đến ngày nay vẫn còn nhiều học giả thích bài
thơ này.
Giáo sư Trần Trọng San dịch:
-Quạ kêu trăng lẩn sương
trời.
Buồn hưu giấc ngủ lửa chài bến Phong.
Đêm Cô Tô vẳng tiếng chuông.
Chùa Hàn San đến thuyền sông Phong Kiều.
Ông Writter Bynner dịch sang tiếng Anh:

A NIGHT MOORING NEAR MAPLE
BRIDGE
-While I watch the moon go down, a crow caws through
the
Frost
Under the shadows of maple tree a fisherman movers
with his
Torch.
And I hear, from beyond Su Chou, from the temple
on Cold
Mountain
Ringing for me, here in my boat, the midnight bell.
Tuy
bài PKDB được nhiều người khen ngợi, nhưng môt số
không ít vẫn thắc mắc. Chỉ cần đọc câu đầu, ‘’ nguyệt
lạc ô đề sương mãn thiên’’, nếu ta hiểu nghĩa là
‘’Trăng lặn, quạ kêu, sương phủ đầy trời’’ và câu
cuối ‘’Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền’’ (Tiếng
chuông lúc nửa đêm vẳng đến thuyền khách) là ta
thấy có sự vô lý rồi! Không lẽ Trương Kế bắt đầu
làm thơ lúc gần sáng, lúc mà trăng đã lặn và tiếng
quạ kêu buổi sớm mai và làm xong bài thơ lúc mà
chú tiểu gióng hồi chuông nửa đêm ( Dạ bán chung
thanh )
Môt
danh sĩ đời Tống là Âu Dương Tu bênh vực Trương
Kế : ‘’ Nhà thơ vì mê câu văn hay, đã làm cho ý
văn không được thông; Đó là ‘’ ngữ bệnh ‘’ vậy!
Chúng ta không nên bới lông tìm vết làm gì.
Dù cho Âu Dương Tu không quan tâm đến ‘’ ngữ bệnh
‘’ thì môt số học giả Nhật Bản không chấp nhận được
cái thời điểm ‘’ vô lý ‘’ giữa câu thơ đầu và câu
cuối; nên họ đã cử môt phái đoàn gồm các nhà khảo
cổ, môt số giáo sư ngữ học và các nhà chuyên môn
địa chất tới Tô Châu để nghiên cứu. Họ tìm đọc những
sách vở trong thư viện. Họ duyệt lãm nhiều nơi.
Phái đoàn đã vất vả làm việc gần môt năm. Và; cuối
cùng họ đã giải nghi về thời gian của bài thơ. Họ
đã xác định được địa danh môt làng đánh cá xưa có
tên là Ô Đề và môt ngọn núi cổ tên là Sầu Miên sơn.
Thời gian gần 14 thế kỷ đã thay đổi tên làng tên
núi. Nếu viết theo La Tinh hóa thì 2 chữ Ô-Đề và
Sầu-Miên phải viết hoa ( rất tiếc chữ Nho không
thể viết hoa ). Và; câu thơ của Trương Kế là:
-Nguyệt lạc Ô-Đề sương mãn thiên.
Giang phong ngư hỏa đối Sầu-Miên.

Đây là môt bài thơ tuyệt tác, môt bức tranh sơn
thủy tuyệt vời: ‘’Môt lữ khách ngồi trên thuyền
ngắm trăng. Trăng từ từ lặn phía làng Ô-Đề. Hàng
cây phong trên bờ sông. Có ánh lửa chài chập chờn
in hình vào sườn núi Sầu-Miên. Sương lạnh tỏa đầy
trời. Khách đang mải mê với vẻ huyền diệu của thiên
nhiên, bỗng sực tỉnh khi tiếng chuông chùa Hàn San
ngoài thành Cô Tô vọng lại’’.
Trong chuyến du lịch này,
chúng tôi có dip thăm nhiều nơi.
Từ
Vạn Lý Trường Thành hùng vĩ, vắt ngang 6 tỉnh Trung
Quốc , ( dài bằng bán kính địa cầu ). Tử Cấm Thành
lớn rông có 9000 phòng ốc. Cung điện Mùa Hạ tráng
lệ mà bà Từ Hi Thái Hậu đã lấy hết ngân sách của
bô Hải Quân để xây nhà nghỉ mát ở Bắc Kinh . Cố
Đô Trường An của 11 triều vua có Tần Thủy Hoàng
tàn ngược . Đường Minh Hoàng đa tình . Dương Quý
Phi yêu kiều . Chùa Từ Ân cổ kính, nơi Huyền Trang
ngồi dịch kinh Bát Nhã . Rồi, Hàng Châu thơ mông
, chỗ Tô Đông Pha làm thơ trên Tây Hồ và có sông
Tiền Đường, nơi Thúy Kiều trầm mình. Quảng Châu
hào khí của 72 liệt sĩ trong đó có Phạm Hồng Thái.
Vũ Hán có lầu Hoàng Hạc ( Hoàng Hạc Lâu ) vv..
Còn nhiều địa danh nổi tiếng khác. Nhưng riêng tôi
, Tô Châu đã gợi cho niềm cảm hứng để viết. Có thể
vì Tô Châu có nhiều danh thắng. Có chuyện tình Tây
Thi, Phạm Lãi. Có huyền thọại văn chương giữa thày
trò sư cụ Hàn San và thi sĩ Trương Kế...
...Vì vậy, tôi bắt đầu viết bài này ngay khi ở trên
phi cơ lúc rời Hoa Lục về lại Hoa Kỳ./.
Nguyễn
Mộng Khôi
CÙNG MỘT TÁC GIẢ:
Những
Kẻ Bị Cắt Tai
( Giác Chánh - NMK)
TRI
TÚC
CHÙA
TRẤN-QUỐC Ở HỒ-TÂY QUA LICH SỬ & THI VĂN
Hội ngộ với văn học và lịch sử
CỎ
CÂY CŨNG CÓ LINH HỒN
Không
khí không mất tiền mua
TÂM
BÊNH SANH THÂN BÊNH
ẤN
GIÁO-PHẬT GIÁO-HỒI GIÁO
Lý
Thường Kiệt
ĐỘNG
HOA VÀNG
Sức Mạnh Của Cầu Nguyện
Thành
Cổ Loa-Tình Mỹ Châu
BA
NGÀY GIẢI PHÓNG THĂNG LONG
BẢN DỊCH THƠ TRỊNH CỐC- NGUYỄN
MỘNG KHÔI
Vu Lan & Cúng Cô Hồn
VẠN
HẠNH THIỀN SƯ
Bà
Chúa Liễu Hạnh
Thăng trầm của chữ Nho qua
bài thơ ÔNG ĐỒ
Ai Lên Xứ Lạng Cùng Anh
Dương
Vân Nga :Từ chính sử đến truyền thuyết
LINCOLN
VÀ KENNEDY

Về
trang chủ
XEM
TIẾP
.Thiên
cổ đoạn trường kim nhất tục.
Phiếm Đàm tòng thử kế Thừa sai.
|