|
Nhất
Linh - Người nghệ sĩ, Người chiến sĩ
Nhân dịp 41 năm ngày giỗ của văn hào Nhất Linh
(7-7-1963 - 7-7-2004), vào cuối tháng 6 vừa qua,
tạp chí Thế Kỷ 21 đã phát hành quyển "Nhất
Linh - Người nghệ sĩ, Người chiến sĩ", gồm
các bài viết của nhiều tác giả (Nguyễn Tường Bách,
Võ Phiến, Trương Bảo Sơn, Anh Thơ, Tú Mỡ, Nguyễn
Thị Vinh, Thụy Khuê, Đông Hồ, Linh Bảo, Trần Thanh
Hiệp, Lê Đình Thông, Khoa Hữu, Bùi Bích Hà, Trần
Khánh Triệu, Nguyễn Tường Thiết, Trương Kim Anh,
Lưu Văn Vịnh, Phạm Phú Minh) về cuộc đời làm báo,
hoạt động văn học nghệ thuật và chính trị, và một
số tác phẩm điển hình của nhà văn Nhất Linh..
Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một số bài viết
trong "Nhất Linh - Người nghệ sĩ, Người chiến
sĩ".
Đọc
Bản Thảo Của Nhất Linh
VÕ PHIẾN
Tên bài như trên chẳng qua là đặt cho gọn thôi.
Nó mơ hồ, thiếu sót, có thể gây ngộ nhận. Tôi không
từng "nghiên cứu," cũng chưa đọc được
bao nhiêu bản thảo của Nhất Linh, để phát giác ra
điều nào đáng kể trong sự nghiệp trước tác của ông.
Sự thực Nhất Linh đã viết nhiều sách, bản thảo
những tác phẩm xuất bản trước 1954 không nghe nói
có lưu giữ được không? nhiều hay ít? hiện tàng trữ
ở đâu? Còn lại là cái phần được in ở Sài Gòn sau
đó. Trong phần bản thảo ấy tôi cũng chỉ có dịp đọc
qua một số ít - rất ít - mà thôi.
Dù vậy sự tiếp xúc với những trang chữ của bậc
tiền bối lỗi lạc từng sống một đời đầy dông bão
và kết thúc đau thương, sự tiếp xúc ấy gây xúc động
và nghĩ ngợi. Ở đây chỉ là dăm ba ý nghĩ căn cứ
vào một số trang bản thảo may mắn được xem qua thôi.
Niềm vui
Thoạt tiên người đọc để ý đến điều này: là Nhất
Linh thường ghi thời điểm bắt đầu viết mỗi tác phẩm,
thậm chí có khi mỗi phần trong tác phẩm:
- Ở trang đầu bản thảo Giòng sông Thanh Thủy, có
dòng chữ: "Khai bút ngày 26 tháng 11 năm 1960".
Dưới đó, bằng nét chữ nhỏ hơn, màu mực khác hẳn,
lại có câu: "Bắt đầu viết 28-11-60. Viết xong
28-1-61". - Ở bản thảo cuốn Viết và đọc tiểu
thuyết, nơi trang ghi phác sơ lược thứ tự dàn dựng
toàn tác phẩm - từ "mấy lời nói đầu" đến
"kết luận" - ông đề ngày 21-4-52. Nơi
trang 1 (Mấy lời nói đầu) ông đề ngày 10-5-52. Nơi
trang 21 (nói về Các nhân vật) đề ngày 26-6 v.v...
Ghi ngày ghi tháng: Chưa đủ. Có những trường hợp
Nhất Linh còn ghi kỹ cả giờ, cả phút nữa!
- Ở trang đầu cuốn Xóm Cầu Mới (Bèo giạt) có hàng
chữ: "Trên Núi, ngày 16 tháng 10 năm 1949,
1 g 30 trưa".
- Ở trang phác họa bìa cuốn truyện dài Hai con mắt
có dòng chữ: "Vụt nghĩ ra 26-4-1961 - 11 giờ
(12 tháng 3 năm Tân Sửu)".
"Trên Núi" là một chỗ ở Hương Cảng. "Trên
Núi," hai chữ ấy đưa ra thêm một chuyện nữa:
Là, ngoài thời điểm, lắm khi Nhất Linh còn ghi địa
điểm sáng tác:
- Ở trang phác họa bìa cuốn truyện dài Vui buồn
(trong bộ Xóm Cầu Mới) bản thảo viết lại lần thứ
ba, có lời ghi: "Hàng Bè. 1951." Rồi ở
trang đầu tiên cũng bản thảo này, bấy giờ lại mang
tên Xóm Cầu Mới, có lời ghi: "Saigon - 1951.
Viết lại lần thứ 4." Thì ra cùng trong một
năm tác giả đã hăm hở viết lại đoạn sách này hai
lần, ở hai nơi, và đã quyết định đổi cả nhan sách.
Bao nhiêu ghi chép ấy trên các bản thảo có ích
lợi như thế nào? Ngày tháng, giờ giấc viết, nơi
chốn đích xác mình từng ngồi viết ra câu nọ chuyện
kia, những cái ấy một khi ghi nhớ rõ sẽ có đóng
góp nào cho giá trị tác phẩm, cho công việc sáng
tác? Tất nhiên những ký chú về hoàn cảnh biên soạn
có ích lợi cho việc nghiên cứu văn học về sau; nhưng
đối với chính tác giả thì tôi không có cơ hội nhận
thức được cái ích lợi. Họa chăng có nhận thấy cái
gì như thể một sự hài lòng, hứng chí, của tác giả
khi bắt đầu và khi hoàn tất một tác phẩm.
