| 
Vương
Hồng Sến
SÀI GÒN NĂM XƯA
PHẦN THỨ BA
Thật ra, khó mà tóm tắt trong vài câu ngắn gọn
và đầy đủ về điển tích chung quanh thành và đất
Sài Gòn. Muốn hiểu vấn đề này, phải chịu khó tìm
dấu gót vua Gia Long trong những năm người bôn tẩu
trong Nam, từ năm 1774, và theo dõi các vì vua chúa
nhà Nguyễn đến năm khia chiến cùng binh Pháp là
năm 1859.
Phần này chia ra:
1. Thời đại Nguyễn Ánh (từ năm 1774 đến năm 1820).
(Nguyễn Phúc Ánh xưng chúa từ 1774-1802, tức là
vị hoàng đế lấy đế hiệu Gia Long từ 1802-1820).
(Xem một đoạn tả về vài nét ăn thói ở dưới triều
hai vua Gia Long và Minh Mạng lúc quan Tả quân còn
làm Tổng trấn tại Gia Định);
2. Sau năm biến cố 1859;
3. Tây đến Tây đi (dứt trước năm ký hiệp định Genève
1954).
1. Sài Gòn dưới trào Nguyễn Ánh (1774-1820)
Thử nhắc lại vài nét ăn thói ở thời Quan lớn Thượng
Cõi Nam, đến năm 1772, Chúa Nguyễn đóng đô ở Huế.
Lâm cảnh lưỡng đầu thọ địch, trên thì Chúa Trịnh
Sâm sai tướng binh đánh xuống, dưới lại bị quân
Tây Sơn nổi dậy, giết lên.
Qua năm 1774, Nguyễn Duệ Tông cùng hai cháu là Mục
Vương và Nguyễn Ánh phải rời Huế đào tỵ vào Đồng
Nai.
Từ năm 1774 đến năm 1789, ngót 15 năm, Chúa Nguyễn
Ánh bị Tây Sơn đánh đuổi, chạy gần khắp nơi, khi
thì về nương náu vùng Sài Gòn, mà về như vậy ở cũng
không được lâu, khi lê gót lưu vong khắp miền Cà
Mau (lúc bấy giờ gọi là Đông Xuyên), khi lại chạy
ẩn trốn ngoài hòn Phú Quốc (1782-1786). Mỗi năm
cứ đến mùa gió thuận thì binh Tây Sơn trẩy thuyền
vào Nam ruồng kiếm, quyết tận diệt dòng Nguyễn Phúc.
Chúa Nguyễn Ánh ẩn núp miền Nam còn để lại nhiều
cảm tình trong dân chúng. Cho đến ngày nay, người
lục tỉnh còn cữ đặt tên con đứa đầu lòng luôn luôn
là “thứ hai” rồi “thứ ba”, “thứ tư”, v.v... vì kiêng
chữ “cả” riêng dành tưởng niệm ông Hoàng Cả là Đông
cung Cảnh.
Trong thú chơi ấm chén, di tích“Gia Long tẩu quốc”
còn ghi lại ở vài bộ chén trà cổ, tôi biết có đến
ba kiểu vẽ khác nhau. Cả ba kiểu đều vẽ hình một
khách lữ hành đứng độc thân bờ sông bên kia, tựa
hồ đang chờ một chiếc thuyền con lững lờ giữa vời
ra rước khác nhau chăng là tại hai câu thi:
Một bộ chén thì:
“Bình kiều nhơn hoán độ,
Chuyển lực tiểu thuyền lai.”
(Cầu vững, người kêu đò, ra sức, thuyền lại gần).
Một bộ chén khác nữa thì:
“Ngư gia độ hoàng gia,
Âm tinh ngộ đế tinh.”
(Ông chài độ ông vua, sao âm gặp sao đế).
Bộ thứ ba vẽ y hai bộ trước duy không có đề thi.
Nghiệm ra bộ “Bình kiều...” có lẽ cổ hơn bộ “Ngư
gia”, nhưng cũng không có gì dám quả quyết. Trái
lại bộ “Ngư gia...” nói sát đề hơn, tuy phải giọng
cao kỳ đế vương khó chịu! Còn bộ ba, khỏi nói, khi
hai bộ trước thông dụng rồi, ai ai đều thuộc điển
tích nằm lòng, cắt nghĩa nữa là thừa nên chi thợ
vẽ bỏ không đề thi, vô ích. Tôi gặp cả thảy có trên
vài chục bộ rã rời, còn trơ trọi cái đĩa bàn lẻ
loi, không thấy bộ nào men già dặn cổ kính, có lẽ
toàn mới ký kiểu vào thời Tự Đức hoặc gần đây: một
dĩa đẹp tuyệt, rạn da rắn, nét vẽ thần tình, thì
hiện chủ nó, ông bác sĩ H. mua được tại Huế, đã
mang luôn về Pháp, mất dạng biệt tích cho mỹ thuật
xứ sở. Nay Viện Bảo Tàng Sài Gòn có đủ hai kiểu
dĩa vẽ tích này, bày tại phòng triển lãm mỹ thuật
Việt. Tháng Ba dương lịch 1960, tình cờ tôi mua
được một chén tống và hai chén quân vẽ tích này
(thiếu một chén quân và một dĩa bàn). Hiện dưới
đáy đề “Tân Sửu” (1841). Theo tôi, đây là bộ chén
cổ nhứt kiểu “Gia Long tẩu quốc” do sứ bộ năm đầu
Thiệu Trị sang Tàu mang về.
Năm 1789, Nguyễn Ánh cả thắng Tây Sơn, thâu được
Sài Gòn và ra lịnh xây đắp thành trì thêm kiên cố.
Tính ra thành này xây năm Canh Tuất (1790) đến năm
Minh Mạng thứ 16 (1835) thì bị hạ, vỏn vẹn dùng
chỉ bốn mươi lăm năm, uổng quá! Về sau sử sách gọi
đây là “Gia Định phế thành”.
Năm 1784, linh mục Bá Đa Lộc đưa Hoàng tử Cảnh sang
Pháp quốc định cầu cứu viện, chuyển về năm 1789
(14-07-1789) Bá Đa Lộc dẫn đường cho một số võ quan
và quân nhơn Pháp, nhơn tránh nạn Cách mạng đảo
chánh đột khởi một ngày nào đó bên xứ họ, nên tình
nguyện đàu quân dưới cờ Nguyễn Chúạ Thành Sài Gòn
do Gia Long ra lịnh xây cất là do quan Oliver de
Puymanuel (cũng có sách viết de Puymanel) – ông
này Việt danh là “Ông Tín”[24], xây theo kiểu Vauban:
thành xây tám góc theo Bát Quái, chữ gọi “Quy Thành”.
