| 
Vương
Hồng Sến
SÀI GÒN NĂM XƯA
PHẦN THỨ TƯ(b)
TRỞ LẠI VẤN ĐỀ TÌM HIỂU THÊM VỀ VỊ TRÍ SÀI GÒN
2)- Con đường thủy thứ nhì là Kinh Chợ Lớn cũng
gọi là Kinh Tàu Hũ (Arroyo Chinois).
Vùng Chợ Lớn thưở nay buôn bán thạnh vượng một phần
lớn là nhờ Kinh Tàu Hũ nầy. Đây là đường thủy vận
nối liền Sài Gòn với các sông ngòi chảy xuống miệt
Hậu Giang. Con đường thủy nầy tiện lợi vô cùng vì
đã thâu ngắn đường ghe thuyền tránh được nguy hiểm
khỏi trổ ra đường biển để vào Cửa Cần Giờ. Tàu nhỏ,
ghe thương hồ, các ghe chài "ăn lúa" từ
Bạc Liêu, Bãi Xàu, Sốc Trăng, kéo lên, hoặc thuyền
"cá đen" Biển Hồ (Nam Vang) đổ xuống,
đều noi theo Kinh Tàu Hũ nầy mà "ăn hàng",
"ăn gạo", hoặc đợi "cất lúa"
lên cho các nhà "tầu khậu"[60]và nhà máy
xay Chợ Lớn, cũng như nhờ con Kinh Tàu Hũ nầy để
giao dịch với thương cảng và các tàu hàng buôn xuất
ngoại.
Con kinh nầy, ngoài việc lợi ích giao thông về kinh
tế còn là con đường chiến lược, thưở xưa tàu binh
Pháp đã mượn nó mà đến vây Đồn Cây Mai và thuận
đường đánh úp chợ Mỹ Tho. Con Kinh Tàu Hũ đã từng
chứng kiến những biến cố lịch sử đau thương của
ta và lịch sử nó đã được ghi rành trong cận sử Việt.
Khảo ra vì Rạch Chợ Lớn cạn hẹp, (cũng vì thế nên
sau Pháp lấp bỏ) nên để có một con kinh rộng lớn
hơn, năm Gia Long thứ 18 (Kỷ Mão, 1819), Vua hạ
lịnh cho đào Kinh Tàu Hũ. Phó Tổng Trấn Gia Định
Thành là Huỳnh Công Lý, (cha vợ Vua Minh Mạng),
được phong làm Khâm Sai, hiệp với ông Tổng Thanh
Tra Gia Định, điều khiển mười một ngàn bốn trăm
sáu chục nhơn công (11.460), chia làm ba tốp, mỗi
dân công có lãnh một số tiền và một khẩu phần, khởi
công ngày 23 tháng giêng, đến ngày 23 tháng tư năm
Kỷ Mão (1819) là hoàn thành, đúng ba tháng. Con
kinh này bắt đầu từ Cầu Đề Thông (nôm gọi là Cầu
Bà Thuông) chạy đến ngã tư sông Rạch Cát. Sách nói
kinh dài 2.129 tầm và 1 bộ, bằng chín dặm rưỡi,
(mỗi dặm 576 thước tây = 576 x 9,5 = 5.472 m ).
Bề ngang rộng mười lăm tầm (mỗi tầm 8 xích, tính
ra 0,32 x 8 x 15 = 36m90). Bề sâu được 9 bộ (mỗi
bộ 6 xích = 0,32 x 6 x 9 = 17m28). Mỗi bên kinh
có chừa một bờ đất rộng 8 tầm, bờ kinh ấy thông
liền với đường sứ rộng sáu tầm. Đào rồi, Vua Gia
Long đặt tên khúc kinh ấy là An Thông Hạ.
Nay ráp với đoạn Chợ Quán và Cầu Ông Lãnh, gọi chung
là Kinh Tàu Hũ (Tài liệu rút trongPhổ Thông số 15
ngày 15-7-1959, bài của ông Lê Ngọc Trụ viết).
Theo bộGia Định Thông Chí của ông Trịnh Hoài Đức,
thì vốn là lạch nhỏ cũ đào rộng ra, nhưng xét qua
địa đồ xưa của ông Trần Văn Học vẽ về tỉnh Gia Định
trước năm 1815 thì không thấy có con rạch nhỏ ấy.
Theo sử, Rạch Chợ Lớn chứng kiến hai trận chiến
tranh:
1 - Thời Nguyễn Ánh, binh Tây Sơn tàn sát người
Hoa Kiều nơi chỗ gọi "Thầy Ngôồn" (Đề
Ngạn), trong ba tháng "không ai dám rớ tới
miếng cá miếng tôm" (1782).
2 - Thời Pháp chiếm Sài Gòn, thủy quân Pháp dùng
khinh pháo hạm Jaccaréo án ngữ trên Kinh Chợ Lớn,
đậu tại đầu đường Tản Đà (vì thế họ đặt tên đường
ấy trước kia là đường Jaccaréo), còn một chiếc khác
họ đậu tại sông Rạch Cát để bao vây Đồn Cây Mai
của Nguyễn Tri Phương.
Con Kinh Chợ Lớn thường nổi cồn cát cản trở sự thông
thương và phải được vét hoài mới dùng thuận tiện.
Dọc hai bên bờ kinh, có nhiều nhà máy xay gạo như
hiệu Nam Long, hiệu Kiến Phong, là danh tiếng nhứt,
đều của Hoa Kiều và nhiều chành lúa gạo dựng san
sát kế liền nhau từ Bình Tây đến Bình Đông. Hãng
rượu Bình Tây cũng ở về hữu ngạn Kinh Chợ Lớn nầy.
Những cầu bắc ngang Kinh Chợ Lớn kể từ Chợ Lớn Cũ
trở vô Bình Đông thì có Cầu Chà Và dùng để đi qua
Xóm Củi, Cầu Bót Bình Tây và Cầu Hãng Rượu. Cầu
Bót Bình Tây và Cầu Hãng Rượu là loại cầu có mang
cá, xe cộ muốn qua phải theo hai mang cá tả hữu
leo lên. Hai dãy nhà máy nầy được một thời thạnh
vượng. Qua đời Nhựt Bổn chiếm Sài Gòn các nhà máy
nầy bị Nhựt trưng dụng về quân sự, trở nên những
đích cho máy bay Đồng Minh dội bom. Năm 1945, có
một trận bom dội xuống trúng nhằm nhà máy Nam Long,
khiến thường dân vô tội chết rất nhiều.
Còn giữa khoảng Rạch Lò Gốm và Kinh Chợ Lớn, có
kinh gọi Kinh Hàng Bàng nối liền hai đường thủy
nầy do khúc kinh đường Vân Nam hiệp thành một ngã
ba và nơi đây có cây Cầu Ba Ngã. Cầu nầy nguyên
khi xưa làm bằng sắt lót ván, vì một cuộc hỏa hoạn
xảy ra ở đường Gia Long (nay là đường Trịnh Hoài
Đức), thiên hạ bu đông trên cầu để đứng xem, dồn
dập quá sức chịu đựng, nên cầu sập. Sau nầy xây
lại cầu đúc sạn cốt sắt và đặt tên là Cầu Ba Cẳng.
Dọc kinh đường Vân Nam đến Cầu Ba Cẳng, trước mặt
hãng xà bông Trương Văn Bền, nay đã lấp bằng. Chỉ
còn khoảng từ Cầu chạy ra tới Kinh Chợ Lớn là có
nước chảy.[61]
Bắc ngang khoảng kinh nầy, dọc theo Kinh Chợ Lớn
thì có Cầu Ông Lớn (Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương). Còn
từ ngã ba Cầu Ba Cẳng đến Rạch Lò Gốm, có cả thảy
năm cây cầu:
- Cầu nấc đường Gò Công, xe đi không được, đã kể
rồi!
- Cầu Palikao.
- Cầu nấc đường Minh Phụng.
- Cầu Kinh.
Hai cầu nấc kể sau đây nay đã thay bằng cầu đúc:
cái thứ nhứt là Cầu Bình Tây mấy năm về trước, còn
chở chiếc xe điện Bình Tây qua Chợ Lớn Mới, cái
thứ nhì là cầu đúc Bình Tiên. Kinh chỗ nầy gọi Kinh
Hàng Bàng, vì khi xưa dọc hai bên bờ kinh có trồng
cây bàng bóng to mát mẻ, thường có ghe chài đậu
tại kinh nầy nhiều vì có ụ sửa ghe (sau lấp bằng
trở nên Chợ Lớn Mới.) Hai dãy nhà hai bờ kinh phần
nhiều là của người Tàu, nhà cất khít sát nhau chen
chúc. Bản tính người đàn bà Tàu hay tiện tặn, đụng
gì cũng cất để dành, xác mía, dăm bào không món
nào bỏ, nhưng đàn bà Tàu cũng có tánh rất lơ đễnh
khinh thường, thêm trẻ con của người Tàu có tánh
ưa chơi lửa, nên hoả hoạn xảy ra rất thường. Khoảng
đầu năm 1923, lối tháng Giêng âm lịch, một cuộc
hỏa tai tàn khốc chưa từng thấy, xảy ra. Hai dãy
nhà lá và ngói từ khoảng Cầu Bình Tây chạy suốt
đến Cầu Đúc Bình Tiên đều làm mồi cho lửa. Lửa gặp
gió chiều càng mạnh dữ thêm, nên dân cư phần lo
dọn đồ đạc, lớp lo cõng con dắt mẹ, la khóc rùm
trời. Sức lửa mau lẹ cứu cấp không xuể, lửa dồn
người ra giữa đường và từng cơn gió, lửa táp vào
người một cách rùng rợn không tả xiết. Túng thế
nạn nhơn nhảy xuống kinh, nhưng than ôi, nước dưới
kinh lại nóng như sôi, nạn nhân chết quay, còn chết
luộc! Sáng ngày sau, đi ngang đây còn bay mùi khét,
nào lợn gà, bò nguyên con nằm chình ình chỏng cẳng,
nào dưa hấu nguyên vựa, khô cá gộc cháy nguyên kho,
bày ra không ma trơi nào lượm! Sau trận hỏa tai
dữ tợn năm đó, có một dạo hèn lâu, không ai dám
nhắc đến chuyện trở về lập cơ chỉ nơi chốn cũ: Kinh
Hàng Bàng. Chánh phủ Pháp thừa dịp làm ra con đường
ở vùng đó để xe miệt Hậu Giang bận lên chạy một
chiều vô Chợ Lớn, nên gọi đường Hậu Giang. Nhờ dấu
vết cũ không còn, nên dân dạn lần mà trở về, đến
nay mới có mòi phồn thịnh. Ngờ đâu năm 1945, quân
đội Nhựt đến đây, thiếu cây dùng, nên bọn chúng
hạ lịnh đốn cây bàng cây me ở hai bên bờ Kinh Hàng
Bàng và Rạch Lò Gốm để làm hầm núp nơi Cầu Bình
Điền, báo hại dân cư hai xóm, kẻ nào ra đường, bất
luận mặc y phục Langsa hay y phục Việt đều bị chúng
lùa bắt đi kéo gỗ, khiến nhiều người phải chuồi
mình xuống Rạch Lò Gốm, kết gỗ thành bè thả trôi
ra xa, mới thoát khỏi tay bọn quân lùn.
Kể về kinh rạch còn có Kinh Lò Gốm (Canal Des Poteries)
ở vùng Rạch Cát và Kinh Đôi (Canal de Doublement),
đào sau Kinh An Thông Hạ, cũng là một con đường
thủy giúp ích rất nhiều cho sự thịnh vượng hai đô
thị Sài Gòn và Chợ Lớn.
e) - Nhà Xóm trong Chợ Lớn
Những xóm trong Chợ Lớn còn giữ được tên theo xưa,
là:
- Xóm Than
- Xóm Củi
- Xóm Dầu (chuyên bán dầu phông.)
- Xóm Bàu Sen, gần Đồn Cây Mai. Thật ra là bàu lũ
loạn, đầy cỏ rác, cỏ lục bình; sen không còn mọc
nữa. Đừng lộn với Bàu Sen đường Võ Tánh nay là Nguyễn
Trãi, miệt Chợ Quán.
- Xóm Giá, làm giá đậu xanh ở gần Cầu Cây Gõ. Làm
nghề nầy phải thức khuya dậy sớm. Từ hai giờ khuya
đến năm giờ sáng phải xuống sông đãi giá, làm cho
sạch vỏ đậu xanh còn đeo theo, để kịp tang tảng
sáng có bán tại chợ. Mỗi người đãi đậu có đem theo
một ngọn đèn, nên quang cảnh khúc sông giữa đêm
khuya thật là rộn rịp và vui mắt. Gặp chầu chợ Tết
thì cảnh càng tưng bừng, náo nhiệt suốt đêm.
- Xóm Lò Bún, gần giếng Hộ Tùng.