Dù sao, những dòng chữ nói trên của Nhất Linh đã
đưa tôi đến sự liên tưởng tới mấy sự kiện trong
đời ông. Chẳng hạn:
- Trước 1945 cứ mỗi lần Nhất Linh in xong một cuốn
truyện mới, dù bà có bận rộn công việc đến mấy ông
cũng yêu cầu bà bỏ hết mọi việc để cùng ông đi bãi
biển Sầm Sơn, cùng sống với nhau riêng biệt một
thời gian; trong cảnh sống của những ngày vui thú
ấy ông tập cho bà hút thuốc, uống rượu, uống trà
tàu ;
- Một bức ảnh Nhất Linh nằm võng giữa rừng, chụp
để "kỷ niệm ngày khai bút Xóm Cầu Mới bên giòng
suối Đa Mê, ngày 13-10-57" ;
- Hôm 7-7-1963 ông tự tử. Việc làm đầu tiên trong
cái ngày cuối cùng của mình là đích thân mang gói
bản thảo tác phẩm chót đến nhà in Trường Sơn (do
một người bạn văn chủ trương) để lo việc xuất bản
v.v...
Đọc những dòng chữ li ti ghi trên bản thảo của
ông, rồi nghĩ lan man về chuyện nọ chuyện kia đã
xảy đến trong đời ông, tôi mường tượng ra hình ảnh
ông Nhất-Linh-cầm- bút: Một Nhất Linh hớn hở thấy
rõ.
Việc vừa xuất bản được cuốn sách liền mang vợ (hay
người yêu) đi Sầm Sơn, đi Đà Lạt, Vũng Tàu v.v...
mấy hôm, việc ấy hồi còn trẻ chúng ta phần đông
cũng có thể đã làm. Việc long trọng đề ngày "khai
thần bút" viết tác phẩm đầu tay cũng vậy. Nhưng
cái sôi nổi của tuổi trẻ qua rồi, công việc viết
lách dần dần thành thói quen, có khi là thói quen
nhạt nhẽo, buồn chán, có khi (tệ hơn) là lao tác
nhọc nhằn (như mấy trang bắt buộc mỗi ngày phải
nộp cho nhật báo); bấy giờ chắc không mấy ai còn
hứng thú ghi nhớ đoạn văn này viết tại đâu, vào
giờ nào phút nào. Chắc thế.
Nhất Linh khi phải rời tòa báo ở 80 đường Quan
Thánh Hà Nội ra đi, thì đã có hàng tá nhan sách
ra đời, đã có hẳn một sự nghiệp văn học lẫy lừng.
Thế mà gần như mỗi lần cầm cây bút lên ông đều hăm
hở, đều lấy làm quan trọng. Ý này nẩy sinh trong
đầu ông lúc mấy giờ, ngày nào, đoạn văn nọ viết
ra vào hôm nào..., ông đều ghi nhớ. Ông mừng dòng
chữ đầu tiên, ông mừng dòng chữ cuối cùng của mỗi
tác phẩm. Trong xây dựng công trình kiến trúc thì
đặt viên đá đầu tiên là chuyện long trọng, rồi vui
mừng khánh thành càng long trọng. Trong xây dựng
tác phẩm văn nghệ ở Nhất Linh, mỗi bước mỗi như
thế.
Vừa rồi có nói đến những người thấy viết lách lâu
ngày thành thói quen nhàm chán. Đó chẳng qua là
một phương diện của thái độ tiêu cực. Lại có phương
diện khác, ngược lại. Của các vị nhận thấy viết
văn là việc cực quan trọng: là nhiệm vụ, là sứ mệnh,
là cái nghiệp, là nghiệp vụ, nghiệp dĩ, nghiệp...
chướng v.v... Một số các vị khác thấy trước tác
là cái lớn lao, thiêng liêng, nhưng là việc cực
nhọc, nguy hiểm (!), đòi hỏi sự hi sinh: trong văn
có lửa trong thơ có thép có máu, cầm bút cũng như
cầm gươm cầm súng...
Trước các bản thảo của Nhất Linh, không thể hình
dung ra một con người uể oải chán ngán vì thói quen,
cũng không thể nghĩ đến vẻ thê thảm của kẻ mang
nghiệp chướng, và cũng không thấy ra hình ảnh một
chiến sĩ lừ lừ... Tôi lại tưởng tượng ra một người
đang khoái chí.
Khoái chí, tiếng ấy nghe có chỗ hỗn láo? Nó gợi
một ý hồn nhiên của trẻ thơ, ít ra cũng một vẻ mừng
rỡ trẻ trung. Đàng này, Nhất Linh bấy giờ đã thuộc
lớp tuổi cao niên, trên đường văn nghiệp ông đã
đến cái đỉnh của danh vọng. Thế nhưng mỗi lần viết
ông còn náo nức. Ông viết mà sung sướng thấy rõ.
Cảnh tượng ấy thật cảm động.