Vách cao mười lăm thước mộc, tính ra lối bốn thước
tây lẻ tám tấc (4m80), toàn bằng đá ong Biên Hòa
kiểu “lục lăng”[25]. Năm 1926, khi thợ đào móng
cất nhà chọc trời góc đường Tự Do và Gia Long (building
Catinat), thì gặp dưới đất cát lối năm thước sáu
tấc tây bề sâu (5m60) một mớ đá ong lục lăng, định
chắc đó là chưn cũ vách Thành Sài Gòn đời Gia Long
xây năm 1790. (Bulletin de la Société des Etudes
Indochinoises, N. Octobre - Decembre 1934, trương
48).
Một di tích khác cũng của "Quy Thành"
lại đào thấy năm 1935 tại nhà thương Đồn Đất, góc
đường Lagrandière (Gia Long) và LaFont (Chu Mạnh
Trinh). Theo ông Charles Lemire thì đường Lagrandière
cũ là con đường đắp trên hào thành xưạ Hiện mớ đá
lục lăng tìm được năm 1926 còn lưu trữ tại kho của
Viện Bảo Tàng trong vườn Bách Thảo để làm dấu tích[26].
Theo ông Trương Vĩnh Ký kể lại thì trung tâm thành
1790 ở đúng trung tâm nhà thờ lớn Đức Bà hiện nay,
nơi đây thuở xưa có dựng một cây cờ lịnh to lớn.
Theo ông L.Malleret đã nghiên cứu kỹ càng thì cờ
lịnh này phải đặt lối trên con đường Hai Bà Trưng
mới trúng chỗ, vì thuở đó đường này là trung tâm
đạo chia thành Gia Long làm hai phía bằng nhau (B.S.ẸI
năm 1935, trang 45). Cũng trong tập B.S.ẸI năm 1935
này, nơi trang 53, tác giả kể khi xưa lúc đào nền
móng để xây nhà thờ Đức Bà có gặp một lớp tro, cây,
gạch và đá cháy lụn vụn dày trên ba tấc tây (0m30),
định chừng đó là di tích kho lương mễ của giặc KHÔI
bị binh lính Minh Mạng đốt năm 1835 khi phá Quy
Thành. Trong đống tro này, thợ đào đất đã gặp lềnh
kềnh ngổn ngang nào xác tiền điếu, tiền kẽm bị lửa
cháy ra khối kẹo quánh lại, nào đạn súng to bằng
gang sắt, bằng đá khối, nào hài cốt trẻ con còn
đựng trong hũ trong vò.
Cứ theo tài liệu Trương Vĩnh Ký thì bốn vách Quy
Thành, ám theo bốn hướng, có thể nói ở lọt vào:
1. Đông: đường Lê Thánh Tôn (d ' Espagne cũ ).
2. Tây: đường Phan Đình Phùng (Richaud cũ).
Cách nay gần bốn chục năm, thưở nhỏ, tôi nhớ lại
góc Phan Đình Phùng chạy qua đại lộ Đinh Tiên Hoàng
(Albert ler cũ), có một hào thành sâu hóm, trên
khoảng Albert ler có đặt hai cây cầu bắc qua hai
hào cạn (hào trong và hào ngoài), anh bạn nào xưa
từng học trường Chasseloup lối 1920 - 1925, đi la
mát nơi đây hồi đó ắt còn nhớ rõ; thêm thưở ấy có
một chiếc xe hỏa cà xịch cà xạc (le tortillard)
chạy ngang đây phun khói phun lửa uốn mình vòng
quanh bờ thành cũ coi như con rắn dài, oai nghi
khá đại! Về sau hào thành bị lấp dần mất dạng, chỗ
thì trồng dâu rồi biến thành Sở Canh Nông và Trại
Gia đình Binh Sĩ Hồng Thập Tự, chỗ mới bồi đây dựng
lên Viện Quốc Gia khảo về vi trùng và bịnh lý gia
súc, chỗ cất dinh thự các nhân viên hãng Hàng Không.
Một di tích hào thành khác nữa còn sót lại là lối
đường Mạc Đĩnh Chi và Trần Cao Vân (Massiges và
Larclauze cũ); ở góc nầy khoảng năm 1924-1925 là
nơi đất trống, tụ tập đến nghe Nguyễn An Ninh diễn
thuyết[27]và dự tiệc đãi Bùi Quang Chiêu đi Tây
trở về, góc nầy sầm uất, trước đây bốn mươi năm
là chỗ đất thấp lài lài có cất ba căn nhà ngói trệt,
thầy tôi là giáo sư Bernard Bourotte hằng nói thưở
ông còn ở đây đêm đêm thường nghe nhiều tiếng hú
lạ lùng, ai không tin thử hỏi anh bạn thân ái Đốc
phủ P.V.V. đã từng ở đó lì gan chịu ốm rét, chịu
bỏ một đứa con vì đau bệnh và từng rởn ốc những
đêm mưa dai gió rít, nặng nề những oan hồn ma lạnh
hào thành xưạ Cũng xóm nầy, thưở ấy có những trạm
xe lửa đặt tên rất kêu: gare Larclause là ga Hàng
sao; gare "la Citadelle" là ga Hào thành,
nay tên "hào thành" đã nhường lại cho
sân cỏ đá banh và dãy nhà nhiều từng mới cất.
3. Bắc: đường Đinh Tiên Hoàng (Albert ler cũ) nối
dài qua Cường Để (Luro cũ ).
4. Nam: đường Công Lý (Mac Mahon sau gọi là Général
de Gaulle). Hiện nay, ở giữa khoảng nhà dòng (Presbytère)
nguyên vị trí góc thành xưa, còn nhiều dấu vết Quy
Thành, nhìn kỹ còn nhận được.
Nhắc lại, con đường Hai Bà Trưng (đời Napoléon III
tên Route Impériale, sau năm 1870 đổi lại Nationale,
từ năm 1902 lấy tên Paul Blanchy, rồi đổi từ năm
1952 là Trưng Nữ Vương, đến năm 1955 mới thiệt thọ
là đường Hai Bà Trưng) thì vào đời Đàng Cựu, vẫn
cắt xẻ Quy Thành ra hai phần bằng nhau và ăn xuyên
thấu bên này qua bên kia thành.
Tám cửa Phan Yên Thành này còn ghi tên để lại rành
rẽ. Đây là tài liệu theo ông Trương Vĩnh Ký:
Đông môn, cũng gọi là Cửa Tiền gồm hai cửa:
- Gia Định môn, day mặt ra hướng chợ cũ Sài Gòn;
- Phan Yên môn, trên con đường bọc theo kinh Cây
Cám (nay con kinh nầy đã bị lấp mất dạng, nhưng
dọ biết trước kia nó ở gần Kho Đạn cũ ).