- Xóm Phú Giáo, khi xưa giáo mắm, (gần Đồn Cây Mai).
- Xóm Rẫy Cải của người Tiều (Triều Châu), ở hai
bên lộ đi về Lục Tỉnh, (người Tiều trước kia có
sắm xe hai ngựa để chở cải ra các chợ Sài Gòn, Chợ
Lớn, Bình Đông, Bình Tây, thứ xe nầy nay không thấy
họ dùng nữa, đổi lại còn thấy ta dùng chở cá, chở
đồ khi dọn nhà. Ta nay gọi đó là "xe cá",
(xe cá chiếc,thắng một ngựa,xe cá đôi, hai ngựa),
và quên rằng sơ khởi đó là xe cải của Tiều bày ra.
- Xóm U Ghe (Chợ Lớn Mới)
- Xóm Cây Cui (Bình Đông )
Khi xe lửa điện đường mé sông còn chạy, trong các
xóm có xe chạy ngang, công ty Pháp lựa tên cũ đặt
cho các trạm xe đỗ, tên Việt kèm tên Pháp, và hình
dung bằng một ám hiệu tượng trưng, vừa treo trên
nhà ga vừa in trên vé tàu, như gare Jaccaréo là
"trạm Xóm Củi", ám hiệu "cây bò cào
sắt" v.v...
f) Con Đường Sài Gòn vô Chợ Lớn
tục danh Đường Trên (Route Haute)
Đường trên (Rout Haute), xưa do ông Olivier de Puymanuel
phóng hoa tiêu, để nối liền Sài Gòn vô Chợ Lớn,
đối chiếu với Đường Dưới (Route Basse) ngả Mé Sông.
Xưa có hai đường xe lửa nối liền Sài Gòn vô Chợ
Lớn.
A. - Một đường Mé Sông:xe chạy bằng than củi, tải
vận hàng hoá; và trái cây miệt Lái Thiêu, trạm chánh
trước Chợ Bến Thành, nay làm Bót Cảnh Sát. Xe chạy
hai ngả:
1)- Trước chạy từ Chợ Bến Thành, bọc đại lộ De la
Somme (nay là Hàm Nghi), dọc theo mé sông tới đường
Luro (Cường Để), lên trạm Hàng Sao (đường Mạc Đĩnh
Chi), quẹo Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu),
Đinh Tiên Hoàng, ghé qua Đất Hộ, thẳng vô Gia Định,
trạm chót là Lái Thiêu.
2)- Xe đỗ ga chánh chợ Bến Thành, rồi chạy vô Chợ
Lớn, trạm chót là ga Bình Tây.
B. Một đường gọi xe lửa giữa,trước chạy than củi,
sau chạy điện. Xe chở bộ hành nhiều hơn hàng hoá,
bắt đầu từ ga Chợ Cũ Sài Gòn, đổ ra Chợ Mới Bến
Thành, rồi chạy cặp với đường tàu hỏa Sài Gòn -
Mỹ Tho dài theo đường Phạm Viết Chánh, Nguyễn Hoàng,
thẳng đến ga An Bình, chạy dọc đường Thủy Bình (nay
Đồng Khánh), bọc theo đường Tổng Đốc Phương trổ
ra ga chót là ga Chợ Cũ - Chợ Lớn (ga Rodier, nổi
danh xưa điếm móc túi nhiều và tài nhứt.) Đi xe
đường này xưa đã là sang: Vé hạng nhứt Sài Gòn vô
Chợ Lớn là một hào bạc (0$10) được ngồi băng dài
có trải nệm bố trắng. Hạng nhì: sáu chiêm tây (0$06).
Đường chỉ non sáu cây số ngàn (6km) mà chạy hơn
ba mươi phút mới đến nơi, có đủ hỷ, nộ, ai, lạc;
vui vì xe chạy một đỗi, thấy di tích Đồng Tập Trận
mênh mông (nay là đại lộ Lý Thái Tổ) và nếu là buổi
trưa, sẽ được ngắm cảnh người Tàu ngủ gà ngủ gật
trên xe, buồn là có khi nội khúc đường ấy đã bị
điếm giựt tiền nhảy xe hay anh chị móc túi. Sách
nói khi xưa, làm con đường này gặp nhiều mả mồ,
(ắt chốn Đồng Tập Trận cũ), Langsa có lệ phát ba
quan tiền và một xấp vải cho mỗi ngôi mộ và mả bị
cải táng.
Sau bỏ con đường nầy và xe chạy củi.Thay vào bằng
xe điện và đường xe chạy từ chợ Bến Thành dài theo
khoảng giữa con đường Trần Hưng Đạo, đến đường Đồng
Khánh, Tổng Đốc Phương, và trạm chót là ga Rodier.
Đường sắt nầy đã bãi bỏ hồi năm 1953 và qua năm
1954 được khỏa lấp nhựa[62].
Ba bốn mươi năm về trước, hai bên đường xe lửa giữa
có trồng xoài và mít chen lộn nhau, tàn lá sum sê
bóng rợp, đến nay vì lần hồi mở mang đường ra rộng
lớn đủ phương tiện lưu thông nên không còn gốc đại
thọ nào sót lại, có còn chăng là những danh từ khêu
gợi: Xóm Vườn Xoài Bà Lớn (mộ phần của gia tộc Đỗ
Hữu Phương ) trên đường Phan Thanh Giản. Xóm Vườn
Mít (xưa dân nghèo lấy hột mít xay ra bột, bán:
xóm nầy truy ra ở lối Taberd-Mac-Mahon cũ, và đừng
lộn với một xóm mít ở trên Phú Nhuận, đường Võ Di
Nguy nối dài.
Gần Ngã Sáu đường Võ Tánh (Nguyễn Trãi) còn thấy
ngày nay ngôi mộ Lê Văn Gẫm tử đạo thời Thiệu Trị,
bị hành hình lối năm 1847. Mộ nầy nay nhà phố xung
quanh che gần bít mất và mộ ở lún sụt xuống thấp
hơn mặt đường lộ có một thước sâu, suy ra đường
và phố mãi đắp lên cho khỏi ngập lụt nay mới cao
làm vậy, còn đất xóm nầy khi xưa lấy mực mộ Lái
Gẫm là đủ biết thấp và nước thế nào.
Học giả Trương Vĩnh Ký chép lại rằng xưa tại chỗ
Khám Lớn cũ (nay Đại Học Văn Khoa), gần bên Tòa
Pháp Đình, thuở đó có một cái chợ tục danh "Chợ
Da Còm", tức là chợ nhóm dưới gốc một cây da
nhánh còm lá gie khòm xuống mặt đất. Xưa đây là
xóm bán trống, bán lọng, yên ngựa, và mão Tú Tài.
Nhắc đến cây da, còn thấy gần Tòa Pháp Đình, phía
góc đường Nguyễn Du và Nguyễn Trung Trực, còn mấy
gốc đã lâu đời, có dính líu gì với "cây da
còm" xưa chăng?
Tiếp theo Chợ Da Còm, có Chợ Đũi (bán đũi, bán lụa,
v.v...) Thưở cụ Trương Vĩnh Ký còn sanh tiền, thì
Chợ Đũi ăn dài từ xóm Boresse giáp qua đường xe
lửa Sài Gòn - Mỹ Tho. Khỏi Chợ Đũi là Xóm Đệm Buồm
rồi tới Xóm Thuận Kiều đóng dọc theo đường Thuận
Kiều[63].
Còn nói gì vùng Chợ Mới như ngày nay ta đã thấy,
xưa kia lại là một ao sình lầy nước đong. Như đã
nói rồi, năm 1913 người Pháp lấp ao vũng xây nhà
chợ có làm lễ lạc thành trọng thể gọi lễ "khai
tân thị". Chợ nầy ở gần chỗ bến nước của thành
xưa nên gọi "Chợ Bến Thành" cho đến nay
vẫn còn gọi như thế. Ngày khai mạc có chưng "cộ
bảy bang"[64]có cộ bông hình "Quan Âm
Tay Xách Giỏ Cá", hình "Hồng Hài Cầm Quạt
Ba Tiêu Chấp Tay Bái Phật Bà" toàn do đồng
nam đồng nữ tình nguyện chịu cho các thợ mã bong
hình thế nộm giấy, cả ngày đứng trên một cốt sắt
nhỏ có hoa lá che kín, chân tay tê liệt vì không
cử động được. Lại có múa lân, thí võ, hát Triều
Châu, hát Quảng Đông và hát bội diễn ngoài trời,
cộ đèn, cộ bông, nhạc ngũ âm, và nhạc "mủ dích"
Pháp. Sánh với ngày nay, thì cuộc lễ rất tầm thường,
nhưng vào thời ấy tiếng đồn khắp Lục Tỉnh, đâu đâu
cũng nô nức kéo nhau về Sài Gòn. Có câu: "Xem
được lễ Tết Tân Thị một lần chết cũng sướng thân!"Mà
đi thì chỉ có đường thủy là tiện. Nhắc lại thưở
đó, có tàu "Lục Tỉnh" chạy từ Sài Gòn
lên Nam Vang trải qua các chợ như Mỹ Tho, Vĩnh Long,
Châu Đốc, v.v... Tầu nhỏ hơn chạy miệt Hậu Giang
thì có tầu Pélican, Sarcelle, Cormoran của hãng
Messageries Fluviales tục gọi Hãng Tàu Nam Vang,
chạy khởi hành từ Mỹ Tho xuống Bạc Liêu đi qua các
chợ như Chợ Gạo, Tam Bình, Trà Ôn, Cần Thơ, Phụng
Hiệp, Sốc Trăng, Bãi Xàu, Cổ Cò v.v... và tàu khác
đường Mỹ Tho - Rạch Giá. Hãng tàu các chú cũng chạy
kình một đường với tàu Tây. Về sau mới có ông Phán
Nuôi ở Vĩnh Long sắm tàu chạy, nhưng không tranh
đua cùng hai hãng Tây, Tàu. Đường bộ thời ấy (trước
1913) chưa được thông thương, vì chưa có cầu bắc
qua sông lớn. Bởi đó cho nên, như đã nói rồi, nhờ
vị trí trên bờ có xe lửa nối liền với thủ đô, dưới
sông có tàu thuyền chạy Lục Tỉnh, Mỹ Tho thời ấy
chỉ nhượng có một Sài Gòn.
Nhắc lại lễ khai tân thị Chợ Bến Thành năm đó (mars
1914) đã phá kỷ lục về hội hè vui vẻ. Ông già bà
cả từng mục kích lễ nầy đến nay còn nhắc, và tự
hào chứng kiến một "Tần vương hội" (danh
từ của các báo thời ấy dùng).
Tục lệ thành Sài Gòn và Chợ Lớn, cho đến về sau
lâu lắm mới dẹp là dân trong thành phố hễ quá mười
giờ đêm muốn ra đường phải xách theo một lồng đèn,
lại nữa riêng Chợ Lớn, xóm của gái điếm cũng gọi
"Xóm Lồng Đèn", đã là xóm huê nương tức
nhiên phải về khuya, khách làng chơi cơm nước phủ
phê rồi mới xách lồng đèn đến thăm, sự ấy cũng dễ
hiểu.
g) Nay xin trở lại đường Thuận Kiều
Từ đây đến “Sở Nuôi Ngựa” cũ của nhà binh Pháp tức
là trong trại “Ô Ma” đường Võ Tánh (Nguyễn Trãi)
thì là chợ “Điều KHiển” do một ông Điều Khiển tạo
lập[65]. Khỏi Chợ Điều Khiển là đến “Chợ Cây Da
Thằng Mọi”. Gọi làm vậy nhưng khoan vội tưởng rằng
đây là một nhà chợ do một người Mọi nào đó đứng
ra xây cất. Sự thật là tại chợ này thường thấy bày
một món hàng không đâu có bán: ấy là một thứ đèn
thắp dầu phộng hay dầu dừa làm bằng đất nung, nắn
hình một người Chàm (ông Phỗng): hai chân quỳ, hai
tay chắp lại, trên đầu đội một thếp dầu. Trong tập
“Cổ Gia Định vịnh” có câu:
“Cây Da thằng mọi, coi bán đủ thuốc xiêm cau mứt.
Cái cầu Cao Mên, thấy làm nguyên cột vắp ván trai.”
(Đây là thuốc lá xắt và ướp kiểu người Xiêm dùng.
Cau mứtlà cau trái để già, nấu kẹo như mứt, người
Thổ rất thích ăn. Hai món là gia vị đặc biệt trong
miếng trầu thời xưa, nay đã ít được thấy, không
khác “cây đèn thằng Mọi”.).
Khỏi Chợ Cây Da Thằng Mọi, có một cánh đồng rộng
lớn trống trải và cây cỏ mọc tùm lum nhiều chỗ.