Vả lại trẻ trung hay trẻ thơ, náo nức hay sung
sướng, thì có gì ngại phô bày? Ông Thánh Thán hể
hả la lối om sòm khi gặp bất cứ niềm vui cỏn con
nào, sao ta lại dè dặt vì niềm vui sáng tác? Năm
1950, ngày 13 tháng 3, Nhất Linh viết xong chương
XII của bộ Xóm Cầu Mới. Bốn mươi hôm sau, ông ghi
lên bản thảo mấy chữ: "Sáng 23-4 đọc lại: I
am satisfied with me." Câu Anh văn ấy, nếu
dịch ra giọng Thánh Thán thì là: "Bất diệc
lạc hồ?" Cùng câu ấy nếu đem ra diễn nôm theo
giọng bình dân Nam bộ sẽ thành ra: "Tôi khoái
tôi quá chời!" chứ còn gì nữa? Tự nhiên thôi.
Nhất Linh nhiều lần nói đến cái sung sướng ở kẻ
khác. Cô Mùi là một trong mấy "cục cưng"
của Nhất Linh. Ông thấu hiểu hết ruột gan của cô
gái ấy. Lúc cô ta bắt gặp mấy chữ trong bức thư
của Siêu bộc lộ tình yêu, Mùi bị một "cái sung
sướng đột ngột nó như từ ở một nơi xa nào ùa vào
tràn ngập cả tâm hồn." Nỗi sung sướng còn phát
ra... mùi thơm! "Trong gió thoảng mùi lúa chín
thơm và nỗi sung sướng của nàng, Mùi thấy cũng thơm
như mùi lúa."
Tôi tưởng tượng ngày 12 tháng 3 năm Tân Sửu lúc
11 giờ, khi cái ý về cuốn truyện Hai con mắt vụt
thoáng qua trí Nhất Linh và ông cũng "vụt"
ghi ngay lên giấy sự việc ấy; lại tưởng tượng lúc
1 giờ 30 phút trưa ngày 16 tháng 10 năm 1949 ở chỗ
"trên núi" tại Hương Cảng khi ông ghi
mấy lời vào trang đầu bản thảo Xóm Cầu Mới, thì
hẳn là nỗi sung sướng trong lòng ông cũng đột ngột
thơm lên chăng?
Ở đời lắm kẻ bảo mình có duyên tiền định đối với
chữ nghĩa, không sao rời được văn thơ; tuy vậy gặp
được một chứng cứ viết lách hào hứng mê say như
Nhất Linh không dễ đâu.
Trong trường hợp ông, chứng cứ là bộ Xóm Cầu Mới.
Khi bắt đầu đăng báo, tác giả viết "Mấy lời
nói đầu," cho biết bộ trường giang tiểu thuyết
ấy dài gần vạn trang, hiện đã thảo sáu cuốn, mong
sẽ viết độ hai chục cuốn nữa, trong đó có truyện
dày tới nghìn trang, có truyện hai ba trăm trang.
Dự định một vạn trang sách rồi không thực hiện được.
Mười năm sau khi tác giả qua đời, bộ Xóm Cầu Mới
được ấn hành làm hai cuốn, dày 713 trang.
Chừng ấy trang sách đâu phải thảo ra một hơi là
xong. Xóm Cầu Mới lần đầu viết năm 1940 tại Hà Nội;
lần thứ hai năm 1943 tại Quảng Châu (Trung Hoa),
lần thứ ba năm 1949 tại Hương Cảng (Trung Hoa),
lần thứ tư năm 1951 tại Hà Nội, lần thứ năm năm
1957 tại Fin Nôm (Đà Lạt).
Trong lịch sử văn học ở nước ta có được bao nhiêu
câu chuyện viết văn làm thơ mà năm lần bảy lượt
như vậy? Đến lần thứ năm, cái viết vẫn còn đầy hứng
thú. Cứ trông tấm hình kỷ niệm và dòng chữ bên dưới
thì biết.
Đến đây có lẽ nên dừng lại chút xíu trước một chi
tiết: Từ 1940 đến 1957 là 17 năm. Chừng ấy thời
gian cho một pho truyện: lâu quá. Thật ra Xóm Cầu
Mới là một chứng cứ mê say của Nhất Linh, không
phải một chứng cứ viết chậm.
Chúng ta đã biết tác giả có ghi trên bản thảo Giòng
sông Thanh Thủy rằng bộ truyện này bắt đầu ngày
28-11-60, viết xong ngày 28-1-61: Hai tháng. Bộ
truyện gồm ba cuốn: cuốn đầu (Ba người bộ hành)
dày 192 trang, cuốn sau (Chi bộ hai người) 135 trang,
cuốn chót (Vọng quốc) 147 trang. Non năm trăm trang
sách ấy viết trong một hoàn cảnh đặc biệt: Trước
khi Nhất Linh bắt đầu bộ sách 17 hôm là ngày xảy
ra chính biến 11-11-60. Truyền đơn Mặt trận Quốc
Dân Đoàn Kết do ba nhân vật đứng tên: Phan Khắc
Sửu, Nguyễn Xuân Chữ, Nguyễn Tường Tam. Mặt trận
thất bại, Nhất Linh bỏ nhà trốn lánh, hơn một năm
trời nay đây mai đó, gia đình không rõ tung tích.
Xóm Cầu Mới là sách viết chạy, Giòng sông Thanh
Thủy là sách viết chui. Tình cảnh cùng gian truân
cả. Cuốn sách viết nhanh lại là cuốn được tác giả
thích ý. Ông ước mong sách được dịch ra tiếng Anh,
tiếng Pháp. Trên trang đầu của bản thảo, ngoài bốn
chữ Giòng sông Thanh Thủy ông còn tự mình dịch sẵn
nhan sách ấy ra ba thứ tiếng khác: Thanh Thủy hà
(chữ Hán), La rivière claire (Pháp) và Limpid water
river hay Clear water river, hay Clear river (Anh).
