|
Nhất
Linh - Người nghệ sĩ, Người chiến sĩ
Đọc
Bản Thảo Của Nhất Linh
(Nhân
dịp 41 năm ngày giỗ của văn hào Nhất Linh (7-7-1963
- 7-7-2004), vào cuối tháng 6 vừa qua, tạp chí Thế
Kỷ 21 đã phát hành quyển "Nhất Linh - Người
nghệ sĩ, Người chiến sĩ", gồm các bài viết
của nhiều tác giả (Nguyễn Tường Bách, Võ Phiến,
Trương Bảo Sơn, Anh Thơ, Tú Mỡ, Nguyễn Thị Vinh,
Thụy Khuê, Đông Hồ, Linh Bảo, Trần Thanh Hiệp, Lê
Đình Thông, Khoa Hữu, Bùi Bích Hà, Trần Khánh Triệu,
Nguyễn Tường Thiết, Trương Kim Anh, Lưu Văn Vịnh,
Phạm Phú Minh) về cuộc đời làm báo, hoạt động văn
học nghệ thuật và chính trị, và một số tác phẩm
điển hình của nhà văn Nhất Linh. )
Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một số bài viết
trong "Nhất Linh - Người nghệ sĩ, Người chiến
sĩ"
NHẤT LINH (1906-1963)
Thụy Khuê
Tìm hiểu Nhất Linh dưới góc cạnh phê bình hiện
đại là điều tất yếu. Việc in lại các tác phẩm của
Tự Lực Văn Đoàn, ở ngoài nước, từ trước đến nay
chưa bao giờ ngừng, nhưng đối với trong nước bây
giờ trở thành một phong trào: Nhất Linh, Khái Hưng
và Tự Lực Văn Đoàn đã được đánh giá lại. Có những
tuyển tập Khái Hưng, Nhất Linh, thu thập những bài
viết của nhiều tác giả khác nhau, trong Nam, ngoài
Bắc, trước và sau 75, tựu trung hầu như tất cả đều
đồng ý công nhận giá trị của Nhất Linh-Khái Hưng
và Tự Lực Văn Đoàn trong công việc cải tạo xã hội,
giải phóng phụ nữ, đặt móng cho một nền văn học
quốc ngữ mà trước và sau họ chưa có một văn đàn
nào đạt được ảnh hưởng sâu xa trong văn học và xã
hội như vậy.
Nhưng còn một khía cạnh khác ít được chú ý, và
có lẽ quan trọng hơn, đó là tư tưởng của Nhất Linh,
dòng ý thức sâu sắc về sự thoát ly của con người,
về những nét tiêu cực trong lý tưởng cách mạng,
về tính ngắn hạn của hạnh phúc, về sự trường tồn
của văn hóa, văn nghệ... Những yếu tố có thể là
chủ yếu ấy, vừa lặn sâu dưới đáy các tác phẩm, vừa
bao trùm toàn bộ những sáng tác của Nhất Linh, kể
từ tập truyện ngắn Người Quay Tơ viết năm 1926 đến
những tác phẩm cuối cùng như bộ trường thiên Giòng
Sông Thanh Thủy, viết năm 60-61. Như vậy tìm hiểu
Nhất Linh là thử đào xới những ẩn tưởng chìm sâu
trong lòng tác phẩm, mà một "đọc đi" chưa
thể thấu, cần có thêm một "đọc lại."
***
Sự nghiệp văn học của Nhất Linh có thể chia làm
hai giai đoạn: Giai đoạn đầu từ 1932 đến 1936 với
các tác phẩm chủ yếu mang nhiều tính cách luận đề:
Anh Phải Sống, Gánh Hàng Hoa, Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng...
Và giai đoạn sau, từ Đôi Bạn, Bướm Trắng đến Xóm
Cầu Mới, Dòng Sông Thanh Thủy Nhất Linh đã ra khỏi
giới hạn luận đề xã hội để viết về những khắc khoải
nội tâm trong con người.
Có một nghịch lý là đối với phần đông độc giả,
dường như tên tuổi Nhất Linh chỉ gắn liền với các
tác phẩm luận đề như Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng... Khi
Nhất Linh từ bỏ tiểu thuyết luận đề, đấu tranh xã
hội để bước vào tiểu thuyết nghệ thuật và tư tưởng,
thì Đôi Bạn, Bướm Trắng đã ít người đọc hơn. Sau
54, Nhất Linh cho ra đời những tác phẩm không kém
phần quan trọng, nhưng ít được dư luận biết đến,
hoặc nếu đề cập, cũng không được đánh giá đúng mức,
đó là tập tiểu luận Viết Và Đọc Tiểu Thuyết và hai
cuốn trường giang tiểu thuyết Dòng Sông Thanh Thủy
và Xóm Cầu Mới .