Tây môn,cũng gọi là Cửa Hậu, gồm hai cửa:
- Vọng Khuyết môn (ở lối cầu Bông);
- Cung Thìn môn (ở lối Cầu Kiệu) theo P.Ký)
Bắc môn,cũng gọi làCửa Tả , gồm có:
- Hoài Lai môn (trổ về rạch Thị Nghè);
- Phục Viễn môn (cũng trổ về rạch Thị Nghè);
Nam môn,cũng gọi là Cửa Hậu, gồm có:
- Định Biên môn (lối ngã tư Công Lý và Hồng Thập
Tự);
- Tuyên Hoá môn (đường Công Lý, gần đường Fères
Louis cũ, nay là đường Võ Tánh ).
Theo Đại Nam Nhứt Thống chí, thì "Quy Thành"
có tên khác là Gia Định kinh (sau vì phá bỏ nên
lại gọi "Gia Định phế thành" ) ở về địa
phận làng Tân Khai, huyện Bình Dương và xây năm
Canh Tuất (1790), vừa giống Bát Quái vừa giống hình
hoa sen.
Theo bộ này thì, tám cửa thành là:
- Trấn Hanh (Chấn Hanh)
Đông:
- Cấn Chỉ
- Tốn Thuận
Tây:
- Đoài Duyệt
- Khôn Hậu
Bắc:
- Khảm Hiểm
- Kiền Nguyên (Càn Nguyên)
Nam
- Ly Minh
Trong thành đếm được ngang dọc tám con đường cái.
Thành, chu vi đo được:
- Từ Đông qua Tây: 130 trượng 2 xích[28]
- Từ Bắc qua Nam: cũng y như thế.
Thành xây hướng về Đông Bắc và cao độ 1 trượng 3
xích có ba bậc.
Bề ngang của chân tường dầy bảy trượng năm xích.
Trong thành đặt nhà Thái miếu và kho về bên tả,
bên hữu là xưởng trại, ở giữa là hành cung.
Trại lính thì bố liệt chung quanh; trong để quân
túc vệ ở, trước sân có trụ cờ ba tầng, cao 12 trượng
5 thước, trên có Vọng đẩu bát giác tọa (tháp canh)
ở bên treo thang dây, trên đẩu có quân thủ vọng
ngồi gác, có việc gì quan ngại thì ban ngày treo
cờ hiệu, ban đêm treo đèn hiệu, quân đội tuân theo
đó làm hiệu lệnh điều khiển.
Hào thành sâu 14 xích; bề ngang 10 trượng 5 xích;
chu vi 794 trượng. Có xây điếu kiều, ngoài kiều
có đắp thạch trại.
Năm Tân Dậu (1801), đại binh Nguyễn Ánh thâu được
thành Phú Xuân (Huế). Vương sai tháo gỡ sườn nhah
Thái miếu ở Sài Gòn chở ra Huế dựng lại. Từ đây
thành Sài Gòn lọt xuống hàng ải trấn thủ miền Nam,
không còn là kinh đô Nguyễn triều nữa. Nhưng đến
năm Quý Dậu (1813), Gia Long sai Nguyễn Văn Nhân
và Trịnh Hoài Đức lập hành cung tại Sài Gòn, có
xây gác chuông và gác trống hai bên tả hữu, định
chừng chưa bỏ ý trở vào Nam và vẫn có lòng thiết
lập triều đình tạm trong này ngộ khi hữu sự.
Sau tòa hành cung, có dinh quan tướng súy.
Tại cửa Ly Minh có xây gác cao đặt tên gác Thân
Minh.
Nơi ba cửa Kiền Nguyên, Ly Minh và Tốn Thuận có
đặt trại lính lợp ngói vách sơn đỏ.
Qua đời Minh Mạng, có lịnh đổi tám cửa thành:
Trấn Hanh đổi làm Phục Viễn,
Cấn Chỉ " Hoài Lai
Tốn Thuận " Tĩnh Biên,
Đoài Duyệt " Tuyên Hóa,
Khôn Hậu " Củng Thần,
Khảm Hiểm " Vọng Khuyết,
Kiền Nguyên " Gia Định,
Ly Minh " Phiên An.
Trong quyển“Souvenirs historiques”, ông Trương Vĩnh
Ký theo lời truyền khẩu của các cụ già từng biết
thành năm 1790, đã ghi tên các cửa thành, nhưng
địa điểm lại ghi khác (có lẽ vì không dọ lại với
địa đồ). Nay tôi xin tóm tắt các tài liệu làm một
bảng như sau:
Như đã thấy, trên bản phương hướng không y và tên
cửa thành cũng có đổi thay, tôi xin giữ đúng để
các nhà khảo cứu tự so sánh và tìm hiểu lấy.[29]
Đời quan Thượng (Lê Văn Duyệt) sai nối vách thành
lên cao 1 thước 5 tấc dùng toàn đá ong kiên cố vì
vậy sau này bị khép vào tội tự chuyên và có ngoại
tâm.
Năm 1832 (Minh Mạng thứ 13) vua sai đổi tên là Phiên
An Thành (Phan Yên).
Năm 1833, Lê Văn Khôi làm phản, chiếm thành được
ba năm.
Năm 1835 (Minh Mạng thứ 16), binh triều hạ thành
Phiên An.
(Tài liệu trong B.S.E.I. năm 1935, trương 56-57.
Những chi tiết thuộc Đại Nam Nhứt Thống Chí là do
bản dịch Pháp văn của ông Gaspardone.)
Theo tài liệu của tập san Hội Cổ Học Ấn Hoa (Bulletin
de la Société des Etudes Indochinoises, năm 1942,
tập số 2), thì vào năm 1819, có một khách Hoa Kỳ
mỹ danh là John White, từng châu lưu khắp thiên
hạ, năm ấy có để chân đến đất Sài Gòn nầy. Trong
quyển sổ tay của J. White, thấy có ghi rằng:
" Thành lũy Sài Gòn xây bằng đá ong; ở kế bên
một cơ thủy trại, gần đó là xóm nhà của dân cư gồm
những lều lúp xúp thấp hẹp. Xóm buôn bán ở mém về
hướng Đông. Khi đức Gia Long dẹp yên Tây Sơn thì
dân chúng tựu về thành rất đông. Họ sửa sang nhà
cửa lại mới, một phần lớn các gia đình nầy dồn về
hướng Tây của thành lũy nhà vua[30].
John White có ghi thêm rằng: "Thời buổi ấy
dọc hai bên bờ sông và bờ kinh rạch, có vài chỗ
đã được cẩn đá hay xây gạch kỹ càng, chạy nối dài
non ngàn thước tây. Về công lộ có đường đã lát đá
nguyên miếng lớn dễ coi, nhưng phần nhiều vẫn quanh
co uốn khúc và không được săn sóc tu bổ nên không
được sạch.