Ngày nay nhà cửa cất lấp bít bùng không còn nhìn
được nơi nào, chớ xưa kia đây là “Đồng Tập Trận”,
cung gọi “Mả Ngụy” hay “Mả Biền Tru[66]. Nơi đây
vua Minh Mạng đã sai chặt đầu ném thây chôn chung
một huyệt mả (đến nay mặc dầu đào móng cất nhà vẫn
chưa tìm gặp) cả thảy đến 1.137 người[67]già trẻ
bé lớn, đàn ông đàn bà lộn lạo, khép vào tội phản
nghịch, theo giặc Khôi ở lại trong thành, chống
binh lính triều đình ba năm (1832 - 1835)[68].
Như đã nói rồi nơi mục chú thích về Sở Nuôi ngựa,
sở này cất trên một ngôi chùa cũ tên gọi “Kim Chương
Tự” (hay Kim Chung Tự). Chùa này lại xây trên một
nền chùa Thổ đã có trước đời Gia Long. Theo cụ Trương
Vĩnh Ký thì chúa Duệ Tông bị Tây Sơn bắt tại vùng
Ba Thắc (thuộc Cà Mau) và chúa Mục Vương bị bắt
tại Ba Vác (thuộc Bến Tre, gần Mỏ Cày) đều bị hành
quyết gần Kim Chương Tự, lối năm 1776[69].
Còn tại thành lính tập Ô Ma (Camp des Mares) thì
còn có miếu thờ các công thần nhà Nguyễn, lập năm
1804, chữ gọi “Hiển Trung Từ”. Nơi đây khi xưa có
các bài vị thờ tất cả 1015 sĩ tử liều mình vì nước
trong các trận chống Tây Sơn, trong số đó có một
võ tướng quốc tịch Pháp tử trận Thị Nại, ta gọi
ông Mạnh Hoè (Manuel). Miễu này đã ghi vào bộ các
cổ tích trường Viễn Đông Bác Cổ; năm 1927 chùa này
được trường Bác Cổ xuất tiền trùng tu lại tử tế;
qua năm 1939 triều đình Huế có biệt phái một đại
thần vào đây tế tự (ngày 10 tháng 11 dương lịch).
Tang thương biến đổi, đến thời binh Nhật hoành hành
một lúc… Chùa đã hư tệ sẵn, thêm các lính tập đạo
binh Lang sa phá phách, hầu hết những bài vị đều
xiêu lạc. Vợ con binh lính đến ăn ở nơi đây không
lòng bảo tồn, nên chùa mau điêu tàn. Đến lượt đạo
binh viễn chinh Pháp trở lại chiếm thành Ô Ma sau
khi Nhật đầu hàng, thì họ triệt hạ Hiển Trung Từ
lúc nào không rõ ắt, bất chấp đó là di tích hiếm
có trong Nam. Kịp đến khi Pháp trả thành Ô Ma cho
Việt Nam Cộng Hòa, thì đền Trung Hiển chỉ còn một
danh từ hão trong trí nhớ của những người hiếu cổ.
Lại nữa, trong tập kí ức của cụ Trương Vĩnh Ký,
còn nhắc một cổ miếu của thành Ô Ma này, danh gọi
“Miễu Hội Đồng” (thờ đủ chư vị), cũng gọi là “Miễu
Thánh”, có trước đời Gia Long. Tập kí ức cho ta
biết thêm rằng vị trí miếu này ở giữa hai hào sen
lớn. Nhưng năm 1885 võ quan Pháp chiếm cứ miếu này
làm nơi ăn ở thành thử lâu ngày miếu xưa mất tích,
nay không còn biết rõ chắc xưa ở nơi nào. Cụ Trương
Vĩnh Ký nhắc lại chính trước Hiển Trung Từ và Miễu
Hội Đồng ngoài Lộ cái, thuở cựu trào có xây hai
cột gạch và đá, một đề “Khuynh Cái” (nghiêng lọng
nghiêng dù), một đề “Hạ Mã” (xuống ngựa), nay di
tích ở đâu?
Lại còn một ngôi chùa khác nữa gọi “Chùa Oâng Phúc”,
cũng gọi “Chùa Phật Lớn”, trong tập kí ức ghi ở
bọc theo một con lộ nhỏ dài theo bờ ao sen lớn thành
Ô Ma, thì cụ Trương Vĩnh Ký đã nhìn nhận mất tích
từ năm 1885 vậy.
Khỏi một cống nước ăn thông với ngọn “Rạch Cầu Bà
Đô”, thì xưa kia có hai ngôi mộ khá to, tương truyền
là mộ phần của hai hoàng tử con của Nguyễn Văn Nhạc
tục gọi là “Mộ Hoàng Thùy” và “Mộ Hoàng Trớt”, nay
đã không còn vì có lẽ bị phá bỏ từ lâu để xây cất
nhà phố, đâu còn cháu con dòng họ để nhìn nhận?
Thậm chí tiếng đồn trước kia tại Rạch Bà Đô có một
cái chợ, vì nhóm họp buổi sáng nên danh gọi là “Chợ
Mai” nay cũng không biết khi xưa tọa lạc chốn nào?
Rạch Bà Đô, di tích tồn tại đến năm 1959, còn dấu
cũ con rạch nước dơ, nay đã lấp đi, nhường chỗ cho
một trạm bán xăng, đường Trần Hưng Đạo, ngó xéo
qua đại lộ Cộng Hòa (Nguyễn Văn Cừ).
Con đường ngang Nhà Thờ Chợ Quán có hai ngôi chùa,
một gọi “Kim Tiên Tự”, sau đổi lại là “Nhân Sơn
Tự”, một cái khác nữa gọi là “Chùa Gia Điền”. Hai
chùa này đã không còn từ năm 1885.
Từ Chợ Quán trở vô Chợ Lớn thì đầu tiên gặp “Xóm
Bột”, ngày ngày phơi trắng dã tận lề đường những
bột mì, bột đậu, bột lọc, bột khoai v.v… Đi tới
nữa thì gặp “Chợ Hôm”, nhóm chiều tối để đối với
“Chợ Mai” đã nói trên.
Sau Chợ Hôm, có một ngôi chùa thờ một vị tướng lãnh
của Cao Hoàng, bị Tây Sơn giết, không biết tên,
chỉ ghi họ Trần. Chùa “Trần Tướng” ở đâu cũng không
ai biết[70].
Trên một con rạch nhỏ, gần mộ nghĩa địa người Tàu
có một cái cầu, gọi “Cầu Linh Yển”. Yển là một quân
sĩ trung thành của Nguyễn Chúa, một hôm cõng vua
trên vai, chạy đến đây thì ngộ nạn. Chúa được một
lực sĩ thay vai cõng chạy vuột, Yển bị Tây Sơn giết.
Chúa Nguyễn thương tiếc lắm, sau tức vị sai dân
lập miếu thờ Yển. Trong sách ghi miếu thuộc xóm
Tân Thuận, cũng có tên khác là “Hàm Luông”.
Gần nơi đây, thuở xa xưa có một gốc me thật lớn,
dưới bóng râm có lập một quán chuyên bán bánh nghệ
tục danh là “Quán Bánh Nghệ”. Cũng vì cây me ấy,
nên xóm này gọi “Xóm Cây Me Mát”.
Đường Đồng Khánh (Marins cũ) có hai xóm là “Xóm
Cốm” và “Xóm Chỉ”. Mặc dầu nay đã có tên Việt (Đồng
Khánh), đường Marins xưa vẫn có một tên riêng rất
thơ là “Hàng Cháo Muối”, cho đến nay người cố cựu
đất Chợ Lớn vẫn quen dùng chưa bỏ. Truy ra ở đây
lúc trước có một người Triều Châu khuya khuya gánh
“cháo muối” (thứ cháo trắng nấu thật nhừ với tấm
xay nhỏ, trong cháo lỏng bỏng có vài trái bạch quả,
cũng gọi “bạch quả chúc”. Người Quảng Đông thích
ăn cháo muối sau một đêm thức trắng, vì nhẹ tiêu
mau khỏe con người.) bán dài theo con đường nầy.
Món hàng rẻ tiền, vừa nóng vừa ngon, đã giúp ông
“danh lưu hậu đại”. Cũng như đường Tản Đà, thuở
trước mì cháo đều ngon, có thứ tép lăn bột chiên
nguyên con và cháo “bào ngư” thật ngọt. Ngày nay
đã cấm bán rong ngoài đường, những thức ăn khuya
đặc biệt nầy mất, và mất luôn “những thú phong lưu”
cựu thời của bợm sành ăn!
Trong kẹt đường Đồng Khánh, gần đầu cầu Chà Và vài
ba mươi năm trước, có một lão Tiều gánh gánh bán
cháo khô cá hường ăn với cải “tằng ô”. Đèn nhá nhem,
người bu đông đến độ cháo không kịp bán, thêm tuổi
vừa đôi mươi “ăn sắt cũng tiêu”, bàn ghế không có,
mỗi người tự tiện lấy húp ngon lành, ngó mặt nhau
vẫn quen quen: Cô Ba Trà, ông Cò mi Kính và tớ đây,
kẻ còn, người mất, đứa bạc đầu!
h) Cầu Đường, Cầu Khâm Sai, Chùa Cây Mai
Nay thử bắt đầu từ trong Chợ Lớn kể ra. Về phía
bên kia “Đường Trên” (Route Haute), lần lượt ta
gặp:
Nghe nói lại, lối năm 1885, thì chợ cũ ở vào xóm
nhà Dưỡng đường Chợ Rẫy, nay chỉ còn trơ lại một
danh trơn và đây có lẽ là một chợ hồi đời trước,
đến trào Pháp lại dẹp đi. Trước Dưỡng đường Chợ
Rẫy, xưa kia có một ngôi mộ cổ bằng vôi, kiểu chạm
trổ rất khéo, tương truyền là của một ông hầu tước
họ Đỗ (Tombeau du marquis de Đỗ). Trường Viễn Đông
Bác cổ đã xin liệt kê làm cổ tích, nhưng chủ đất
là người có thế lực, một hai xin phá để cất phố
xá và viên Toàn quyền Decoux ưng lời, thiệt là rất
tiếc cho một cổ tích không có người ủng hộ. Mộ phần
họ Đỗ này có dính líu chăng với Tả quân phu nhơn,
tên tộc là Đỗ Thị Phẫn. Tương truyền khi Lê Tả quân
bị tội, phu nhơn về ngụ nơi xóm Chợ Rẫy, trong một
ngôi chùa Phật, do bà mẹ năm xưa đứng tạo lập tục
danh là Chùa Bà Dội.
Từ con đường Cháo Muối (Đồng Khánh) xuống một con
kinh, sau lấp đi biến thành đại lộ Tổng Đốc Phương,
thì có xóm người “Minh Hương”, ngày nay còn sót
lại một di tích nguy nga tráng lệ là chùa “Minh
Hương Gia Thạnh”, tạo lập năm 1788, về sau có tu
bổ lại nhiều lần. Chùa này nằm trên đờng Đồng Khánh,
day mặt ngó qua Bót Cái Quận Tư (nay đổi làm Quận
Năm), trong chùa còn giữ được đạo sắc thần của vua
phong[71], cùng bài vị sơn son thếp vàng của các
ông Trần Thắng Tài, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh,
Vương Hữu Quang và bút tích liễn đối do tay Trịnh
Hoài Đức viết. Đây là một xóm kỳ cựu nhất và hiệp
với xóm Chùa Quan Võ, đường Triệu Quang Phục (Quảng
Tống Cái cũ), là trung tâm buôn bán của cựu Chợ
Lớn ngày xưa. Ông Trương Vĩnh Ký nhắc năm 1885 tại
đây có nhiều nhà buôn giàu có, vách xây gạch hai
mươi, nnóc có phong tô, lợp ngói lăn ống y một kiểu
kiến trúc như bên Trung Quốc, nay xem lại nhiều
nhà vẫn y như cũ.
Các nhà buôn lớn người Tàu xưng “Tầu Khậu“, do danh
từ (đây là từ tiếng Hoa, đọc âm Hán Việt là “Thổ
khố”, nghĩa là nhà chứa hàng hóa) phát âm giọng
Triều Châu Phúc Kiến. Cũng có khi họ dùng danh từ
“Đại Khố” (đồng một nghĩa với từ trên). Khi khác
họ tâng nhau, xưng là “Tàu kê” (Đại Gia), tỷ dụ
như Chà Đen cho vay bạc, tức Chà chetty cũng xưng
“Tàu kê mập”, “Tàu kê ốm”, Chà bán vải cũng xưng
“Tàu kê bán vải”, thậm chí mụ tú bà cũng bắt gọi
mình là “Mụ Tàu kê” và oái ăm thay, “hạng lãnh giấy
số ở nhà má” hẳn đòi để treo giá ngọc, cũng xưng
mình là “con gái nhà đại gia”, “gái Tàu kê” chính
cống!
Mỗi năm cứ đến mùa gió thuận, thì thuyền buôn miệt
Sơn Đầu (Swa-tow) chở hàng từ Trung Hoa sang đất
Việt đổi chác lăng xăng: cam Quảng (Quảng Đông),
cam Tiều (Triều Châu), hồng khô, kim quýt kiểng,
hàng lụa Bắc Thảo...