Eudora Welty là một tiểu thuyết gia Hoa Kỳ đồng
thời với Nhất Linh; bà vừa mới qua đời. Ngày nhỏ,
bé Eudora chưa viết được truyện (dĩ nhiên!), chỉ
ham nghe kể truyện, nghe mê mẩn. Lớn lên, khi được
bảo cho biết rằng truyện là do có kẻ viết ra chứ
không phải tự nhiên sinh ra như cỏ dại, bà kinh
hãi và thất vọng quá chừng.
Bà Welty ấy nếu được biết luôn đến trường hợp viết
truyện của Nhất Linh - viết đi viết lại, viết chụp
giựt trong cảnh trốn lén - thì bà còn hồn vía còn
bụng dạ nào dám viết tiểu thuyết nữa!
Nỗi khổ
Nhất Linh, hễ cứ viết là ông thấy vui sướng. Như
vậy ông phải là kẻ sung sướng nhất đời, sung sướng
không ai can nổi.
Đòi có nhà lầu xe hơi tiền muôn bạc triệu mới thấy
sướng, đòi có quyền cao chức trọng mới thấy vui
thì khó. Chứ đối với người chỉ cần một gian nhà
nhỏ bên suối, với cơm ba bữa mỗi ngày, một cái võng,
một ống tiêu, với một cây bút, thì họa chăng có
ông Tần Thủy Hoàng sống dậy mới bắt người ấy khổ
được thôi. Ngoài ra, ai bắt được?
Ấy vậy mà Nhất Linh rất khổ. Trong văn giới xưa
nay hiếm ai khổ bằng ông.
Hoàng Xuân Hãn lần đầu biết Nguyễn Tường Tam vào
dịp hai vị cùng tham dự vào phái đoàn Việt Nam trong
cuộc họp với Pháp ở hội nghị Đà Lạt. Bấy giờ - năm
1946 - Nguyễn Tường Tam là bộ trưởng bộ Ngoại Giao,
chủ tịch phái đoàn Việt Nam (Võ Nguyên Giáp là phó
trưởng đoàn). Nhận xét về phong độ Nguyễn Tường
Tam, ông Hoàng Xuân Hãn viết: "Cử chỉ lễ độ,
ăn nói chững chàng, trong buổi xã giao hội họp với
kẻ chức trách, hoặc phái viên Pháp, ảnh đã có thái
độ cử chỉ đoan nghiêm và đúng mức, không làm thẹn
chức vụ bộ trưởng Ngoại Giao và chủ tịch phái đoàn
Việt Nam." Về ngoại dạng, ông chú ý đến "đôi
mắt to nhưng ra vẻ mệt nhọc hay chán chường."
Trong năm 1946 Nguyễn Tường Tam rời Việt Nam sang
Trung Hoa ở cho đến 1951. Tình trạng tệ hơn. Ông
Nguyễn Tường Bách nhận xét: "Anh Tam hồi ấy
có lẽ vì mệt mỏi nên mắc bệnh suy nhược thần kinh.
Mọi người chủ trương anh phải tịnh dưỡng một thời
gian, không nên tham gia những hoạt động có thể
đưa lại những kích thích quá mạnh.".
Năm 1954, Nguyễn Ngu Í đến gặp Nhất Linh để thực
hiện một cuộc phỏng vấn, ở Sài Gòn. Nhớ lại bức
ảnh in trong một cuốn sách Đời Nay trước kia, so
với ông Nhất Linh bây giờ trước mặt mình, Ngu Í
"bùi ngùi vô hạn." "Anh dường như
yếu nhiều, và chẳng những tay anh hơi run, mà phía
dưới hai gò má anh cũng giựt lia, giọng anh liu
líu, hơi nói chẳng được dài. Và cả người anh một
cái gì mệt mỏi, chán chường." Run rẩy, giựt
lia, liu líu v.v...: Bùi ngùi vô hạn là phải.
Các vị trên đây dẫu sao chỉ ghi nhận cảm tưởng
qua các cuộc gặp gỡ. Người con trai út của Nhất
Linh - anh Nguyễn Tường Thiết - từng sống bên cạnh
cha một thời gian dài sau 1951 đã biết thêm những
điều thầm kín đau đớn. Tháng 4-1951, Nhất Linh với
anh là Nguyễn Tường Thụy vào ở Sài Gòn. Anh em cùng
ở một nhà. Nguyễn Tường Thiết kể: "Nhất Linh
thường viết trong đêm khuya khoắt. Những khi giật
mình thức giấc nửa đêm tôi thường thấy, qua khe
cửa, đèn trong phòng ông còn bật sáng. Có đêm lũ
chúng tôi lồm cồm bò dậy vì có tiếng khóc trong
phòng cha tôi. Tiếng khóc lúc đầu còn nhỏ sau lớn
dần không kìm hãm được. Lũ chúng tôi ngơ ngác nhìn
nhau (...). Sau này tôi biết ông đã khóc âm thầm
nhiều đêm vào những dịp khác. Không ai có thể đoán
biết ông khóc cái gì, ngay cả mẹ tôi cũng không
thể nào biết được. Nhưng sự khám phá này đã gieo
vào tuổi thơ của tôi một ấn tượng mạnh mẽ, rằng
cha tôi là một người cô đơn và đau khổ. Ngoài ra
những giấc mơ kỳ lạ và kinh hãi cũng được tôi hình
dung thấy qua giấc ngủ của ông, qua cách ông trằn
trọc ú ớ trong đêm."