"Về nhơn số thì Sài Gòn phỏng độ lối:
- Một trăm tám chục ngàn (180.000) người dân bổn
thổ;
- Và mười ngàn (10.000) người Trung Quốc. (Đây là
nói về Quy Thành 1790 và vùng phụ cận dưới thời
Gia Long.) "
Sau đó ít lâu, năm 1822, lại có một bác sĩ thú y
quý danh là ông Finlayson, tháp tùng phái đoàn Crawfurd,
cũng có đến viếng Sài Gòn. Finlayson viết: "Sài
Gòn gồm hai thành phố, mỗi cái đều rộng lớn bằng
hai nước Xiêm La. Ấy là:
1) - Sài Gòn (xin hiểu đây tác giả muốn nói về Đề
Ngạn (Thầy Ngồồn) hay Chợ Lớn);
2) - Và Pingeh (có lẽ đây là Bến Nghé viết theo
tác giả phát âm). (Tập san Cổ Học Ấn Hoa nói trên).
Dựa theo Finlayson, chúng ta có thể hiểu được vì
sao xưa ông Huỳnh Tịnh Của đã ghi trong bộ Đại Nam
Quấc Âm Tự Vị của người rằng:
"Sài Gòn là tên riêng đất Chợ Lớn, bây giờ
lại hiểu là đất Bến Nghé."(Đ. N. Q.A. T. V.,
trương 280). (Rõ ràng trước kia danh từ "Sài
Gòn" dùng để gọi thành phố Chợ Lớn, về sau
mới áp dụng qua đất Bến Nghé).
Một đoạn khác, cũng trong tập san Cổ Học Ấn Hoa
kể trên, John Crawfurd viết năm 1828: "Sài
Gòn gồm có Pingeh là khu vực của chánh phủ, gồm
luôn thành trì bao bọc chung quanh khu vực ấy với
một xóm buôn bán của người Tàu.[31]
Tóm lại, nếu chiếu theo tài liệu của hai người thấy
tận mắt thành phố Sài Gòn - Finlayson và Crawfurd
- thì vào cuối thế kỷ 18 bước đầu thế kỷ 19, danh
từ "Saigon" đích thị dùng để gọi Chợ Lớn
hiện nay. Trong bộ "Gia Định thông chí "
của Trịnh Hoài Đức, bản dịch Aubaret năm 1863 vẫn
ghi: "Sài Gòn là danh từ để gọi thành phố của
người Trung Quốc ăn ở, phát âm giọng Tàu là "Tai
ngòn" hoặc "Tingan".
Trước năm 1790, khi trong Nam chưa có thành trì
kiên cố thì đại binh chúa Nguyễn "đồn"
dinh trại nơi xóm Tân Mỹ, sau đi về "Chợ Điều
Khiển" ở xóm Tân Thuận. Năm Gia Long thứ 10
(1811) lại đi về "Đồn Dinh" nền cũ. Gia
Long năm thứ 16 (1817) lại dời về Mỹ Hòa, cũng gọi
là Nghĩa Hoà. Qua Minh Mạng năm thứ 13 (1832) vua
ra lịnh dạy dẹp dinh trại nầy.
Vua Minh Mạng vì giận giặc Khôi chiếm cứ mấy năm
nên dạy phá bỏ Quy Thành của Gia Long xây cất năm
1790. Qua năm thứ 17 (1836), Minh Mạng ra lệnh xây
thành khác ở về hướng Đông Bắc Quy Thành.
Chiếu theo bản dịch Gaspardone của bộ Gia Định thông
chí Trịnh Hoài Đức thì thành 1836 có bốn cửa, chu
vi 429 trượng, cao 10 trượng 3 thốn, hào thành sâu
7 xích, bề ngang hào 11 trượng 4 xích. Thành 1836
tại làng Nghĩa Hòa – Bình Dương.
Chính thành 1836, đến năm 1859 thì bị binh Pháp
lấy được; Pháp gọi thành 1836 là “Citadelle de Saigon”.
Đến năm 1859 thành bị hạ bình địa, tính ra xây năm
1836, hạ năm 1859, thành thử chỉ đúng vỏn vẹn hai
mươi ba năm, còn vắn số thua Quy Thành của vua Gia
Long nữa:
- Quy Thành, xây năm 1790, phá năm 1835: 45 năm.
- Thành Sài Gòn do Minh Mạng dạy xây năm 1836, bị
phá năm 1859, dùng được 23 năm.
Nghĩ ra Minh Mạng phòng ngừa hậu hoạn, sợ một trận
giặc Khôi tái diễn, nên phá Quy Thành còn có chỗ
chế. Tuy vậy, người còn biết mót vật liệu thành
cũ dùng vào việc tân tạo thành mới 1836. Đến như
binh Tây, đoạt được thành “Citadelle de Saigon”
kiên cố, mới ràng ràng, nếu họ có chút óc “tồn cổ”
và “thẩm mỹ”, họ nên dành cho hậu thế biết lối kiến
trúc xưa này mói phải. Té ra họ cũng sợ vu vơ, e
cho một ngày kia người bản xứ sẽ dùng thành này
chống lại nên họ sai châm lửa đốt tiêu. Ngày 8 tháng
3 dương lịch năm 1859, quân sĩ Pháp đặt 35 ổ cốt
mìn phá tan tành Thành 1836 chỉ còn mấy đống gạch
đá vụn; đối với lịch sử thật là một lỗi lầm không
nhỏ.
Quân đội Pháp làm thống kê để lại chỉ cho ta biết
trận hỏa thiêu này đã tiêu hủy một cách đáng tiếc:
- Hai mươi ngàn (20.000) cây súng tay đủ cỡ, và
một số binh khí như gươm giáo v.v... nhiều không
thể đếm.
- Tám mươi lăm (85) thùng thuốc súng và vô số kể
nào bì súng, hỏa pháo, diêm sanh, tiêu thạch (salpêtre),
chì v.v...
- Một số lúa trữ trong kho đủ sức nuôi từ sáu đến
tám ngàn (6.000 – 8.000) nhân khẩu trong vòng một
năm.
- Lại với một số tiền bản xứ (điếu và kẽm) để trong
kho ước định và trị giá bằng 130.000 quan tiền lang
sa thời đó.
Về lúa đốt bỏ, có sách đã trị giá trên ba triệu
quan Pháp (3.000.000 francs) và thuật lại rằng có
nhóm Hoa kiều trong Chợ Lớn đưa đè nghị xin mua
mà tướng Rigault de Genouilly không chấp nhận sợ
rằng số lúa này không may lại lọt vào tay binh lính
Việt thì khác nào giúp giáo cho giặc. Thà cho họ
đốt bỏ số lúa mà bọn Hoa kiều trả giá đến tám triệu
quan (8.000.000 francs). Ba năm sau, đến 1862, trận
lửa đốt lúa còn ngún ngấm ngầm... Ông Charles Lemire
thuật lại rằng: ngày 27 tháng Giêng năm 1862, ông
có thí nghiệm, thử thọc cây gậy cầm tay vào đống
tro tàn, khi rút gậy ra thì đã cháy thành than (Bulletin
de la Société des Etudes Indochinnoises, năm 1935,
trang 8). Charles Lemire thuật tiếp rằng về sau
chính bên phe Pháp có người tỏ ra hối tiếc hành
động hủy hoại vô ích của Thủy sư Đề đốc Rigault
de Genouilly nhưng đã muộn (B.S.E.I. 1935 kể trên,
trang 96-97). Cho hay làm tướng đi chinh phục nước
khác, có hạng còn chút lương tâm, hạng khác chỉ
biết giết chóc, tàn phá, sát hại.