Ở gần vùng này, trong sách còn ghi một cái cầu danh
gọi Cầu Đường, vì ở xóm bán đường phèn, đường thẻ,
đường hạ, đường cát, đường phổi đủ thứ. Cầu Đường
này nối liền hai cái chợ:
- Một chợ nhà lồng hình tam giác, trong chợ bán
đủ món, dọc ba bên có tiệm chạp phô Hoa kiều tấp
nập (nay nhà chợ đã nhường chỗ cho nhà Bưu điện
Chợ Lớn).
- Một chợ hình chữ nhật, từ Cầu Đường đến đường
Thủy Binh, nay trở nên một đoạn của đại lộ Tổng
đốc Phương. Và ngày nay Rạch Chợ Lớn cũng gọi Rạch
Cầu Đường biến thành đại lộ Gaudot, và nhà “Thông
Hiệp” của Quách Đàm chính ở đây day mặt tiền ra
Rạch Cầu Đường (Rạch Chợ Lớn) với cái mộng “phong
thủy đầu Rồng”.
Từ Cầu Đường vô Cầu Khâm Sai, trên đường Gò Công,
cũng gọi Cầu Khâm Sai hay Cầu Ba Miệng, nhà cửa
nối liền san sát xem rất ngoạn mục. Xóm Lò Gốm ở
ném về làng Phú Lâm, trên một con kinh thông ra
Ngã Tư, đầu kia chạy tới Cầu Khâm Sai, dân trong
xóm sanh nhai bằng nghề làm đồ gốm, ngói gạch, chậu
kiểng, lu mái, đôn sành để chậu kiểng v.v...
Tại ngã tư, đầu đường Cây Mai cũ (nay Nguyễn Trãi)
xưa có một cái cầu, danh gọi “Cầu Phố” vì bắc trong
con đường “Phố Xếp”, là đường Tổng Đốc Phương hiện
nay, nơi đây có kinh và nhà Đỗ Hữu Phương, nay kinh
đã lấp, nhà họ Đỗ đã bán cho người Tàu dỡ mất và
thế vào là nhà phố lầu cao ngất, tửu quán, ciné.
Kinh Cầu Phố hồi đó gọi là “Kinh và Đường Phố Xếp”.
Thân trên Chùa Bà (thờ bà Thiên Hậu Thánh Mẫu),
dọc đường lên Cầu Phố, xưa có một cái giếng, tục
gọi nôm na “Giếng Chùa Bà” hoặc “Giếng Bộng”. Có
danh là nước tốt và ngọt hiền nên các nhà văn nhân
thuở ấy đặt là “Giếng Cam Tuyền”.
Dài theo bờ kinh từ Cầu Đường trở ra đến Cầu Kinh
Phố Xếp, là địa phận làng Quới Đức. Chợ nơi đây
cũng gọi là “Chợ Kinh”.
Chỗ Nhà Thờ Cha Tam hiện nay xưa là “Chợ Lò Rèn”,
đây là xóm của thợ rèn và thợ kéo chỉ sắt. Vì họ
chuyên môn giỏi giắn nên thời ấy đã gọi họ là quân
Mậu Tài. Chợ Lò Rèn ở bên kia đầu Cầu Phố. Ngày
nay vẫn còn vài tiệm chuyên nghề kéo chỉ sắt và
cán kim ngân ra lá, trước cửa tiệm có trưng bày
một hay vài cái máy cán, quen gọi là “bàn cán” (laminoir).
Lối Đồn Cây Mai có một cái cầu gọi “Cầu Ông Tiều”.
Theo tôi, “Tiều” đây là “Triều Châu” đọc trại đi,
vì xóm có nhiều người làm rẫy dân Tiều, chớ không
có người tiều phu nào.
cùng bài vị sơn son thếp vàng của các ông Trần Thắng
Tài, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Vương Hữu Quang
và bút tích liễn đối do tay Trịnh Hoài Đức viết.
Đây là một xóm kỳ cựu nhất và hiệp với xóm Chùa
Quan Võ, đường Triệu Quang Phục (Quảng Tống Cái
cũ), là trung tâm buôn bán của cựu CHợ Lớn ngày
xưa. Ông Trương Vĩnh Ký nhắc năm 1885 tại đây có
nhiều nhà buôn giàu có, vách xây gạch hai mươi,
nnóc có phong tô, lợp ngói lăn ống y một kiểu kiến
trúc như bên Trung Quốc, nay xem lại nhiều nhà vẫn
y như cũ.
Các nhà buôn lớn người Tàu xưng “Tầu Khậu“, do danh
từ (đây là từ tiếng Hoa, đọc âm Hán Việt là “Thổ
khố”, nghĩa là nhà chứa hàng hóa) phát âm giọng
Triều Châu Phúc Kiến. Cũng có khi họ dùng danh từ
“Đại Khố” (đồng một nghĩa với từ trên). Khi khác
họ tâng nhau, xưng là “Tàu kê” (Đại Gia), tỷ dụ
như Chà Đen cho vay bạc, tức Chà chetty cũng xưng
“Tàu kê mập”, “Tàu kê ốm”, Chà bán vải cũng xưng
“Tàu kê bán vải”, thậm chí mụ tú bà cũng bắt gọi
mình là “Mụ Tàu kê” và oái ăm thay, “hạng lãnh giấy
số ở nhà má” hẳn đòi để treo giá ngọc, cũng xưng
mình là “con gái nhà đại gia”, “gái Tàu kê” chính
cống!
Mỗi năm cứ đến mùa gió thuận, thì thuyền buôn miệt
Sơn Đầu (Swa-tow) chở hàng từ Trung Hoa sang đất
Việt đổi chác lăng xăng: cam Quảng (Quảng Đông),
cam Tiều (Triều Châu), hồng khô, kim quýt kiểng,
hàng lụa Bắc Thảo...
Ở gần vùng này, trong sách còn ghi một cái cầu danh
gọi Cầu Đường, vì ở xóm bán đường phèn, đường thẻ,
đường hạ, đường cát, đường phổi đủ thứ. Cầu Đường
này nối liền hai cái chợ:
- Một chợ nhà lồng hình tam giác, trong chợ bán
đủ món, dọc ba bên có tiệm chạp phô Hoa kiều tấp
nập (nay nhà chợ đã nhường chỗ cho nhà Bưu điện
Chợ Lớn).
- Một chợ hình chữ nhật, từ Cầu Đường đến đường
Thủy Binh, nay trở nên một đoạn của đại lộ Tổng
đốc Phương. Và ngày nay Rạch Chợ Lớn cũng gọi Rạch
Cầu Đường biến thành đại lộ Gaudot, và nhà “Thông
Hiệp” của Quách Đàm chính ở đây day mặt tiền ra
Rạch Cầu Đường (Rạch Chợ Lớn) với cái mộng “phong
thủy đầu Rồng”.
Từ Cầu Đường vô Cầu Khâm Sai, trên đường Gò Công,
cũng gọi Cầu Khâm Sai hay Cầu Ba Miệng, nhà cửa
nối liền san sát xem rất ngoạn mục. Xóm Lò Gốm ở
ném về làng Phú Lâm, trên một con kinh thông ra
Ngã Tư, đầu kia chạy tới Cầu Khâm Sai, dân trong
xóm sanh nhai bằng nghề làm đồ gốm, ngói gạch, chậu
kiểng, lu mái, đôn sành để chậu kiểng v.v...
Tại ngã tư, đầu đường Cây Mai cũ (nay Nguyễn Trãi)
xưa có một cái cầu, danh gọi “Cầu Phố” vì bắc trong
con đường “Phố Xếp”, là đường Tổng Đốc Phương hiện
nay, nơi đây có kinh và nhà Đỗ Hữu Phương, nay kinh
đã lấp, nhà họ Đỗ đã bán cho người Tàu dỡ mất và
thế vào là nhà phố lầu cao ngất, tửu quán, ciné.
Kinh Cầu Phố hồi đó gọi là “Kinh và Đường Phố Xếp”.
Thân trên Chùa Bà (thờ bà Thiên Hậu Thánh Mẫu),
dọc đường lên Cầu Phố, xưa có một cái giếng, tục
gọi nôm na “Giếng Chùa Bà” hoặc “Giếng Bộng”. Có
danh là nước tốt và ngọt hiền nên các nhà văn nhân
thuở ấy đặt là “Giếng Cam Tuyền”.
Dài theo bờ kinh từ Cầu Đường trở ra đến Cầu Kinh
Phố Xếp, là địa phận làng Quới Đức. Chợ nơi đây
cũng gọi là “Chợ Kinh”.
Chỗ Nhà Thờ Cha Tam hiện nay xưa là “Chợ Lò Rèn”,
đây là xóm của thợ rèn và thợ kéo chỉ sắt. Vì họ
chuyên môn giỏi giắn nên thời ấy đã gọi họ là quân
Mậu Tài. Chợ Lò Rèn ở bên kia đầu Cầu Phố. Ngày
nay vẫn còn vài tiệm chuyên nghề kéo chỉ sắt và
cán kim ngân ra lá, trước cửa tiệm có trưng bày
một hay vài cái máy cán, quen gọi là “bàn cán” (laminoir).
Lối Đồn Cây Mai có một cái cầu gọi “Cầu Ông Tiều”.
Theo tôi, “Tiều” đây là “Triều Châu” đọc trại đi,
vì xóm có nhiều người làm rẫy dân Tiều, chớ không
có người tiều phu nào.
Theo ông Trịnh Hoài Đức, Chùa Cây Mai, tên chữ là
Thứu Lãnh Tự, nguyên cất trên một nền chùa cổ Cao
Miên, xung quanh có đào ao rộng và sâu, hồi xưa
mỗi năm tại đây có tổ chức lễ đua “ghe ngo” (ghe
ngo là “túk nguâ” của người Miên dùng để thi đua
các làng có chùa Miên) tức là lễ “đưa” nước khi
cuối mùa làm lúa và “lễ rước nước” đầu mùa làm ruộng.
Dưới đời vua Minh Mạng, chùa được tu bổ lại, tương
truyền hai ông Nguyễn Tri Phương và Phan Thanh Giản
có lập tại đây một thủy tạ trên có gác cao. Bấy
lâu nghe đồn tại chùa có một gốc mai già bông trắng,
từng trải mấy phen biến cố, và đã làm đầu đề bài
thơ bất hủ sau:
Vịnh Mai Sơn Tự (Chùa Cây Mai) Phú Lâm
“Đau đớn thay cho Mai cách dưới đèo.
Mười phần trong sạch phận cheo leo.
Sương in tuyết đóng cành thưa thớt.
Xuân đến thu về, sãi quạnh hiu.
Lặng lẽ chuông quen con bóng xế.
Tò le kèn lạ mặt trời chiều.
Những tay rượu thánh thi thần cũ.
Trông cảnh bao nhiêu tiếc bấy nhiêu.”
(Tôn Thọ Tường, bản Khuông Việt, tr.88)[72]
Đầu xuân năm Canh Tý (1960), thi sĩ Đông Hồ đã đến
thưởng bạch mai tận gốc, bận về viết bài “Tìm dấu
bạch mai” đăng trong Bách Khoa số 76 ngày 1/3/1960
trang 23-32.
Kế đó ông bạn Thái Văn Kiểm có đưa tôi đến ngắm
Cây mai “cổ tích” và viết tiếp bài ông Đông Hồ “Tìm
dấu bạch mai” cũng trong Bách Khoa số 78 ngày 1/4/1960
trang 51-58.
Như vậy cũng đã cạn tàu ráo máng.
Sách Gia Định thông chí chép rằng năm 1816, sư tăng
tu bổ chùa, nhân đào đất, có gặp dưới nền chùa nhiều
thức gạch cũ và ngói cũ kiểu cổ Cao Miên, nhưng
tiếc thay thời ấy chưa biết giá trị của những vật
ấy nên không để lại dành làm tài liệu khảo cổ.
Gần Chùa Cây Mai (chữ gọi Mai Sơn Tự, khi gọi Thứu
Lãnh Tự) còn một ngôi chùa khác gọi Phụng Sơn Tự,
cũng thuộc lịch sử cận kim thời đại. Chùa này gọi
tục danh là “Chùa Gò” vì cất trên một gò nổi cao,
chung quanh nước bao bọc, quả là di tích của một
nền chùa cổ Cao Miên. Hỏi thăm, một ông đạo trong
chùa nói xưa có đào được một đại hồng chung của
người Miên; tôi lấy làm ngờ vì người Cao Miên tu
đạo Phật không dùng chuông như ta. Có chăng thì
sách ghi lại rằng tại một nền Chùa Gò có đào gặp
một khúc tay Phật đá, kiểu Miên, nhưng cũng không
biết để dành khảo cứu. Vùng Cây Mai và Chùa Gò đáng
được các nhà khảo cổ chú ý nhiều nếu muốn sưu tầm
gối Prei Nokor.