Năm 1954 Nhất Linh sang Pháp chữa bệnh. Từ Pháp
về, sống ở khu phố chợ An Đông ít lâu, rồi ông lên
Đà Lạt ở luôn mấy năm. Vẫn theo lời Nguyễn Tường
Thiết thì dạo này ông khỏe mạnh.
Tuy vậy cái khóc của Nhất Linh thì vẫn còn.
Sau 1975, cùng sống với nhau ở tiểu bang Minnesota
(Hoa Kỳ) vài năm, tôi được nghe ông Vũ Khắc Khoan
nhắc đến một kỷ niệm về Nhất Linh: Một buổi chiều
ở Sài Gòn ông Vũ có dịp ngồi nói chuyện với Nhất
Linh, trong phòng chỉ có hai người. Bấy giờ là đầu
thập niên 1960, Sài Gòn xôn xao không khí chính
biến. Ông Vũ tỏ ý lo ngại tới sự an toàn của Nguyễn
Tường Tam. Ông Nguyễn bảo rằng thực ra lúc này ông
không trực tiếp hoạt động chính trị, chẳng qua bạn
bè và đồng chí cũ có điều gì hỏi đến thì ông góp
ý thôi. Ông Vũ nói mình biết có những người hoặc
bị tù tội hoặc đã hi sinh tính mạng vì sự tin tưởng
vào ông (Nguyễn) đấy. Không nghe đáp lại. Lát sau,
ông Vũ quay nhìn, thấy ông Nguyễn đang khóc lặng
lẽ.
Niềm đau khổ âm thầm của Nhất Linh, trước kia người
thân trong gia đình không thấu hiểu nguyên do. Về
sau, nguyên do tự hé lộ: gốc nguồn là từ những hoạt
động chính trị.
Năm 1946 tại hội nghị Đà Lạt, một hôm Nhất Linh
ốm, nằm trong phòng, Hoàng Xuân Hãn đến thăm, trò
chuyện. Nhất Linh bảo: "Những việc chính trị,
thôi để các anh làm. Còn tôi thì về với văn hóa
mà thôi." Độ mười năm sau, khi sống tại Đà
Lạt, có hôm bỗng nhiên ông buột miệng nói ra và
Nguyễn Tường Thiết ghi nhớ: "có một lần hiếm
hoi ông đã tiết lộ với chúng tôi là thời gian khổ
sở nhất trong cuộc đời của ông là lúc ông đảm nhận
chức vụ bộ trưởng bộ Ngoại Giao trong chính phủ
Liên Hiệp."
Với Hoàng Xuân Hãn, Nhất Linh bảo anh làm chính
trị tôi làm văn hóa thôi. Sau đó, chính Hoàng Xuân
Hãn về với văn hóa mà Nhất Linh lại dây dưa dính
mãi vào chính trị. Với con, Nhất Linh bảo ông khổ
nhất là lúc làm bộ trưởng. Sau đó cái khổ nhất lại
đến với ông lúc ông đứng ngoài chính quyền, không
còn giữ một chức vụ gì cả. Khổ nhất hẳn là việc
tự hủy mình.
Văn nghệ với chính trị là hai yếu tố chính trong
đời Nhất Linh. Ngày 7-7-1963, vào khoảng 4 giờ chiều
ông uống thuốc độc thì 11 giờ trưa trong lúc cha
con trò chuyện lần sau cùng, Nguyễn Tường Thiết
(không biết đến ý định quyết liệt của cha) đã gợi
ý ông viết hồi ký; ông bảo chuyện ấy ông có nghĩ
tới hồi 1958 ở Đà Lạt: "Cậu dự tính viết ba
quyển: cuộc đời làm báo và viết văn của Nhất Linh,
cuộc đời làm cách mạng của Nguyễn Tường Tam và quyển
thứ ba cậu viết về hoa phong lan. Nhưng về đây cậu
bận vì tờ Văn Hóa Ngày Nay nên chỉ viết được cuốn
Viết và đọc tiểu thuyết, sau đó lại dính vào những
rắc rối chính trị, không có tâm đâu mà viết (...)
Chuyện chính trị nhiều khi cái không khí nó bắt
buộc mình phải tham gia, như cái tình trạng hồi
Pháp thuộc, lúc đó, nếu cậu không đứng ra làm việc
nước thì trong lòng áy náy chẳng làm được chuyện
gì khác. Nhiều khi người ta bị đẩy tới guồng máy
hoạt động một cách rất giản dị không ngờ, rồi như
những bánh xe ăn khớp nhau, họ bị đẩy dần vào vòng
trách nhiệm. Ngay cả hồi chơi hoa phong lan ở Đà
Lạt, cậu vẫn thấy mình không thể đứng ngoài vòng
trách nhiệm ấy, nên phải về hoạt động lại ở Sài
Gòn. Chính vì thế làm chính trị lúc tiến thì dễ
lúc rút thì khó."
Cách cái chết năm tiếng đồng hồ, Nhất Linh tóm
tắt đời mình vào ba việc, trong đó phong lan là
cái chơi, hai việc kia là cái làm: văn chương và
chính trị. Một bên là niềm vui, một bên là nỗi khổ.