Sau khi triệt hạ thành “Citadelle de Saigon”, binh
lính Pháp dùng sắt và vôi gạch xây thành lính “Sơn
đá” của họ, tục danh “Thành 11è R.I.C” (Caserne
du Onzième Régiment de l’Infanterie Coloniale –
Trại Bộ Binh Thuộc địa đội thứ 11; trại nầy nằm
gần đúng vị trí Citadelle Việt xưa)[32].
Theo sử sách để lại, thành "citadelle"
Việt bắt đầu từ khu Lê Thánh Tôn chạy đến mé sông
là dứt, gồm có khu Dưỡng Đường Đồn Đất (Hôpital
Grall trước gọi Hôpital Militaire), nay là Bệnh
Viện Nhi Đồng I, thành cũ 11 è R.I.C. và một khu
vực thương mãi phồn thịnh ở gần thành xưa. Nếu xem
địa đồ, ta có thể đóng khung "citadelle"
trong bốn con đường hiện tại:
- Đường Phan Đình Phùng (Richaud cũ) - nay là Nguyễn
Đình Chiểu.
- Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm (Rousseau cũ)
- Đường Mạc Đĩnh Chi (Massiges cũ)
- Đường Nguyễn Du (Mossard cũ)
Năm 1859 binh Pháp đổ bộ, do ngả Luro (Cường Để,
nay là Đinh Tiên Hoàng) kéo lên công hãm thành Việt.
Ngày nay, đi trên khúc đường nầy, trông thấy cửa
thành trước mắt, độ chừng xưa cũng day mặt hướng
nầy. Dọc theo vách rào các dinh thự của võ quan
cao cấp bộ Thủy quân Việt (đường Cường Để) thấy
cẩn nhiều đá to và gạch thức cỡ lớn, trong vườn,
còn nhiều gốc cổ thụ cao ngất trời, hỏi ra di tích
cố đô còn lại bao nhiêu đó. Lúc đổ bộ, tàu chiến
Pháp thả neo tại công trường Mê Linh. Trào Pháp
đặt tên là Place Rigault de Ginouilly, có dựng tượng
đồng to lớn để ghi chiến công Thủy sư Đề đốc này.
Cũng vì thế, chỗ này xưa gọi “Một Hình”. Tương truyền
những đêm mưa bão có bóng lão hình đồng hiện hình
gọi đò qua sông. Trời đánh nhiều lần, lão không
hầy hấn, tưởng vậy mà “bền gan cùng tuế nguyệt”,
không ngờ kịp năm đảo chính 1945-1946, thanh niên
lôi lão, hạ bệ lão xuống, nấu chảy ra bì súng bắn
trả hận năm xưa[33].
TheoGia Định thông chí thì năm 1777 (Đinh Dậu) Gia
Long thâu phục được Sài Gòn, năm 1779 (Kỷ Hợi) sai
tu định địa đồ lập địa giới dinh Phiên Trấn. Năm
1790 (Canh Tuất) đắp thành bát quái trên gò cao
thôn Tân Khai, tổng Bình Dương gọi đó là Gia Định
kinh. Niên hiệu Gia Long nguyên niên (1802), cải
tên Phủ Gia Định làm Trấn Gia Định, đặt Trấn quan
thống trị. Qua năm thứ 7, cải làm Gia Định Thành
do một Phó Tổng Trấn thống trị, gọi trấn Phiên An
gồm luôn Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên
lại kiêm lãnh luôn trấn Bình Thuận.
Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), đổi Gia Định Thành
làm Phiên An Tỉnh Thành, đặt chức An Biên Tổng đốc
thống trị hai tỉnh Phiên An và Biên Hòa. Năm Minh
Mạng thứ 15 (1834), mang danh Nam Kỳ Lục Tỉnh. Năm
thứ 17 (1836), xây thành mới đổi danh là Gia Định
Tỉnh. Đổi An Biên Tổng đốc làm Định Biên Tổng đốc.
Địa thế Sài Gòn
Nhìn trên địa đồ, ta thấy rõ địa thế Sài Gòn khá
gọi là hiểm trở:
a) Thuở xưa khi chiến tranh còn “hiền”, đánh bộ
thì lính đi chân không, binh khí thì dùng dao mác,
mã tấu, chà gạc, đánh thủy thì trông cậy nơi thuyền
buồm, cung tên... Súng đồng nếu có thì bắn không
xa, đạn đá đạn sắt làm sợ nhiều hơn giết chết. Vì
thế, vị trí Sài Gòn đúng là hiểm yếu, kiên cố nhờ
ở giữa trung tâm các ngọn “sông sâu nước chảy” và
giữa các đường lộ “bủa giăng như lưới nhện”.
b) Nhờ ở cách biển tám mươi chín cây số ngàn (89km)
nếu tàu chiến tàu ô ở ngoài khơi kéo vào thì Sài
Gòn có đủ thời gian thủ thế và nghênh chiến[34].
c) Nhờ đóng ở trên gò trên nổng, cao hơn mặt biển
trên mười thước có hơn, Sài Gòn có sẵn hai hào thiên
nhiên che chở là sông Thị Nghè và sông Bến Nghé.
Tuy vậy, năm 1859 rạch Thị Nghè không đủ sức ngăn
tàu sắt của Đề đốc Rigault de Ginouilly và đã để
cho tàu Pháp xáp cận thành...; nhưng bình nhật nếu
có phòng bị thả chông, nhận chìm xác ghe xác thuyền
chở đá chẹn ở lòng sông cho thật nhiều, thì đủ ngăn
sức giặc đường thủy một thời gian.
d) Sài Gòn có sự ủng hộ của nhiều đồn bao bọc xung
quanh. Các đồn này nối liền nhau bởi các sông rạch
bủa tứ giăng rất là thuận tiện và hiệu nghiệm. Vì
bài biên khảo này có tính cách “thường đàm”, nên
không sao chép tên các đồn, đã được ghi rõ trong
quyểnĐại Nam nhất thống chí (Lục tỉnh Nam Việt),
bản dịch Nguyễn Tạo, do bộ Quốc gia Giáo dục, Nha
Văn hóa xuất bản năm 1959.
e) Thành Sài Gòn được tiện lợi là kề vựa lúa miền
Nam, tức Chợ Lớn. Nếu chẳng may bị địch vây khổn
thì ít lo nạn đói. Vả lại, Sài Gòn có chứa rất nhiều
nước lọc thiên nhiên dưới đất sâu, hễ đào giếng
là có nước ăn nước dùng rất tốt, không sợ nạn thiếu
nước.