Còn chỗ tòa Hành chánh Chợ Lớn, xưa thuộc huyện
Tân Long. Ngoài vòng rào tòa Hành chánh có con đường
rải đá chạy bọc theo hông Chùa Chà Và đạo Hồi, mấy
năm trước còn mang tên “rue des Clochetons”. Đó
là con đường xẻ chạy thẳng vô Chùa “Kiểng Phước”
cổ tự. Năm 1860 binh ta lấy chùa Kiểng Phước làm
ổ kháng chiến chống giặc Pháp. Năm 1866 chùa đã
điêu tàn vì bị dỡ phá, chỉ còn chút phương danh
trong lịch sử kháng chiến mà thôi. Truy ra vị trí
chùa này nằm lọt giữa con đường Maréchal Foch (nay
là đường Nguyễn Văn Thoại), còn một phần lớn lại
ở về lô đất bông đồ mới số 20 và 23 ngang ngang
lại với trường học con gái (bông đồ 21) thường gọi
“Trường Bà Đầm”.
i) Trở về Chợ Quán
Tân Kiểng, Nhơn Giang (trước 1885 mang tên Nhơn
Ngãi), Bình Yên là tên ba làng xưa, sau sáp nhập
làm một là vùng CHợ Quán. Trước kia, nơi đây có
làng Thợ Đúc, trong một bản đồ đính theo tập nhỏ
này gọi “ancien village des fondeurs” – dân trong
làng chuyên nghề trau lư đồng có tiếng, nổi danh
một thuở, không kém lư Chợ Gạo (Phú Lâm). Gọi là
“Chợ Quán” vì thuở trước chợ nhóm họp dưới gốc những
cây me đại thọ lối nhà thương Chợ Quán hiện nay.
Chung quanh chợ có nhiều quán xá lốc cốc tựu một
chỗ nên đặt tên làm vậy.
Mấy mươi năm về trước, có một phú ông, sanh trưởng
tại Chợ Quán di cư xuống miệt Sóc Trăng khai phá,
làm ruộng lớn, lập nên sự nghiệp đồ sộ, về già thâu
tóm của cải và tạo lập tại đường Trần Hưng Đạo một
ngôi nhà hùng vĩ lấy tên là “Villa Nhơn Giang”,
để nhắc lại tên xưa làng cũ. Tôi còn nhỏ không biết,
mỗi lần đi ngang đều cười thầm hai chữ “Nhơn Giang”.
Sau này, chủ nhân mãn phần, gặp năm kinh tế khủng
hoảng, hội “Đức Trí Thể Dục” đấu giá mua lại rất
rẻ, nhưng không biết vì sao lại lọt vào tay quân
đội Nhật đến ở, rồi chuyển lần sang quân đội Pháp
đến chiếm, mãi đến khi trở nên trụ sở cơ quan cố
vấn quân sự Mỹ. Đến đây là dứt hay còn thay đổi
chủ nữa? Phải chăng vì nhà choán chỗ nền cũ Chùa
Miên nên không ai cầm giữ được lâu bền? Hỏi thì
ló mòi dị đoan, nhưng không hỏi không được! Ngôi
nhà này tọa lạc trên một cuộc đất cao ráo, trong
sách ông Trương Vĩnh Ký viết năm 1885 đã bày rõ
vẻ cổ tích của vùng đất này, sau Viện Bảo Tàng đến
đào và tìm gặp nhiều tảng đá to kiểu Cao Miên, hiện
đem về đặt ngoài hành lang Việt, xem lại hình như
đó là táng cửa, táng cột phướn Khmer và định chừng
nếu có dịp đào đất chỗ này, may ra còn gặp cổ tích
Prei Nokor nữa.
Ngang tòa nhà cũ “Đức Trí Thể Dục”, có một ngôi
nhà lầu không kém vĩ đại và có liên quan đến cổ
tích Cổ Sài Gòn. Nhà xây cất trên nền nhà xưa của
học giả Trương Vĩnh Ký tiên sinh, ngoài cửa, chục
năm về trước, còn thấy gắn một bảng đá biên rành
mạch sự tích này, nhưng nay không rõ vì sao đã dẹp
không còn treo nữa? Chủ nhà này (quý danh là H.M.Ph.)
là một người đàn bà có chí lớn và có sự nghiệp ruộng
đất mênh mông vùng Sóc Trăng quê tôi. Hôm nay tôi
tưởng niệm bà là người mua sắm đồ sứ cổ trước nhất
trong Nam và bà quả là người có ngọc nhỡn trong
khoa chơi cổ ngoạn. Năm 1940, Nhật đổ bộ vào đây,
trước tiên đến chiếm cứ ngôi nhà này, đặt làm trụ
sở và trục xuất bà. Nhật bại binh, ngôi nhà này
sang tay quân đội Pháp, mãi đến nay tang thương
biến đổi, gia chủ đã lìa trần, ngôi nhà thay chủ,
trở nên một xưởng dạy đóng giày và may quân phục...
Bây giờ là trại Yên Thế. Cố chủ đã mất, không rõ
những đồ xưa quý giá dời giấu lúc loạn ly nay còn
gìn giữ nguyên vẹn hay chăng?
Nhắc đến bà, khiến tôi nhớ lại một buổi sáng năm
1939. Lúc ấy bà còn sõi lắm, tuổi tác trên 80 mà
nhanh nhẹn như người cỡ lục tuần. Sáng hôm ấy, tôi
đến gõ cửa nhờ báo tin có khách muốn xem đồ cổ ngoạn.
Đến khi tôi trình diện, bà thấy tôi còn nhỏ tuổi,
bà hơi ngại dạ, nhưng đẫ hứa lỡ, bà cũng chẳng đã
ừ hữ có chừng. Sẵn bà ngồi rửa mặt, bà đưa tay chỉ
sơ những món chưng bày gần chỗ bà ngồi cho tôi xem,
tức những món để nhà bếp! Tôi rảo một vòng, thấy
nào chóe lớn, tô xưa đủ cỡ, cái nào cũng khá, cũng
coi được. Xem rồi, tôi định kiếu từ, nhưng nãy giờ
tôi không dè chừng bà để ý từng cử chỉ, từng lời
bình phẩm. Độ chừng không chướng tai bà lắm nên
bà sai trẻ mở rộng cửa nhà trên lúc nào tôi không
hay biết, khi tôi cáo thoái bà không cho, mời tôi
bước thẳng lên thưởng thức đồ sưu tập chính thức.
Đây mới quả là một bộ môn có giá trị, gồm đủ các
loại: be, bầu, ngõng, hũ, chóe, nai, nậm, nhạo,
vò, chum v.v... cái nào cái ấy toàn hảo xinh tốt
thật cổ, thật quý, đáng gọi đồ sưu tập danh bất
hư truyền. Tôi xem mãi không biết chán, day lại
thấy mắt bà lóng lánh vui vui. Nhưng ngày giờ có
hạn, tôi không dám lợi dụng lòng tốt của bà nên
xin kiếu một phen nữa. Phu nhân không nghe, mời
lên lầu xem nốt những đặc phẩm thuở nay ít cho mắt
người lạ ngó vào. Ban đầu, tôi cũng tưởng vị lòng
phu nhân lên xem lấy lệ, nhưng khi vào được “tháp
ngà chứa toàn bảo vật” này, tôi mới hiểu tôi tốt
phước bậc nào! Làm sao tả được những cái khéo cái
lạ chứa trên lầu của phu nhân? Hạt hổ phách lớn
bằng trái mù u chưa lột vỏ! Ngọc mã não tiện tròn
làm hạt chuỗi Bồ đề, nhưng khoét bộng ruột để chứa
thuốc độc (nghe đâu đó là chuỗi thánh trị gia đời
Tự Đức thường đeo hộ thân, phòng khi ngộ biến lấy
đó hủy mình, khỏi lậu cơ mưu, và cũng không cho
tục nhân xâm phạm quý thể). Còn đây là bộ chén trà
bằng ngọc lưu ly, nếu rót nước vào thì vun chùn
như miệng chén lên be thêm; còn kia là bầu thủy
tinh trong suốt, lóng lánh chói như hạt sương gặp
nắng; này là đấu rượu bằng sừng tê giác (nôm gọi
u tây) chạm rõ khéo, tuyệt đẹp. Mà đẹp nhất, quý
nhất có lẽ là hai tấm cửa bật để che gió: khuôn
vành bằng trắc “hổ bì” vân mun vằn vện rất lạ mắt;
mặt khảm ngọc thạch nguyên miếng và cẩm thạch màu
xanh lục “phỉ thúy”, một bên thì chạm “kỳ sơn dị
thảo”, một mặt khắc bài thi, toàn “thi ngự chế,
ngự bút” vua Càn Long, nội mấy tấm ngọc này, giá
thử lấy ra làm trang sức phẩm thì không biết bao
nhiêu tiền. Nơi giữa nhà, dựa theo hai cột cái,
chưng hai lộc bình to tướng, men lam chấm “sơn thủy”,
cái nào cái nấy sức tôi ôm không giáp và cao còn
chút xíu nữa đụng trần nhà, cả hai không tì không
vết, không khờn cũng không mẻ, mới đáng gọi là của
vua của chúa gì đây! Nhưng theo ý tôi, những món
này tuy quý lạ, vẫn không làm cho tôi say mê bằng
mấy bộ chén trà và tô uống trà, có thơ nôm hoặc
hiệu đề đúng vào những năm đi sứ của sứ bộ Nguyễn
triều, hoặc những bình tích “Mạnh Thần”, “Thế Đức”,
thật cổ thật xinh, thuở nay tôi chưa từng thấy ở
đâu có nhiều và có đẹp như ở nhà này. Xem không
mãn nhãn, nhưng phu nhân bản thân hướng dẫn, sớm
giờ đã quý lắm rồi, tôi kiếu từ, bà dặn với bảo
tôi khi nào rảnh trở lại tiếp xúc với các công tử
và ráng giùm giảng giải nghĩa các cậu nghe rằng
mua sắm đồ cổ không phải là đem tiền vứt sông vứt
biển! Lúc từ giã, tôi có cảm giác sống cảnh “Cao
Thiên Tứ viếng nhà Lưu Dung” tả trong truyện Tàu
“Càn Long hạ Giang Nam”. Cao Thiên Tứ là tên giả
của vua Càn Long, xưng tạm trong khi đi chơi miền
Nam, viếng nhà Lưu Dung, thấy biển đề năm chữ “THIÊN
HẠ ĐỆ NHẤT GIA”, vua không bằng lòng nên tự tìm
hiểu trước khi phán đoán. Nhà năm ngăn bảy nắp có
vòng tường bao bọc không khác cung điện của nhà
vua. Vào nhà trước gặp cháu nội Lưu Dung, còn học
sinh, chưa biết gì. Vô nhà tầng nhì gặp con trai
họ Lưu, cũng ú ớ không trả lời được. Nhập vào tầng
thứ ba gặp em Lưu Dung và tầng thứ tư gặp cha của
Lưu Dung, đều ấp úng cắt nghĩa không gãy gọn năm
chữ vàng nọ. Duy khi đến đại thính đường gặp một
lão trượng đầu râu bạc phếu, dáng điệu thanh kỳ,
đây chính là ông nội của thừa tướng Lưu Dung. Oâng
giải rằng ông được tám mươi mốt tuổi, ăn lễ bát
tuần thượng thọ, anh em trong xóm thấy nhà ông năm
đời khoa giáp nối tiếp không dứt, phú quý vinh hoa
tột phẩm, thêm trường thọ sum vầy, nên đi tặng ông
tấm biển sơn son thếp vàng “THIÊN HẠ ĐỆ NHẤT GIA”
ấy. Cao Thiên Tứ nghe rõ tự sự, gật đầu nhận thầm
rằng năm chữ vàng rất xứng và không có chi là phạm
thượng. Tôi đứng lại kể sự tích này cho phu nhân
nghe, không dám tự ví mình với Cao Thiên Tứ hoặc
với ông hoàng đế phong lưu nhà Mãn Thanh, nhưng
nhấn mạnh nơi chỗ nhà phu nhân kể từ nhà bếp, nhà
dưới lầu trên không khác mấy đời thế phiệt, câu
“THIÊN HẠ ĐỆ NHẤT GIA” sánh với chỗ này không chi
là ép gượng. Phu nhân không trả lời, đứng trước
thềm nhà tiễn tôi, hai hột kim cương nơi trái tai
runh rinh lóng lánh. Dè đâu đó là buổi chót! Nay
bảo ngọc trân châu quý đến mấy phu nhân cũng chẳng
màng bao, mấy hàng tưởng niệm thành kính này phu
nhân cũng không bao giờ đọc!
Trở lại câu chuyện làng Chợ Quán, từ đường Nhà Thương
đi đến một cái ao lớn, chỗ này mới đúng là làng
Thợ Đúc năm xưa.