Một bên muốn tiếp tục mà không được, một bên muốn
rút lui lại không khỏi. Một bên đưa tới bộ Xóm Cầu
Mới, một bên đưa tới bộ Giòng sông Thanh Thủy, hai
tác phẩm cuối cùng của ông.
Xin trở lại mấy trang bản thảo
Năm 1958, khi cho đăng Xóm Cầu Mới trên báo, tác
giả viết "Mấy lời nói đầu," trong đó có
câu: "Cứ đọc những truyện dài trên kia, các
bạn cũng đã lĩnh hội được phần nào cái ý chính của
toàn bộ, nghĩa là không có ý chính gì cả ngoài cái
ý tả cuộc đời về đủ mọi mặt."
Sau đó, viết Giòng sông Thanh Thủy, Nhất Linh lại
lấy làm quan trọng về cái ý truyện. "Sau đó",
tức ba năm sau: ngày 10 tháng 1 năm 1961. Hôm ấy
ông đắn đo suy đi nghĩ lại, ông viết "ý truyện"
một lần thứ nhất, rồi không vừa ý, ông gạch bỏ đi,
lại viết "ý truyện" một lần thứ hai. Lúc
ấy là 5 giờ sáng. Lần trước gạch bỏ bằng bút mực
đen, xong lại gạch nữa bằng bút chì đỏ. Lần sau
chỉ có nét gạch bằng bút chì đỏ thôi. Đến khi sách
xuất bản, cả hai đoạn ý đều không được in ra.
"Ý truyện," viết đi viết lại nội dung
gần như nhau. Xin lấy bản viết sau: "Mỗi người
đều có một 'kiếp' (karma); mọi hành động đều do
những sức ngấm ngầm trong bản thân thúc đẩy. Cuộc
đời mình đi vào con đường nào đều do sức thúc đẩy
mà mình không tự biết ấy tuy mình vẫn tưởng là chính
mình tự chọn. Khi đã đi vào con đường ấy, mình bị
một 'guồng máy vô hình' lôi cuốn, khó lòng thoát
khỏi, chỉ việc noi theo, không nhận định được đâu
là xấu đâu là tốt, đâu là sự thực đâu là sai lầm."
Mặc dù "ý truyện" không được in vào sách,
ý truyện vẫn hiển lộ rõ ràng trong Giòng sông Thanh
Thủy (Có lẽ chính vì sự hiển lộ quá rõ, quá đầy
đủ trong truyện mà nó không cần được tách ra nêu
ở đầu sách). Những ý tưởng (và cả từ ngữ) như kiếp,
karma, xấu tốt đúng sai khó phân, guồng máy... đều
có mặt trong truyện nhiều lần. Chữ "guồng máy"
được nhắc đến khoảng ba chục lần. Ở "ý truyện,"
guồng máy chỉ lôi cuốn thôi, trong pho truyện guồng
máy còn hung tợn hơn: nó là guồng máy khốc liệt
(trang 55, cuốn III), nó kẹp nát nhừ (trang 145,
cuốn I), nó nghiền nát (trang 12, cuốn II)...
Người đọc có cảm tưởng sau Xóm Cầu Mới Nhất Linh
bị họa chính trị ám ảnh nặng. Nó uy hiếp cái viết
của ông.
Sau vài chục năm viết truyện, Nhất Linh dần dần
tìm ra, dựng nên, một lý thuyết về tiểu thuyết.
Bướm trắng (1939) được viết theo một quan niệm mới,
khác các cuốn trước. Đến năm 1942 ông bắt đầu viết
hẳn ra một cuốn sách về các nguyên tắc hướng dẫn
cách đọc và viết tiểu thuyết. Công trình sáng tác
qui mô mà ông dự định bấy giờ được căn cứ trên những
nguyên tắc ấy: Xóm Cầu Mới sẽ không có ý chính gì
cả: trong hàng vạn trang sách sẽ chỉ có cuộc đời
với nhân vật được mô tả cặn kẽ, thật đúng, thật
sống động.
Dự định Xóm Cầu Mới vừa thực hiện non một phần
mười thì ý truyện Giòng sông Thanh Thủy tràn tới,
choáng hết tâm tư đầu óc ông. Ở đây có hẳn một ý
chính, một quan niệm nhân sinh: mỗi người một kiếp,
sức ngầm thúc đẩy, guồng máy lôi cuốn không thoát
nổi, xấu tốt đúng sai không nhận định được...
Tư tưởng chỉ đạo ấy ám ảnh tác giả, khống chế tác
phẩm. Giòng sông Thanh Thủy ba cuốn (Ba người bộ
hành, Chi bộ hai người, Vọng quốc) vừa xong, ý truyện
Hai con mắt lại vụt đến. Cuốn sau này chưa viết
được bao nhiêu, nhưng ở mấy trang bản thảo đầu đã
thấy Thanh và Ngọc: câu chuyện của các nhân vật
Giòng sông Thanh Thủy được tiếp tục.
Cuốn Viết và đọc tiểu thuyết viết từ 1952 đến 1960,
bộ Xóm Cầu Mới viết lại rồi cho in lên báo năm 1958.
Đến giai đoạn này Nhất Linh vẫn giữ một quan niệm.
Theo quan niệm ấy, tiểu thuyết muốn viết về gì cũng
được:xãhội,luậnđề,trinhthám, ái tình, luân lý, tình
cảm, triết lý... Được tất. Nhưng trước hết phải
lo viết cho hay. Viết hay là tả đúng các trạng thái
phức tạp của cuộc đời, đi thật sâu vào sự sống,
tìm cho nhiều chi tiết về người và việc để tạo được
những nhân vật sống động.