Từ Chợ Lớn xuống xa một đỗi thì có chợ Mỹ Tho là
giáp mối các con đường thủy vận về miền Nam Lục
Tỉnh, và lên thẳng Nam Vang (Phnôm-Pênh). (Ngày
nào sự chuyên chở còn "ăn chịu" nhờ đường
nước, thì chợ Mỹ Tho sung túc phồn thịnh ngày ấy.
Ngày nay khách bộ hành và hàng hóa xoay qua dùng
nhiều xe hơi chạy ét xăng hơn dùng tàu bè, cho nên
chợ Mỹ đã "xuống chưn". Câu thi xưa"Trên
Sài Gòn, dưới Mỹ Tho, đâu đâu thiên hạ cũng nhường
cho,..." nay không còn đúng sự thật! Trái lại,
các chợ búa không nằm trên đường nước nhưng vẫn
nằm trên đường lộ cái, như chợ Cai Lậy, bến phà
Mỹ Thuận, chợ Cần Thơ, chợ Sốc Trăng, vẫn tấn phát
như thường, nhờ xe qua lại hằng bữa. Riêng bến phà
Mỹ Thuận, ngày nào cầu bê tông cốt sắt xây cất xong,
xe khỏi xuống bắc, thì chợ nhóm nơi đây sẽ mất phồn
thịnh. Luật tiến hóa là vậy: cái vui mừng của khách
bộ hành được đi mau về lẹ bao nhiêu, lại là nỗi
lo buồn của người buôn thúng bán mẹt đò Mỹ Thuận
bấy nhiêu vậy!) Con đường thiết lộ của Pháp đặt
trước kia, định nối liền mũi Cà Mau lên Nam Vang
xuyên ngang Sài Gòn, vừa từ Sài Gòn chạy tới Mỹ
Tho kế bị tháo gỡ: nhựa bánh cao su xe ô tô đã chiến
thắng con đường sắt và chiếc hỏa xa.
Tóm lại, ngày trước chiến tranh, chiến cụ còn theo
lề lối xưa, nên vị trí và địa thế Sài Gòn thật là
đắc thế. Ngày nay, tuy chiến lược đã đến thời kỳ
nguyên tử, nhưng nhờ đứng giữa ổ nhện đường lộ tứ
giăng, thêm có phi cảng rộng lớn, nên sự bành trướng
và phồn thịnh của Sài Gòn càng tăng thêm mãi mãi
chớ không bớt.
Thử nhắc lại vài nét ăn thói ở thời Quan Lớn Thượng
Quan Tả quân Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định
Thành trước sau hai kỳ:
- Lần đầu, từ năm 1813 đến năm 1816, rồi được chỉ
triệu về kinh để bàn nghị về ngôi Thái Tử.
- Lần sau, từ năm 1820 đến năm quy thần, tức năm
1832[35]. Dinh của người ở sau tòa Vọng Cung (Hành
Cung). Theo ông Malleret thì Hành Cung ở ném về
phía trên con đường Paul Blanchy, giáp với đại lộ
Norodom, lối nhà Câu Lạc Bộ Võ Quan Pháp (Bộ Tư
Pháp hiện nay) lấn qua một phần đất sở Bưu Điện
với một phần sở Địa Chánh (B.S.E. I., Oct/ Dẹc 1935,
tr. 46).
Tả quân bao giờ cũng nêu cao chủ quyền nhà vua.
Mỗi năm đáo lệ, có hai lễ lớn: lễ triều kiến Vua
vào đầu xuân nhựt và lễ hành binh. Tả quân giữ đúng
lệ và rất nghiêm về mặt nghi tiết. Ngoài việc đúng
năm vua Miên phải nạp lễ cống không được chậm trễ,
bổn phận vua Miên phải sang chúc thọ vua Việt tại
thành Phan An mỗi dịp Nguyên đán. Cứ đêm ba mươi
Tết, vua Miên phải có mặt tại thành để kịp sáng
hôm sau đúng canh năm thì cùng Lê Tổng trấn hành
lễ chúc thọ tại Vọng cung. Ông Trương Vĩnh Ký kể
lại trong ức lục “Souvenirs historiques” rằng có
một năm, vua Miên xuống dự lễ, thay vì ở trong thành
Phan An, lại vào Chợ Lớn nghỉ đêm, bởi rứa, hôm
sau lúc trống canh điểm năm dùi Tả quân và tiểu
triều hành lễ tại Vọng cung thì vắng mặt vua Miên.
Tả quân nhứt định không chờ, đến khi lễ tất, vua
Miên mới đem lễ vật tiến vào, Tả quân chiếu điển
lệ, phạt vạ vua Miên phải nộp đủ ba ngàn lượng bạc
mới cho về nước.
Ngoài ra, cứ ngày mồng sáu tháng Giêng, thì Tả quân
làm lễ “xuất binh”(muốn gọi “ra binh”, “hành binh”
đều được). Dịp này, người ta ra lệnh đòi hêt các
cơ binh đóng ở “Lục Tỉnh”[36]về để Người (Tả quân)
duyệt nơi Đồng Tập trận cũng gọi “Mô Súng” sau này
mới gọi là Mã Ngụy[37].
Lễ này diễn ra để thị oai với các nước lân bang
(Cao Miên, Xiêm La…) vừa để võ an dân tâm, vì thuở
ấy dân tình chất phác vẫn tin tưởng quỷ thần và
hiểu rằng đàu năm có diễn oai lực binh quân làm
vậy thì trong xứ suốt năm dân sẽ được bình an vô
bịnh, bởi tà ma quỷ mỵ đều khiếp sợ oai võ của Tả
quân.
Ngày mồng sáu tháng Giêng, Tả quân tắm gội trai
kỳ, ngồi kiệu đến Hành cung làm lễ chúc thọ vua
rồi phát ba tiếng súng tiền hô hậu ủng, lên kiệu
thẳng Đồng Tập trận, khi binh gia rần rộ kéo ra
do ngả Gia Định môn, khi khác lại do cửa Phan Yên,
từ đó xuống ngả Chợ Vải (tên xưa của xóm Chợ cũ
Sài Gòn ngày nay) để trở lại đường Cửa Hữu (Nam
Kỳ Khởi Nghĩa), và trực chỉ lên Mô Súng. Lễ diễn
binh hoàn thành, ông Lớn Thượng (tên kính trọng
của dân Nam tặng Đức Tả quân) đe liệu một vòng chung
quanh Quy Thành, ghé viếng cơ xưởng Thủy quân rồi
trở về dinh là giải tán. Trong khi ra quân, thì
trong thành dân cư vọng bàn hương án đốt pháo, thắp
hương, cốt mượn lễ ra quân để bày lễ tống quái trót
thể. Thuở ấy, quân lịnh của Tả quân rất nghiêm mỗi
khi hành quân thì những người có tang khó, nhứt
là người đàn bà bụng mang dạ chửa, đều phải lánh
xa. Đi trước đám quân sĩ, có lịnh nạt đường và quân
cầm đồ nghi trượng: hai thanh mác trường, hai ngọn
cờ tiết mao, hai trái dùi đồng, hai phủ việt (búa
hoặc rìu), hai cái biển, một khắc chữ “Tĩnh Túc”
(im lặng cung kính), một đề “Hồi Tỵ” (tránh đi)
tức để cho thần dân biết trước mà đề phòng tránh
mặt và sửa soạn chuẩn bị lễ rước cho oai nghi. (Những
binh khí cổ nầy, gọi là "đồ lỗ bộ", hiện
có chưng bày trong Viện Bảo Tàng).