Gần ngôi nhà lầu Đức Trí Thể Dục, còn dấu tích một
xóm cổ người Miên, hiện nay trong xóm còn một gò
đất cao hơn mặt đường cái, khách đi trên đường Trần
Hưng Đạo dòm vào thấy cao ngùn ngụn, đây là nền
chùa và xóm Thổ đời trước. Thỉnh thoảng dân cư còn
đào gặp gạch cũ kiểu Cao Miên, và cách nay mấy chục
năm Viện Bảo tàng có sưu tầm tại chỗ, nào Phật đá
nhỏ, Phật đồng đủ cỡ, đồ từ khí lụn vụn, đặc biệt
là một đèn đồng xưa hình hoa sen, trổ tượng một
nô bộc chân quỳ, hai tay bưng thiếp dầu; thêm có
ba tảng đá lớn mòn lỳ, độ chừng đây là ngạch cửa
chùa Thổ đời xưa. Các vật này hiện đem về lưu trữ
tại Viện Bảo tàng để làm dấu tích “Cổ Sài Gòn”,
một mớ thu xếp theo hành lang, một mớ để trong tủ
kiếng Trung đường.
Từ làng Nhơn Ngãi (sau đổi Nhơn Giang) tới giáp
đường Cầu Kho, xưa kia nhà phố đông đúc lắm, mỗi
nhà chung quanh đều có vườn tược cây trái xum xuê.
Gần đây có một xóm nguyên là của những người ăn
mày khi trước. Thuở Nguyễn Ánh tỵ nạn trong Nam,
bọn này có công cứu giá. Theo khẩu truyền, bữa đó
binh Tây Sơn truy nã ngặt lắm. Tưởng vua khó thoát
chết. May sao chạy đến đây, bọn ăn mày ra tay ủng
hộ. Một mặt họ chỉ đường cho vua ăn nấp. Một mặt
họ xúm lại người đánh trống kẻ đập thùng... làm
phở lỡ thế nào, binh tướng Tây Sơn ngộ tưởng binh
mã Chúa Nguyễn tụ tập nơi đây đông lắm, e quả bất
địch chúng, nên họ rút lui, Nguyễn Ánh thoát nạn.
Về sau nhớ ơn xưa, Gia Long cho phép lập xóm này
ban cho ba chữ “Tân Lộc Phường”. Chỗ này, truy ra
trước kia là ruộng lúa của người Miên trồng trọt,
đủ biết hồi đời đó, dân thưa đất rộng đến bậc nào.
Qua tay Nam trào, dân ta bồi ruộng thành đất nền
và đào một con kinh để lấy đất lấp nền, dân trong
xóm làm một cây cầu lấy tên “Cầu Gạo”, vì trong
xóm chuyên bán gạo. Cách đó không xa có một xóm
bán lá lợp nhà, tục danh “Xóm Lá Buông”. Xóm Lá
Buông ăn thông qua đường Boresse cũ, giáp lại với
Xóm Cầu Quan đã có nói rồi.
Xóm Lá Buông nay biết được vị trí của nó nhờ trong
sách có ghi rằng nơi đây có một khúc đường danh
gọi “Đường Nước Nhỉ”. Đường này xét ra ở giữa đường
đi Chợ Lớn đầu này trở ra Bến Thành, mé ngoài là
chợ Kim Chung (Kim Chương), mé trong là “Xóm Cây
Da Thằng Mọi”. Tài liệu này tôi gặp trong chú thích
ghi dưới bài “Gia ĐỊnh vịnh” bản in Trương Vĩnh
Ký 1882.
Theo một chỗ khác trong diễn văn đọc tại trường
Hậu Bổ 1885, “Souvenirs historiques”, chính cụ Trương
Vĩnh Ký cắt nghĩa thêm rằng: “Đường Nước Nhỉ” có
cái tên làm vậy vì thường thường đường này bị ngập
lụt, tứ mùa ẩm ướt. Nếu ai còn giữ bức địa đồ xưa
nào, xin tìm hộ con đường Nước Nhỉ, theo cụ Vĩnh
Ký thì ở vào lối khoảng đất đi chưa tới Sở Nuôi
Ngựa (Haras) của nhà binh và Đồng Tập Trận (Plaine
des tombeaux), từ vườn Bà Lớn (Phan Thanh Giản)
ngó qua Trường Đua cũ, cánh Đồng Tập Trận ăn thông
đến Xóm Lách, trên đường Yên Đỗ, chạy ra sau nhà
cũ Blancsubé, vì nhà này thường được nhắc đi nhắc
lại trong bài khảo cứu của cụ Trương Vĩnh Ký. Nay
định chừng thì nhà Blancsubé vốn ở lối đường Lê
Văn Duyệt (Verdun cũ) giữa chặng thành Ô Ma (trụ
sở Công an và Cảnh sát) chạy lên Chợ Đũi. Con Đường
Nước Nhỉ phải chăng nay là con đường Cống Quỳnh
ăn qua đường Phạm Ngũ Lão? Đường Cống Quỳnh trước
kia là con đường Blancsubé sau đổi làm rue d’Arras.
Để nhắc lại đây là một danh từ “là lạ” xưa thường
dùng mà không nghe nay nói nữa, danh từ này thoạt
nghe như có tính cách tục tĩu đó là hai tiếng “Cầu
Khấc”. Theo cụ Trương Vĩnh Ký xưa có đến hai cái
cầu trùng tên như vậy: ấy là “Cầu Bà Châu” (phải
chăng Bà Lệ Châu thờ làm tổ của những người thợ
bạc thợ vàng Chợ Lớn?) và một cầu khác nữa là “Cầu
Khấc” ngoài chợ Cầu Kho đi lên Đường Nước Nhỉ nói
trên.
Trong “Gia Định vịnh” có câu:
“Trên cây Da Còm, nỡ để ông Già gùi đội;
Dưới đường Cầu Khấc, chỉ cho trẻ con lạc loài”
Hai câu này dạy ta hai việc:
- Một là người xưa tánh tình chất phác thấy sao
nói vậy, không hiểu nghĩa đôi ba, thanh ý tục, không
kỵ cữ tiếng trùng âm như bây giờ;
- Hai là bởi quá say mê văn biền ngẫu, mỗi câu đều
muốn đối chọi, chơi chữ, thành thử tối nghĩa. Đại
ý như hai câu trên là:
Câu thứ nhất nhắc“Cây Da Còm” nảy ý nhớ đến cảnh
“Ông Già” gùi đội trong đèn dầu “Thằng Mọi chân
quỳ”, hoặc văn vật, nhớ câu“Lão giả bất phụ đái
ư đạo lộ” (lời Thầy Mạnh), ý muốn nói hễ nước nhà
thịnh trị thì “ông già không gùi đội”... (gùi đội
là mang đội).
Câu nhì nói “Cầu Khấc” thị tứ, trẻ con có thể lạc
đường... (câu này theo tôi không có cũng được).
j) Gần Dinh Độc Lập
Tòa án hiện nay và trường Pháp Chasseloup cũ, đều
ở ngoài thành lũy. Dinh Tả quân[73]phu nhân ở vòng
rào dinh Thống Nhất (dinh Độc Lập - 1960) ngày nay.
Xa một độ thì có “Nhà Hoa”, tức là chốn dành cho
Tả quân đến thưởng hoa giải muộn. Nhà hát bội, trường
bắn ná cũng của Tả quân, nền Xã tắc đều ở vùng này.
Xóm Lụa (dệt và bán lụa) cũng ở gần đây. Còn con
đường Hồng Thập Tự chạy đến Sở Nuôi Ngựa cũ thì
có “Xóm Thuẫn”, “Xóm Chậu”, “Xóm Củ Cải”.
“Chợ Cây Vông” thì ở lối nghĩa địa đô thành ngày
nay ăn giáp tới Cầu Bông. Theo ông Trần Văn Học
là ông quan đàng cựu đời Gia Long có công vẽ ra
bản đồ thành Sài Gòn thời ấy (1815) thì Cầu Bông,
trước kia gọi là “Cầu Cao Miên”[74]sau đổi là “Cầu
Hoa”[75]rồi vì húy tên một bà phi tần của đức Minh
Mạng nên gọi “Cầu Bông” cho đến ngày nay.
Còn trên đường Trưng Vương, có một cái cầu gọi là
“Cầu Xóm Kiệu” sau gọi tắt “Cầu Kiệu”, nay còn giữ
tên y như trước.
Qua khỏi “Cầu Kiệu” thì tới chợ Phú Nhuận, tục danh
xưa là “Chợ Xã Tài”, (mả ở đường Công Lý nay đã
cải táng). Làng Phú Nhuận, theo cụ Trương Vĩnh Ký,
xưa sung túc lắm, trong làng đếm đến bảy mươi hai
kiểng chùa, nay đâu còn?
k) Qua bên Thị Nghè
Thì gặp hai cầu: “Cầu Sơn” ở vùng đình Cầu Sơn và
“Cầu Lầu”.
Cũng tại Thị Nghè, trước nhà thương Dưỡng lão, có
một khoảng ruộng công điền, xưa gọi là “Tịch Điền”,
mỗi năm Lê Tả quân đều có đến khai “lễ hạ canh”
làm gương cho nông phu bắt đầu mùa năm mới, kế bên
sở “Tịch Điền” có cái đền “Thần Nông”, nay nhà cửa
dân cư đã xâm nhập mất dấu.
Theo cụ Trương Vĩnh Ký, lối năm 1885, gần rạch Thị
Nghè đổ ra sông Sài Gòn, có một miếu thờ Đức Thánh
Khổng Phu Tử, nay cũng không truy đúng ra ở nơi
nào (trong phần chú thích “Gia Định vịnh” có ghi
Văn Thánh Miếu, xưa ở đường Cầu Thị Nghè qua Cầu
Sơn, Cầu Lầu, khúc vòng nông, thân trên Rạch Bà
Nghè). Theo nguyên văn câu này đó ai biết Miếu Văn
Thánh nay ở vào đâu?
l) Trên đường Cao Thắng
Gần Tam Tông Miếu, mấy năm về trước còn thấy một
ngôi mộ xây ô dước to lớn, vì chồm ra lộ cái quá
nhiều nên bị cải táng. Hỏi ra đó là mả Huỳnh Công
Lý. Công Lý là quan to có con gái hầu đức Minh Mạng,
được vua sủng ái nên hay cậy thế ỷ thần. Theo cụ
Trương Vĩnh Ký chép lại, Lê Tả quân mắc ra chầu
vua ngoài Huế, Công Lý ở lại Sài Gòn, có làm nhiều
điều ngang dọc và dường như có xúc phạm đến một
cô hầu của Tả quân. Khi về Quan Lớn Thượng hay được
cả giận bèn tâu tự sự lên Minh Mạng. Oâng ua này
có ý binh vực cha vợ nên hạ chỉ giải Công Lý ra
Kinh đặng dễ bề tha tội. Tả quân biết trước, sẵn
có trong tay Thượng phương Kiếm được quyền “tiền
trảm hậu tấu” bèn chém đầu Huỳnh Công Lý[76], sai
quân đóng thùng ướp muối, gởi thủ cấp về Kinh, trên
nắp thùng viết mấy chữ: “Phụng Thừa Thánh Chỉ, xử
trảm tội nhân”. Minh Mạng thấy sự đã rồi, trong
lòng căm giận nhưng không làm gì được Lê Công. Sau
Bố chánh Bạch Xuân Nguyên đem chuyện này ra kết
tội khi quân cho Lê Công và vu thêm nhiều tội lớn
nữa. Vì vậy mới có giặc Phó Vệ úy Khôi làm phản,
giết Bạch Xuân Nguyên, chiếm cứ thành Sài Gòn cố
thủ được ba năm. Năm 1834, Khôi đau bịnh rồi chết,
bình định xong giặc Khôi, Minh Mạng sai phá bỏ thành
Sài Gòn, và năm 1836 xây lại cái thành khác nhỏ
hơn bằng vật liệu sẵn như đã nói rồi đoạn trước.
Thuở ấy trong dân gian có câu hát:
“Bao giờ bắt được giặc Khôi.
Cho yên việc nước chồng tôi đặng về.”
Khôi có hai phó tướng giúp sức, là ông Hoành (tú
tài) và ông Trấm. Hai người ăn ở ngang tàng, ai
ai cũng sợ họ. Ngày nay, mỗi khi gặp người quá ngang
ngạnh, bực tức quá thì người dân Sài Gòn Bà Chiểu
thường nói:
- Cha! Bộ nó là ông Hoành tái thế sao mà?
- Mấy cha đó, đâu cũng là ông Hoành ông Trấm chi
đây!
-----------
[38]Le nom de Chợ Quán, applique' aux villages
de Tân Kiểng, Nhơn giang, Bình Yên, était celui
du marche' qui se trouvait sous les grands tamariniers
de l'avenue de l'hôpital de Chợ Quán. Il y avait
beaucop d ' auberges, de la le nom de Chợ (marche')
quán (auberge).