Sau giai đoạn nói trên, ở những tác phẩm viết sau
1960 người đọc có cảm tưởng luận đề nó xông vào
ám ảnh tác giả, làm chủ tác phẩm. Người viết luôn
nghĩ tới cái nghiệp của nhân vật này nhân vật nọ,
cái guồng máy nó lôi cuốn anh này chị kia. Luận
đề lại đóng vai trò lớn; biện giải, chứng minh,
thành mối bận tâm lớn. Người làm chính trị khổ sở
quay ra quấy phá người làm văn nghệ, quấy mạnh.
Nhất Linh gọi tên thủ phạm là cái guồng máy, tôi
ngờ không hẳn vậy. Không chừng thủ phạm chính thị
là... nạn nhân thôi. Ông vui sướng do tài năng,
ông vừa viết vừa vui: đó là một phương diện của
Nhất Linh. Về một phương diện khác, ông vừa làm
vừa khổ, càng làm càng khổ: làm đây là làm chính
trị, cái làm không thoát ra nổi.
Sự thực máy nó cuốn ông cách nào? Tôi nghĩ những
lời ông thốt ra với con sát kề cái chết của mình
là những lời tâm can, rất mực chân thành: "như
cái tình trạng hồi Pháp thuộc, lúc đó, nếu cậu không
đứng ra làm việc nước thì trong lòng áy náy chẳng
làm được chuyện gì khác." Rồi máy nó cuốn vào,
vì sao mà ông không rút mình ra được? - "Ngay
cả hồi chơi hoa phong lan ở Đà Lạt, cậu vẫn thấy
mình không thể đứng ngoài vòng trách nhiệm ấy, nên
phải về hoạt động lại..." Nói cách khác, ấy
cũng tại vì lòng ông lại "áy náy."
Trong đời Nhất Linh đã xảy ra nhiều chuyện phù
hợp với những lời thốt ra cuối đời ấy. Chẳng hạn
chuyện ông thi vào trường Mỹ Thuật, đậu đầu, mà
học chẳng bao lâu lại bỏ học vẽ. Ba chục năm sau,
Nguyễn Ngu Í hỏi lý do, Nhất Linh cho biết vì khi
mang giá, cọ, màu về quê, thấy đời sống thôn quê
khổ quá, tối tăm quá, cần phải làm gì giúp họ. Giá,
cọ, màu không giúp kiến hiệu bằng báo chí. - Ấy
là áy náy chứ còn gì nữa.
Lại chẳng hạn những tiếng khóc đêm đêm trong phòng
riêng tại nhà người anh, tiếng khóc một chiều trước
mặt Vũ Khắc Khoan... Ấy cũng do áy náy thôi. Còn
vượt xa hơn sự áy náy.
Nhất Linh không thể không làm cái này, không thể
rút lui khỏi việc kia, là do lòng ông cả, do cái
tâm của ông cả. E không vì máy móc nào. Trong hoàn
cảnh Pháp thuộc ông không đành lòng vui với cái
vẽ cái viết; nhưng đâu phải xung quanh ông ai nấy
đều bị máy nó hút cả? Hoạt động đã suy nhược người
ra, đã lâm bệnh, mà ông không thể tự tách ra ngoài
vòng trách nhiệm; nhưng đâu phải bấy giờ thiếu kẻ
trùm chăn kín mít "cao thượng" quá trời,
hay lánh ra nước ngoài thần trí thảnh thơi quá cỡ.
Ở Nhất Linh, chẳng qua cái tâm nó gây lụy cho cái
tài. Chính ông hại ông, gỡ sao cho khỏi.
Một lần nọ tôi có dịp biết câu chuyện đã xảy ra
cho anh Nguyễn Tường Thiết cách đây khoảng bốn mươi
năm. Anh thi tú tài, vào khẩu vấn, môn Việt văn.
Ông giáo sư xem thẻ học sinh, cho anh thí sinh họ
Nguyễn Tường được chọn nói về tiểu sử một trong
các nhà văn của Tự Lực Văn Đoàn. Bạn tôi chọn ngay
Nhất Linh. Rồi anh tịt luôn, không nói được câu
nào. Nói theo sách? Thì anh có học tiểu sử Nhất
Linh trong sách giáo khoa bao giờ đâu? Còn kể lể
về những kỷ niệm của đời sống gia đình thân mật
giữa không khí cuộc vấn đáp ở trường thi thì kỳ
cục quá.
Giả sử có cuộc khẩu vấn về tiểu sử mỗi người trước
cửa thiên đình, chắc Nhất Linh - chính ông - lẫn
lộn trong đám nhân vật lao nhao của mình, sẽ ấp
úng than thở về nỗi bị kẹt vào máy liên miên, đến
tàn đời. Các phán quan nhà Trời không thể không
có cảm tình đối với một phát biểu khiêm tốn như
thế. Nhưng chuyện ấy rối rắm, các ngài hẳn lấy làm
khó tin.
Còn như bảo Nhất Linh chính bị mắc kẹt ngay vào
cái tâm của mình, thì éo le quá. Nói vậy được sao?
Nói về Nhất Linh, bất giác nghĩ tới một tiểu thuyết
gia khác, của Tây phương, hồi thế kỷ trước.