Một kỳ khác nữa, nhơn lễ “Trùng ngũ” (mồng 5 tháng
5), Tả quân xuất thành để hành lễ “tịch điền” (hạ
tịch) bên Thị Nghè. Tịch điền ở vào vùng này đã
mất dấu vì gần đây dân cư đã xây cất nhà cửa lên
trên. (Những chuyện về Tả quân còn nhiều nhưng trong
tập này khảo về Sài Gòn, xin miễn kể).
Chúa Nguyễn Ánh đóng đô tại Sài Gòn trước sau hai
mươi năm (1779-1801), và mỗi năm, cứ mùa gió thuận
thì kéo binh từ Gia Định ra nghinh địch cùng Tây
Sơn vùng Bình Định Quy Nhơn. Năm 1801, chúa Nguyễn
thống nhất Bắc Nam, tức vị xưng đế hiệu Gia Long,
từ khi định đo tại Huế, mới thôi ở Sài Gòn và thành
này từ đó xuống địa vị một trấn biên thành.
2. Sài Gòn dưới trào Minh Mạng (1820 - 1840)
Ngày nay nhắc lại thì tòa Hành cung đã không còn
duy cứ theo dấu tích để lại thì lọt giữa đường Thống
Nhứt hiện tại. Địa điểm phủ tướng súy, tức là dinh
Tả quân, truy ra thì ở gần nhà linh mục Bá Đa Lộc
và gần bộ Ngoại giao hiện thời (đường Alexandre
de Rhodes) chạy dài ra sau dinh Tổng thống (dinh
Thống Nhất hiện giờ) – vì thế cho nên cái hoa viên
Tao Đàn xưa tách ra còn mang tên riêng là “Vườn
Ông Thượng”. Còn tư dinh của Tả quân phu nhơn (tộc
danh: bà Đỗ Thị Phẫn) thì lọt trong vòng rào dinh.
Về vườn Tao Đàn, danh từ Pháp xưa gọi “vườn Bồ rô”.
Nội cái tên Tây này, thú thật tôi cũng không rõ
điển tích rành rẽ. Có người cắt nghĩa chỗ ấy xưa
có làm một cái “préau” (sân chơi trường học hay
tu viện) hoặc “bureau” (văn phòng) gì đó, cho nên
dân ta dựa theo bèn chế ra danh từ “Bờ Rô” để gọi
làm vậy. Thiết tưởng thà tôi chịu dốt, mặc người
cười, còn hơn lòe các học hữu và nhóm thanh niên
bằng một cách giải nghĩa gượng ép và không căn cứ.
Tiếc cho một di tích vừa hơn trăm năm mà đã phai
mờ trong trí nhớ của người trong nước. Riêng theo
tài liệu của ông giáo Trần Văn Xường, do ông Lê
Ngọc Trụ thuật lại, thì “Bờ Rô” có lẽ do “Moreau”
ta đọc trại đi, và cứ theo ông Xường “Moreau” là
tên của người quản thủ Pháp đầu tiên được cắt chăm
nom vườn này. Dẫu thế nào, theo tôi danh từ “Bờ
Rô” chưa được diễn giải một cách ổn thỏa. Nhưng
dầu chi đi nữa, ta không nên cắt nghĩa càn bừa.
Tiện đây tôi yêu cầu các học giả nên thận trọng
lời diễn luận chẳng khá làm tàng bịa đặt tên “nhà
thương Đầm Đất” (như trong một tờ tạp chí kia),
trong lúc dưỡng đường Grall được cât xây trên một
đồn đất thật sự, ai ai cũng rõ biết, và cũng không
nên vì thấy gần Sài Gòn có những chợ: “Ông Lãnh”,
“Bà Chiểu”, “Bà Điểm”, “Bà Hom”, “Bà Rịa”, “Bà Đen”
rồi đề quyết Năm Bà vốn là thê thiếp của ông Lãnh
binh nọ. Tội chết đa! Tuy người mất rồi không nói
được, chớ còn người cố cựu nữa chi? Bạn thân tôi,
ông Sơn Nam có kể cho tôi nghe gần Cái Bè, trên
con đường đi về Hậu Giang, có một khúc quanh gọi
“Khúc quanh ông Cọp”. Nhiều học giả chưa gì vội
nói hớt, cắt nghĩa: “Xưa ở vùng ấy, cọp rất nhiều,
nên dân bản xứ lấy đó đặt tên”. Theo ông Sơn Nam
chịu khó điều tra kỹ càng; rõ lại mấy chục năm về
trước hãng bán tủ sắt hiệu “BAUCHE” có quảng cáo
cho thứ tủ này bằng một bảng lớn dựng tại khúc quanh
đó; trên bảng vẽ hình một con hổ to ngồi chồm hổm
trên đầu tủ, một tay thò xuống cố cạy nắm tủ “BAUCHE”
(nhãn hiệu “con cọp”) cạy hoài mà không sao cạy
được, đủ biết tủ sắt kiên cố bực nào. Dân quê trong
vùng qua lại tháy bảng vẽ cọp nhan nhản tại khúc
quanh, trong khi nói chuyện bèn gọi tắt chỗ ấy là
“khúc quanh ông Cọp”. Chuyện chỉ có bấy nhiêu, không
nên lắm sự!
------------
[24]Ngày 15 tháng 5 năm thứ 51 Cảnh Hưng (27-6-1790)
de Puymanuel được Chúa Nguyễn Ánh sắc phong "Khâm
Sai Cai Đội Thạnh Oai hầu " (theo Bulletin
de Société des Etudes Indochinoises năm 1935, trương
37.)
[25]Gọi "lục lăng" vật có sáu khía: bình
lục lăng, đá lục lăng. Cây lục lăng là cây tròn
mà có khía, cây bền chắc. Thằng lục lăng là đứa
ngang tàng không biết phép (Đại Nam Quấc Âm Tự Điển
- Huỳnh Tịnh Của)
[26]Những tảng đá lưu lại đo được 0m34 x 0m34 x
0m11.
[27]Nguyễn An Ninh nhóm họp ở đây trước rồi sau
đó mới lên nói và diễn thuyết trên đường Lanzarotte.