Entre l'avenue de l'h ôpital et la ferme des Mares
était le village de fondeurs. Nhơn Ngãi (aujuord'hui
Nhơn Giang). On y remarque les vestiges dun ancien
village cambodgien. Une grande pagode cambodgienne
avec des tours en brisques, se trouvait sur une
propriété. En y creusant on trouve des brisques
cambodgiennes, des nénuphars en terre cuite, de
petits bouddhas en bronzee, en pierre. Il y reste
encore deux blocs de granit bien poli et ornés de
sculptures en relief.(Ces pierres se trouvent actuellement
au Musée National du Viet Nam (Jardin Botanique)
Saigon NDLR
De Chợ Quán (Nhơn Giang) jusqu à la route qui descend
à Cầu Kho, ce bord était habite' et parseme' de
maisons entoutees de jardins. (Souvenirs historiques
de Saigon et de ses environs, par Trương Vĩnh Ký,
1885, page 28).
[39]Cao Man Kiều: Ở Bình Dương, năm Tân Hợi quốc
sơ – 1731 – vua nước Cao Man là Nặc Tha bị Nặc Sô
đánh đuổi chạy qua Gia Định ở nương cậy chỗ đất
khoáng đãng nơi thượng du con sông, mà chỗ ở lại
cách sông, phải làm cầu ván qua lại, nên gọi là
cầu Cao Man, trích từ Đại Nam nhất thống chí, tập
2, bản dịch Nguyễn Tạo, trang 77.
[40]Miên gọi “Kompong Krebei” – krompong là vùng,
krebei là trâu, nghé – Việt có danh từ “Ngưu Chử”
nôm na là “Bến Nghé” hay là dịch lại của người Miên
chăng?.
[41]danh từ “lâm vồ” tôi chỉ nghe phổ hóa ở vùng
Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh tức những xứ có người
Miên ở. Theo tôi, “lâm vồ” do chữ “đơn pô” của người
Miên mà có. Cây ficus indica, figuier d’Inde, Banian
trong từ điển Génibret chắc “bồ đề”, cây “da”, cây
“lâm vồ” là phải? Người Miên họ nói thà sát nhơn
còn hơn “hạ lâm vồ” vì sát nhơn chỉ giết người còn
“hạ lâm vồ” là phá nơi Phật dựa.
[42]Đường Trần Hưng Đạo, lúc dự thảo thì định phải
chạy ngay từ trước nhà “Quốc Hội” - nay là nhà hát
thành phố - thẳng một mạch vô Chợ Lớn, đi ngang
chợ Bến Thành, thẳng bon một đường, như vậy mới
đúng luật thẩm mỹ, nhưng khi bắt tay vào việc thì
“đụng chạm phong thủy, mồ mả nhiều vọng tộc”, nên
đành sửa lại uốn vẹo từ chợ Bến Thành, vẻ mỹ quan
bớt đi một vài.
[43]Bouchot - La naissance et les premières années
de Saigon, ville francaise (B.S.E. I. 1922. No 2
page 73 và B.S.E.I. Octobre 1935, page 84 )
[44]người Miên xưa gọi vùng này là “kongpongluong”
tức “bến vua”. Sách sử Việt đã âm từ này ra “lâm
phong long” trong tấu sớ. Về sau, đặt “Huyền Tân
Long” đất Sài Gòn, theo tôi ắt cũng dễ khêu gợi
ít nhiều danh từ Miên “kompongluong” vậy_VHS.
[45]Theo bà Hilda Arnold, lại có một hành cung ở
chỗ Sở Thương Chánh hiện nay, vào đời Chúa Nguyễn.
Năm 1865, Pháp lập nơi đó nhà chi nhánh Bưu Điện,
khúc đầu đường de la Somme, lối năm 1947 - 1948,
tôi còn đến đây lãnh bưu kiện.
(Còn nhà Bưu điện chánh, xưa xây từ năm 1886, đến
năm 1891 mới hoàn thành).
[46]Arsenal có từ năm 1864. Nhà của viên giám đốc
sở Ba Son, góc đường Cường Để Nguyễn Du. Dinh này
xây từ năm 1877.
[47]một thuyết khác, theo ông Trần Văn Hương, thì
“Répatation” biến thành “Ba Son” cũng như danh từ
“Bồ Rô” do chữ “pelouse” mà ra. Tôi xin chép cả
ra đây, mặc cho các bạn tự do lựa chọn.
[48]Dinh Gia Long hiện nay. Trước lấy kiểu theo
viện triển lãm hội họa thành Munich (pinacothèque
de Munich) vì định xây xong sẽ lấy đó làm viện trưng
bày những kinh tế phẩm trong xứ (musée de économique).
Nhưng khi xây cất rồi thì viên thống đốc choán ở,
cho đến nay viện bảo tàng kinh tế phẩm chưa có chỗ
xứng đáng để dọn. Dinh Gia Long, xây từ năm 1885
đến năm 1890 mới hoàn thành. Lối năm 1941-42, viên
Thống đốc Hoeffel phá bỏ mặt tiền dinh nầy và mặt
tiền Nhà Hát Đô Thành, thay bộ diện theo kiểu mới
như ta thấy ngày nay...
[49]Câu trên có khi nghe hát: “Thượng thơ bán giấy”_tức
bán giấy tín chỉ dân mua đặng lập tờ ly hôn;Thủ
Ngữ treo cờ_treo cờ ám hiệu; Mũ ni đánh đạo v.v…
Theo tôi, câu này không thiết thực bằng câu trên
- VHS.
[50]Ông Nguyễn Liên Phong, một thi sĩ thời ấy, đã
ghi lại mấy câu như sau:
Có chỗ ghi giờ nhựt trung
Trên tàu Ông Thượng đặt vòng địa la;
Còn năm ba phút vậy mà,
Đem đồ hiệu lịnh kéo qua cột cờ,
Đợi đến đúng mười hai giờ,
Đồ kia rớt xuống súng hờ giật dây,
Nổ lên một tiếng vang dầy,
Châu thành bốn phía sum vầy giấc trưa...
(Nam Kỳ Phong Tục Nhơn Vật Diễn Ca,Nguyẽn Liên Phong,
in nhà Phát Toán, 1909).
[51]Theo bà Hilda Arnold, thì tờ điều ước ngày 5-6-1862
giữa ba nước Pháp - Iphanho - Đại Nam, vẫn ký nơi
Trường Thi nầy...
[52]Loài cá sấu sức khỏe và sống dai lắm. Ở Cần
Thơ cũng có Rạch Cầu Sấu, chuyên bán thịt cá sấu
như ở Sài Gòn. Họ trói hai khuỷu chân trước, xỏ
luồn qua một cây tre dài. Con này nối đuôi con kia
ngâm cả xâu hai bên thuyền để cá sấu dưới nước làm
bè thả từ Sông Cái Nam Vang về Cần Thơ, bán lần
hồi cho đến hết sạch mà không chết con nào. Trong
sách “Thói thực ký văn” trang 208 ông Trương Quốc
Dung thuật rằng làm thịt sấu, cứ để vậy, trước cắt
đuôi ăn dần lên, miễn đừng chạm đến tạng ruột thì
đến một tuần nhựt cá sấu vẫn không chết? Trên Nam
Vang mùa nước hạ, thổ dân đốt đèn lấy tre dập mặt
nước ao hồ thì cá sấu sợ, bò lên, họ theo sau lừa
dịp nắm hai chân trước lật khuỷu trói lại thì bắt
được, dễ quá! Chờ được nhiều rồi sẽ xỏ tre rồi lấy
dùi sắt chích con chót, nó trườn tới đẩy lẫn nhau,
muốn đem đi đâu tùy ý...
[53]Tôi vừa điều tra lại, rõ ra tòa nhà gỗ năm căn
cất trong vòng rào nhà Linh Mục đường Phan Đình
Phùng, như hiện ta thấy tu chỉnh làm tiểu giáo đường,
vốn là nhà xưa của đức cha Lefebvre, chớ không phải
của đức cha Bá Đa Lộc. Nhà cũ Lefebvre nầy, như
vậy thuộc thời Tự Đức (1847 - 1883).
[54]về dinh Tổng thống sau gọi là dinh Độc Lập.
Dinh cũ thời Pháp để lại, xưa lễ đặt viên đá đầu
tiên là ngày 23-02-1863, dinh này xây xong năm 1869,
tới năm 1875 mới hoàn thành phần trang hoàng bên
trong. Sau này bị phá mất và xây lại hoàn toàn mới.
[55]Trại lính sen đầm (caserne Lelièvre), nay là
trại lính Hiến Binh Cộng Hoà, gần Thư viện Quốc
Gia đường Gia Long, xây năm 1874.
- Khám Lớn Sài Gòn xây năm 1886 đến năm 1890, phá
bỏ lối năm 1954.
Mé sông, ngay đầu đường Catinat(Đồng Khởi), trước
kia có tháp Lemaille, dựng năm 1865 do Phòng Thương
mãi Sài Gòn đảm đương. Lemaille từ trần lối 1862-1863.
Tháp Lemaille sau dời về khu “Một Hình”, đối diện
tháp Doudard de Lagrée, mất năm 1895. Chung quanh
tháp de Lagrée có đặt 12 khẩu súng đồng kiểu chế
đời Gia Long, Minh Mạng, đặt họng trở xuống đất,
trên có xiềng lòi tói như hàng rào, xem rất nhục…
cũng may nay súng gỡ ra đêm nhập Viện Bảo tàng.
Một Hình cũng bị phá bỏ.
Chủng viện (Séminaire), còn thấy trên bảng kỷ niệm
câu này: “Cette maison a été dédiée à Saint Joseph.
Construite par le Père Wibeaux en 1863, elle fut
agrandie et bénie par Mgr Colombert 1881”-Nhà này
dâng kính cho Thánh Joseph. Đây là công tạo lập
của cha Wibeaux xây năm 1863. Đức Cha Colomber nới
rộng thêm và ban phép lành năm 1881.
Lính I Pha Nho theo chân lính Pháp qua đây năm 1859,
trước đóng binh đường d’Espagne, đến ngày 31-03-1863,
có lịnh rút về căn cứ Manille.
Cerle Militaire của Pháp, đường Thống Nhất thuộc
Bộ Tư pháp, xây năm 1876.
[56]Đường Norodom cũng gọi đường Hoàng Lân, (Thống
Nhất), cho thông thương từ 1872. một khúc đường
này và đường Catinat được tráng nhựa đầu tiên, xưa
chúng tôi gọi là đường keo su.
- Các giếng đường Thống Nhất đều do kỹ sư Berger
đứng coi đào năm 1884.
- Trại lính thủy mé sông (caserne Garnier) có từ
năm 1906.
- Dưỡng đường Angier, có từ năm 1908, ở ngay vườn
Bách thảo, góc Nguyễn Bỉnh Khiêm-Lê Thánh Tôn, bị
bom Mỹ dội năm 1944, nay đã dẹp và thay vào là dưỡng
đường Saint Paul, đặt ở đường Phan Thanh Giản (nay
là Điện Biên Phủ) ngay trường nữ học Gia Long.
- Đường Lefèbvre (Nguyễn Công Trứ) có ngôi nhà số
1 cũ nhất, xây năm 1865.
- Đường Chaigneau (Tôn Thất Đạm), nơi nhà số 49,
bà Arnold thấy một hồ nước bằng đá đề 1856, đường
Pellerin (Pasteur), nhà số 20 và đường Dayor (Nguyễn
Văn Sâm) số 26 là nhà xưa, kiến trúc theo điệu Tàu,
có hồi văn, bắt chỉ, sơn son, mạ vàng.
- Tòa Pháp đình, xây từ năm 1881 đến năm 1885.
- Trường Chasseloup Laubat, nay đã đổi là trường
Jean Jacques Rousseau, kế là trung tâm giáo dục
Lê Quý Đôn, xây từ 1879 đến 1885.
[57]Kompong là vũng; Krabei là trâu => Vũng Trâu
[58]Nên tìm xem bản đồ nhà phố đời xưa trong quyển
"Souvernirs đinochine" của Paul Doumer,
trương 69.
[59]Nay khảo bộ Đại Nam Nhất thống chí bản dịch
ông Cử Nguyễn Tạo trang 74 thấy ghi: “nơi chợ Tân
Kiểng, thường năm đến ngày Nguyên đán, có tổ chức
cuộc chơi vân xa và đánh đu tiên, nên gọi là Chợ
Lớn”. Lấy đó mà suy chỗ này xưa phải phồn thịnh
nhứt mới có bày những thú phong lưu xưa như “vân
xa”, “đu tiên”. Có phải là “Đề Ngạn” sơ khởi ở chốn
này chăng? Nào dè chưa đầy hai trăm năm, mà đã “sao
dời vật đổi”, chốn phồn thịnh nhứt đã không còn
ở chỗ cũ năm xưa! Cũng trong Đại Nam Nhất thống
chí trang 91 có nhắc tích năm Canh Dần thứ sáu-1771-đời
vua Duệ Tông có con hổ vào nhà một người dân phía
Nam chợ Tân Kiểng, nhờ có sư Tăng Ân và đồ đệ tên
Trí Năng hiệp sức mới hạ được. Điển này cho ta biết
thế kỷ XVIII, vùng Chợ Quán còn cọp đến viếng!