Mùa hè năm 1836 cậu bé Gustave Flaubert, bấy giờ
15 tuổi, tình cờ gặp bà Schlésinger. Hình ảnh người
thiếu phụ ấy ám ảnh cậu ta mãi. Bà Arnoux - một
nhân vật chính trong Giáo dục tình cảm (L'éducation
sentimentale) - là biến dạng của bà Schlésinger.
Năm 1843 Flaubert bắt đầu viết cuốn Giáo dục tình
cảm, bản thứ nhất. Năm 1845, truyện viết xong, cất
đấy. Nhưng G. Flaubert thì chưa thoát khỏi sự ám
ảnh của đề tài này. Ông tiếp tục đào sâu, thu thập
tài liệu, đọc sách dữ dội, tích tụ những quan sát,
ghi chép hàng ngày. Tháng 9-1864 ông khởi công viết
một cuốn Giáo dục tình cảm khác. Ngày 15 tháng 5
năm 1869, lúc 8 giờ sáng, ông ngồi vào bàn, viết
luôn một mạch tới 5 giờ kém 4 phút sáng hôm sau,
tức ngày 16-5-1869, thì xong tác phẩm. Sách được
xuất bản ngay cuối năm ấy: kể từ ngày bắt đầu viết
nó là năm năm, kể từ khi bắt đầu viết cuốn Giáo
dục tình cảm thứ nhất (1843) là hăm sáu năm, kể
từ ngày gặp Schlésinger phu nhân (1836) tức ngày
đề tài được "thai nghén," ôm ấp, là ba
mươi ba năm. (Bản viết xong năm 1845, tác giả bỏ
qua luôn; mãi ba chục năm sau khi ông qua đời mới
có người cho in.) Cuốn Giáo dục tình cảm bản chính
thức được ấn hành trong lúc sinh thời thì mỗi lần
tái bản đều có sửa chữa thêm bớt liên miên. Ngay
ở ấn bản cuối cùng trước khi G. Flaubert từ trần
vẫn còn thấy nhiều ghi chú tu chỉnh của ông, chuẩn
bị dành cho kỳ in tới: những chuẩn bị dở dang.
Từ nhân vật này nghĩ sang nhân vật nọ, không phải
do một so sánh nào. Giả sử có thấy kẻ này xem ra
say mê hơn người kia, tận tụy hơn, làm việc hết
mình hơn v.v..., thì cũng không thể kết luận giản
dị và dứt khoát. Hoàn cảnh mỗi nơi mỗi khác, mỗi
thời mỗi khác, tình hình xứ sở mỗi nước mỗi khác,
người cầm bút đâu có thể cùng một cách thế như nhau
được. Muốn so sánh, họa chăng chỉ có thể nhặt nhạnh
nêu lên một số sự kiện cụ thể thôi.
Chẳng hạn về việc sửa chữa của G. Flaubert. Hồi
truyện viết xong, tác giả có đưa bản thảo cho Maxime
Du Camp xem. Ông bạn này nêu ra 251 chỗ góp ý. Đối
chiếu với bản in, thấy có chỗ Flaubert nghe theo,
có chỗ ông bỏ qua. Theo dõi từng phản ứng có thể
nhận ra lắm điều lý thú trong thái độ, trong quan
niệm viết của ông.
Ba mươi năm sau khi G. Flaubert qua đời, D. L.
Dumorest kiểm điểm và thấy qua các bản in cuốn Giáo
dục tình cảm có cả thảy 495 chỗ sửa chữa. Có người
cho rằng con số ấy còn thiếu sót. Dầu sao cái quan
trọng không ở số lượng sửa chữa mà ở nơi xu hướng
sửa chữa: Flaubert thêm vào 11 chỗ, lại bớt đi 420
chỗ; ông bỏ đi 125 chữ mais (nhưng mà), 39 chữ alors
(bấy giờ), 32 chữ et (và), 31 chữ puis (rồi thì)
v.v... Suy nghĩ về những chỗ con con như thế, có
thể nhận ra đặc điểm của một văn phong; rồi không
chừng phân tích những thêm bớt, chọn lựa nọ có thể
thấy chúng hàm chứa một xu hướng đưa tới các diễn
biến mới trong quan niệm tiểu thuyết v.v. và v.v...
Đây đó không phải có kẻ từng cho rằng G. Flaubert
đã báo hiệu phong trào tiểu-thuyết-mới sao?
Nhất Linh ra đi đã bốn mươi năm.
Ở đây không có ý so sánh người này với người nọ,
nhưng tránh sao khỏi sự nghĩ ngợi về thái độ của
mỗi tập thể văn giới đối với mỗi văn nhân, về thái
độ mỗi thể chế chính trị đối với văn nghệ. Sau bốn
mươi năm, sách của Nhất Linh có lúc bị cấm đoán
chê bai, có lúc được cho phép xuất hiện. Nhưng xuất
hiện giới hạn, từng phần. (Hiện nay ở trong nước
phần được in sau 1945 vẫn bị chôn).
Còn khối bản thảo của Nhất Linh mà bảo rằng đã
được đọc, được nhận xét thì... Tôi thấy việc làm
của mình chỉ là khều vào, chứ đã xem xét suy cứu
gì đâu. Thật nhảm nhí, hài hước. Cho nên ở đầu bài
viết đã có lời phân bua, đến cuối bài vẫn còn "áy
náy," lại kè nhè. Tôi mơ ước: Giá có ai đọc
kỹ, đọc thực sự...
Tháng 8 - 2001

Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|