[28]Theo Philastre, trượng và xích không y nhau,
và tùy theo thời đại xê xích đôi chút. Đại để: xích
hay thước một là 0m526 khi thì 0m40, khi lại 0m32
và phải 10 thống mới là 1 tấc.
Ông bạn lão thành Vi Huyền Đắc, đọc đến đây, đề
nghị về kích thước, nên lấy chiết trung 40cm để
chuyển ra thước Tây tiện hơn.
[29]Định cho mấy năm đời đầu Gia Long, chưa tuyển
được danh mộc tốt nên phải chở Thái miếu từ Sài
Gòn ra Huế xây dựng lại như thế.
[30]Đây có lẽ tác giả muốn nói "xóm Tân Khai",
tục danh Chợ Sỏi, một tên khác nữa của "Vàm
Bến Nghé".
[31]Trong quyển "Promenade dans Saigon"
của bà Hinda Arnold có một bản địa đồ trong ấy có
ghi rõ vùng mé sông của Bến Nghé, khỏi Chợ Quán,
có vùng gọi "Bazar Chinois", đây là chỗ
xưa kia người Tầu lựa để thiết lập xóm chợ "Đề
Ngạn" sau khi bị Tây Sơn đuổi khỏi Nông Nại
Đại Phố trên Biên Hoà năm 1778.
[32]Trại lính 11 è và Dưỡng Đường Grall, có từ năm
1870. Gần hãng Shell bây giờ, ngày trước có chôn
những lính tử trận giặc 1859, chừng có nghĩa địa
đô thành mới cải táng. Vị trí nghĩa địa nầy ai cũng
biết ở đầu đường Mạc Đĩnh Chi, tên cũ là Massiges,
mà trước nữa là Bangkok. Ông d ' Ormay làm chủ sở
Y Tế cho đến năm 1874, bịnh nhơn của ông phần nhiều
về nằm nơi nghĩa địa nên lớp Tây cũ nói chơi với
nhau, muốn trù ai chết sớm, thường nói: "qu'on
l'envoye à Bangkok" (gởi nó đi Bangkok giùm)
hay là: "qu'on l'envoye dans le jardin du père
d ' Ormay (cho nó vô nằm vĩnh viễn nơi hoa viên
lão già Ormay.
[33]Công Trường Một Hình: có từ năm 1863. Nhưng
tượng de Ghenouilly năm 1879 mới dựng, qua 1945
thì bị hạ. Cũng năm 1945 hạ luôn tượng d ' Adran,
dựng từ năm 1903. Còn lão Gambetta có cả đến hai
pho tượng. Cái thứ nhứt, do đồ thành đặt cho thợ
Falguière làm bên Pháp đem qua đây, bởi không lựa
ngày ăn lạc thành, nên khiến trước dựng giữa đường
Norodom - Pellerin, sau dời về Chợ Cũ, chỗ Tổng
Ngân Khố hiện nay, rồi đem về vườn Tao Đàn. Kịp
năm Nhựt đến, chánh phủ Pháp muốn thâu dụng số đồng
dùng vào chiến tranh, sai thợ nấu lão Gambetta,
thì hỡi ôi! Thân lão là ersatz, đồ đồng giả, không
dùng được. Pho tượng thứ hai, thì do một nhơn vật
về Pháp nghỉ hè rồi đặt làm và chở qua đây, khi
biết dư dùng thì việc đã rồi, làm tội nghiệp cho
pho tượng, tiền nong có trả đủ không chẳng biết,
duy biết pho tượng cứ để y trong hòm cây cho đến
một ngày kia thùng và tượng biến đâu mất, không
một ai hay biết, nấu lấy đồng hoặc bán cho các chú
bán ve chai!
[34]Position de Saigon.-à 10.47 lat.O.-106.38 long.
E. Greenwich, à 89 km du Cap St.-Jacques, 13.550
km de Marseille (7.316 miles) par mer, 12.000 km
de Paris par air, d’après Indochine modern d’Eug.
Teston et Maur. Percheron, lib, de France, Pais,
page 454.
[35]Về ngày quy thần của Lê Tả quân, ít người biết
rành. Quyển Điều cổ hạ kim thi tập của Nguyễn Liên
Phong, soạn năm 1915, trang 27, ghi rằng: “Ngài
(Lê Văn Duyệt), tuy đau sơ sịa, song biết mình đại
mạng dĩ định, bèn trối với Đỗ phu nhơn, nhưng cùng
các tướng sĩ bộ hạ thì trối sơ vài lời vậy thôi.
Bước qua ngày ba mươi, tháng Bảy năm Nhâm Thìn (1832)
ước chừng hai giờ khuya (giờ Sửu) Ngài tắt hơi,
thọ bảy mươi, hiện nay ngày Mồng một tháng Tám là
ngày kỵ. Lúc tắt hơi, thì bốn phía Xóm Chợ Đũi và
nội làng Xuân Hòa, các quân lính đều ngó thấy sáng
rực một đường dài lớn như cây lụa điều từ trong
dinh bay xẹt ra, bay chậm chậm rồi phăng phăng bay
lên hoài, trực chỉ mặt trời lặn hồi lâu biến mất.”
[36]Nói "Lục Tỉnh" làm vầy cho gọn, chớ
kỳ thật danh từ "Nam Kỳ Lục Tỉnh chỉ có từ
năm 1834. (Minh Mạng năm thứ 15.)
[37]Mả Ngụy hay "Mả Biền Tru" - Giặc Lê
Văn Khôi, dậy năm 1833, hạn ngày 8 tháng 9 năm 1835.
Có cả thảy 1.137 người lớn nhỏ bị chém và vùi thảy
trong một mả lớn không núm (tr. 22 Lê Văn Phát,
Khảo vê Tả Quân Lê Văn Duyệt - nhà in Nguyễn Văn
Của, Sài Gòn 1924.) Trong quyển này, ông Lê Văn
Phát cho biết Mả Ngụy ở gần trường đua cũ, làng
Chí Hòa, tại góc đường Thuận Kiều (Lê Văn Duyệt)
và Général Lizé (Phan Thanh Giản). Xưa còn thấy
trụ đề "Ngụy tặc nhứt võng trinh tru "
(quân loạn bắt chung một lưới bị giết hết.) Theo
học giả Đặng Văn Ký thì Mả Ngụy ở gần Dưỡng Đường
Bình Dân đường Phan Thanh Giản (hiện nay là Điện
Biên Phủ). Chưa ai tìm ra di tích Mả Ngụy. "1.137
hommes furent exécutés dans la Plaine des Tombeaux
(Champ du Polygone actuel) et ensevelis dans une
même fosse (Mả Biên Tru). " (Histoire Annamite
par Trương Vĩnh Ký, p. 264).
hết: PHẦN THỨ BA, xem tiếp: PHẦN THỨ TƯ(a)

Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|