[60]Tầu khậu, hoặc "tùa khậu", do hai
chữ "Đại Khố" đọc giọng Tiều (Triều Châu).
[61]Tháng hai năm 1961, đang lấp bằng, nhưng Cầu
Ba Cẳng đến năm 1968 vẫn còn ngó thấy chớ không
phá bỏ.
[62]Còn một đường xe lửa nhỏ nối liền Chợ Đất Hộ
(Đa Kao) qua Chợ Tân Định, chạy dài theo con đường
Paul Bert (Trần Quang Khải). Sơ khởi chạy không
lấy tiền, sau phải thâu tượng trưng mỗi chuyến một
xu, để tránh nạn trẻ nít lên ngồi chóan chỗ khách
bộ hành phải đứng!
[63]Danh từ "Thuận Kiều", trong vài sách
Pháp lại viết "Tong Keou" khiến chúng
ta hoang mang: kẻ dịch "Đông Kiều", người
rằng "Đông Khấu"! Trong quyển Histoire
de l'expédition de Cochinchine của Pallu de la Barrière,
danh từ "Đồng Cháy", Pháp viết "Done
Chai", thiệt là "bí lù".
Trong quyển Bulletin de la Société des Etudes Indonchinoises,
trương 93, tác giả kể "les forts de Nghia,
de Biguckague, et de Kiala, ceux de Tangray et de
Tanky" (de Bazancuort p. 307 - 308). Il est
difficile en raison de l'orthographe apdaot ée par
l'auteur, de savoir òu se trouvaient ces ouvrages."
(B.S.E.I Octobre - Decembre 1935, p.93). Theo tôi,
tôi định cho đây là những đồn: đồn Nghĩa, đồn Bình
Khánh, đồn Chà Là, đồn Tấn Ngãi, đồn Tân Kỳ, định
vậy nhưng còn chờ các học giả uyên thâm phủ chính.
Về chú thích (63), xin nói rằng lối ghi âm xưa của
người Pháp không liên quan gì mấy với mục khảo cứu
nầy, nhưng xét cũng nên dẫn ra đây, để bớt hoang
mang hỗn độn trong trí óc non một phần nào.)
[64]Bảy bang có phải: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc
Kiến, Hakas (Khách gia, Hẹ) Hải Nam, Chettys, Chà
Và (gồm người mập lễ " Pakistanais", người
Hồi Hồi "Mahométans" chănng? Khó trả lời
dứt khoát, vì xưa chưa có người Tàu tỉnh Bắc Kinh
và Tô Châu và các tỉnh khác qua đây. Bảy bang là
bảy bang Trung Hoa hay pha lộn bảy bang người ngoại
kiều như trên: tức liệt người Ấn Đô, khác tôn giáo,
khác phong tục, chung hàng ngũ với Trung Hoa? Kẻ
ăn thịt mỡ, người chừa thịt heo, thế mà khi xưa
người Pháp ép nhập nhau, lạ thật?
[65]Điều Khiển là một chức quan võ cầm binh đánh
giặc trước thời Gia Long, thuở ấy thành lũy tại
Sài Gòn chưa có cho nên chỗ ông Điều Khiển đồn binh
hạ trại thì gọi là“Đồn Dinh”. Danh từ "Điều
Khiển" và "Đồn Dinh" đã tùy thời
thế, tùy địa lợi mà thay đổi xê dịch, khi thấy sách
tả "đóng đồn bên kia Tân Thuận", khi lại
ghi " ở bên nầy sông Thị Nghè", chúng
ta không nên thắc mắc như nhiều tác giả ngoại quốc,
không nên "quơ đũa cả nắm như một sử gia Pháp,
cắt nghĩa: "Đồn Dinh" là chỗ đóng binh,
là dinh trại của "Đông Định Vương Nguyễn Văn
Lữ "!
"Sở Nuôi Ngựa "haras" ": Luôn
tiện nên nói là "Sở Nuôi Ngựa" như trong
tập "Ký Ức Lục" của cụ Trương Vĩnh Ký
thường kể lại, theo tôi ắt ở vùng gần nền chùa cũ
"Kim Cương Tự", trong bản đồ Trần Văn
Học, còn chỗ khác lại viết "Kim Chương",
không biết danh từ nào đúng. Đây là một Sở Nuôi
Ngựa của nhà binh Pháp, họ đóng binh ở đâu là đặt
sở nuôi ngựa của họ gần đó cho tiện, chớ Sở nuôi
ngựa "xa vinh" (civil) thời kỳ ấy chưa
có (mới lập nghe lối đầu năm 1913).
Maison Blancsubé:Cụ Trương Vĩnh Ký trong "Souvenirs
historiques" thường nhắc nhà Blancsubé làm
căn cứ phăng cho ra mối các địa điểm khác. Tôi có
hỏi thăm Sở Địa Chánh cũng như Sở Tạo Tác, Sở Kiến
Thiết Đô Thành, không đây biết toà nhà nầy xưa tọa
lạc tại đâu. Căn cứ vào tài liệu nhiều nơi, tôi
định chừng nhà Blancsubé ở lối đường Verdun cũ,
khỏi Chợ Đũi nhưng chưa tới Rạch và Mộ phần ông
Nhiêu Lộc, mà đá Nhiêu Lộc nay tìm ra trong đất
xóm sân bay nới rộng đường Chi Lăng, giữa khoảng
ngã tư Chi Lăng - Ngô Đình Khôi, và Chi Lăng - Võ
Di Nguy. Xin chờ các bậc lão thành phủ chính.
[66]Danh từ Mả Ngụy bây giờ thỉnh thoảng còn nghe
trong dân gian dùng từ nguyền rủa độc địa: “Đồ Mả
Ngụy đầu thai!” để trách những đứa con ngỗ nghịch
bất hiếu cãi lời cha mẹ – V.H.S. Còn đây là chú
thích của ông Đặng Văn Ký, tự Minh Tải, học giả
ở Gò Vấp. “Mả Ngụy Khôi – chỗ ngã tư Lê Văn Duyệt
và Phan Thanh Giản – nay là CMT8 và ĐBPhủ – khoảng
Bình Dân bệnh viện. Từ đường Lê Văn Duyệt vào Chợ
Lớn, Mả Ngụy nằm mé tay mặt.”
[67]Ông Lê Thành Khôi, tác giả một cuốn sử Việt
bằng Pháp Văn rất hay rất đầy đủ, cẩn thận hơn,
viết "pr és de 2000... " (số bị hạ sát
dưới 2.000 người )
[68]Khôi là người Nùng, Tả quân bắt được, thương
tài không giết, nuôi làm dưỡng tử cho ăn họ Lê Khôi,
võ nghệ tuyệt luân, tay không hạ cọp trước mặt sứ
thần Xiêm La quốc. Tả quân từ trần, Khôi không chịu
nổi cử chỉ đê hèn của vài ô quan nên dậy giặc, giết
quan triều đình chống binh chính phủ trong ba năm.
Sau Khôi bị chết, triều đình mới hạ được thành Sài
Gòn, Minh Mạng chưa hả cơn giận, sai phá thành bình
địa và làm cỏ dân vô tội một cách tàn nhẫn.
[69]Đây là một đoạn sử bi thảm. Duệ Tông và Mục
Vương bị binh Tây Sơn bắt một phần lỗi lớn là tại
Đỗ Thành Nhơn bất hòa cùng một tướng Tàu. Tướng
này đã đầu hàng chúa Nguyễn, tên Lý Tài, có chân
trong một hội kín, kiểu như Thiên Địa Hội sau này.
Xét ra nếu Lý Tài và Đỗ Thành Nhơn biết liên kết
thì Nguyễn Chúa chưa bị bắt, Tây Sơn chưa mạnh thế
như sau, việc trong Nam đã thay đổi khác. Một điều
khác là trong đạo binh Nguyễn Huệ đánh binh Thanh
sau này có trà trộn một phần binh Minh tiếp tay
nhưng không ra mặt.
[70]Trong Đại Nam nhất thống chí, quyển 2, bản dịch
Nguyễn Tạo, thấy trang 79 ghi như vầy: “Trần Tướng
quân từ” – ở địa phận thôn Tòng Chính huyện Bình
Dương. Tướng quân họ Trần, tên Thương Xuyên, người
Quảng Đông, làm chức Tổng binh đời Minh, Minh mất,
không chịu thần phục vua nhà Thanh, nên quy phục
bản triều, đánh Cao Man có công, lại lập phố chợ
ở Sài Gòn_xin hiểu là Chợ Lớn ngày nay_chiêu tụ
khách thương, người đời sau nhớ công đức lập đền
thờ, trong niên hiệu Minh Mạng, Thiệu Trị, đều phong
làm thượng đẳng thần, đến nay xã dân phụng tự, hương
hỏa như xưa. Có phải chùa “Trần Tướng” và “Trần
tướng quân từ” vẫn là một hay không? Dầu sao hai
chùa đã mất tích từ 1885 rồi!.
[71]Tài liệu này tôi viết theo nhiều sách cũ nhưng
năm 1960, tôi gặp bạn học năm xưa trường Chasseloup
là ông Kha Vạn Lượng, làm chủ ban quản trị chùa
Minh Hương Gia Thạnh, thì ông cải chính rằng trong
chùa không có sắc vua vì đây là “người gốc Tàu nên
vua Việt không sắc phong được”. Ông KVL thêm rằng
trong chùa thờ hai chữ đại tự “Long Phi” là chỉ
thờ vua Minh Mạng đó, và nghĩ cho điển này qua lọt
mắt người Mãn Thanh vào thời ấy, cũng lạ vậy thay
- VHS.
[72]Cũng bài thơ“Vịnh Cây Mai” của Tôn Thọ Tường,
tôi thấy còn hai bản khác nữa, tiện đây xin chép
ra nhàn lãm. Xin hỏi tại sao một bài văn của Pháp,
Trung Hoa như thơ của Victor Hugo, của Lý Thái Bạch
thì Pháp, Trung Hoa, Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ đều
y như nhau một bản, không sai một chữ, còn đến phiên
thơ trong Nam như Lục Vân Tiên của cụ NĐC, thơ của
Tôn Thọ Tường, thơ của Phan Văn Trị cho đến ngoài
Bắc như Kim Vân Kiều của cụ ND, thơ của các ông
Nguyễn Khuyến, Cao Bá Quát đều tam sao thất bổn,
mỗi ông sao chép đều sửa đổi khác nhau rất nhiều,
và chừng nào mới nói chuyện thống nhất các bản văn
xưa lại cho học sinh, sĩ tử nhờ?
Một bài đềĐông Mai Sơn cảm tác – số 61
“Lắc lẻo thương mai phận dưới đèo,
Trăm phần trong sạch phận cheo leo,
Hoa in tuyết đóng nhành thưa thớt,
Gió thổi hương tàn sãi quạnh hiu,
Lẳng lặng chuông rung cơn bóng xế,
Tò le kèn thổi mặt trời chiều,
Những tay rượu thánh thi thần cũ
Nhìn cảnh bao nhiêu cảm bấy nhiêu.”
Bản này sao y nguyên văn trong xấp “Cổ Thị” trang
42, tập “Việt âm văn tuyển” của nhà in J.Viết năm
1919.
Còn đây làbản của Đông Hồ tiên sinh sao lục , đăng
trong “Bách Khoa” số 76 ngày 1/3/1960:
“Cám cảnh Cây Mai cách dưới đèo,
Mười phần trong sạch phận cheo leo.
Sương in tuyết đóng cành thưa thớt,
Xuân tới thu về nỗi quạnh hiu.
Lặng lẽ chuông quen cơn bóng xế,
Tò le kèn lạ mặt trời chiều.
Những tay rượt thánh thơ thần cũ,
Trông cảnh bao nhiêu tiếc bấy nhiêu.”
Dám xin hỏi nội quân tử nhất là Đông Hồ lão huynh
dạy cho tôi biết còn bản nào khác nữa chăng và bản
nào đúng chính nguyên văn của Tôn Thọ Tường?
[73]Trong vài sách Pháp họ viết “Tả quân” là “le
Ta kun”.
[74]Theo “Monographie de la province de Gia Dinh”
thì năm 1833, lúc đánh với giặc Khôi, ông Trương
Minh Giảng ra lệnh đốt cầu Cao Miên.
[75]Gọi làm vậy vì đây là “hoa viên Lê Tả quân”.
hết: PHẦN THỨ TƯ(b), xem tiếp: PHẦN THỨ NĂM

Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|