Ở Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng Nhất Linh vẽ nên cảnh xung
đột trực tiếp giữa lối sống cũ và mới. Để bênh vực
người phụ nữ, Nhất Linh đã không ngần ngại đẩy hoàn
cảnh đến những mức độ cực đoan nhất, và lấy phần
quyết thắng về phe Loan, người phụ nữ tân thời,
tranh đấu cho quyền làm người trong xã hội Khổng
Mạnh.
Ở Đôi Bạn, Nhất Linh đi xa hơn. Ông không dựa trên
tình tiết, không dựa trên cốt truyện để xây dựng
tiểu thuyết nữa. Nhất Linh đi sâu vào địa hạt phân
tích nội tâm, xây dựng nghệ thuật trên sự tinh vi
của nhận thức. Cảm giác, xúc giác, khứu giác là
những yếu tố chính trong cơ lực con người, giao
thoa giữa nội tâm và ngoại giới. Nhất Linh cho người
đọc thưởng lãm những mùi hương, những say sưa của
hạnh phúc, của ánh nắng chiều, của mầu thời gian
thoáng nhạt. Dũng với Loan trong Đôi Bạn đã khác
xa Dũng với Loan trong Đoạn Tuyệt. Dũng Loan trong
Đôi Bạn "cao" hơn, giúp ta nhớ lại, duyệt
lại, học lại những cảm giác đã mất, đi vào những
thời gian và không gian liên tưởng, và cho chúng
ta những rung động mới, những ấn tượng mới.
Với Bướm Trắng, Nhất Linh đi sâu vào khía cạnh
triết lý. Trương, trong Bướm Trắng, biết mình bị
lao, chỉ còn sống được có một năm, bập bềnh giữa
sống và chết. Qua Trương, Nhất Linh phân tâm con
người trước cái chết. Bằng một lối nhìn trầm lặng,
ngọn bút Nhất Linh bình thản đi vào các cửa ngõ
nội tâm biến dạng và bối rối của Trương, không phải
để tìm kiếm một lối thoát cho Trương, mà để cùng
nhập cuộc phiêu lưu không định hướng của dòng đời.
Thanh Thủy là một dòng sông nhỏ, chảy qua biên
giới Việt Nam - Trung Hoa, gần Hà Giang. Dòng Sông
Thanh Thủy là cuốn tiểu thuyết duy nhất của Nhất
Linh viết về chính trị. Dòng Sông Thanh Thủy được
viết khá vội vàng, trong thời điểm 60-61. Thời kỳ
Nhất Linh đã bị chính quyền Ngô Đình Diệm truy lùng
và bắt bớ. Về phương diện kỹ thuật tiểu thuyết,
Dòng Sông Thanh Thủy hơi loãng, thua Đôi Bạn, Bướm
Trắng và Xóm Cầu Mới, nhưng có giá trị lịch sử và
nhân văn. Đây là câu truyện về giai đoạn kinh hoàng
của cách mệnh, hai đảng Việt Nam Quốc Dân Đảng,
gọi tắt là Việt Quốc, và Việt Minh thanh toán nhau
trong bắt bớ và thủ tiêu. Thế mèo chuột của hai
đảng đã được Nhất Linh mô tả trong Dòng Sông Thanh
Thủy một cách lạnh lùng và tường tận.
Xóm Cầu Mới là tác phẩm dang dở của Nhất Linh.
Dang dở nhưng không sao. Bởi đây là cuốn tiểu thuyết
không có cốt truyện, được Phượng Giang in thành
hai tập, trên 700 trang. Bản thảo bị thất lạc nhiều
năm -theo nhà xuất bản Phượng Giang- đã được tìm
thấy tình cờ vào ngày giỗ thứ mười của Nhất Linh.
Đây là tác phẩm quan trọng mang những kỳ vọng của
Nhất Linh về một bộ tiểu thuyết trường giang trên
mười ngàn trang, diễn tả những phức tạp muôn mặt
của cuộc đời. Tác phẩm đã được viết đi viết lại
tất cả 5 lần. Lần đầu năm 40 tại Hà Nội. Lần thứ
hai năm 43 tại Quảng Châu. Lần thứ ba năm 49 tại
Hương Cảng. Về nước năm 51, Nhất Linh viết lại lần
thứ tư tại Hà Nội. Và trước khi in một số chương
trên Văn Hóa Ngày Nay, Nhất Linh sửa lại lần chót
bên dòng suối Đa Mê, tại Fim Nôm Đà Lạt vào năm
57.
Xóm Cầu Mới viết về cuộc sống của một xóm nhỏ,
với năm gia đình ở trong các địa vị xã hội khác
nhau, vào thời điểm nửa đầu thế kỷ XX. Khác với
những tiểu thuyết trước của Nhất Linh -tác phẩm
thường giới hạn trong một loại hạng người, thường
thường là trí thức tiểu tư sản như trường hợp Gánh
Hàng Hoa, Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng, Đôi Bạn, Bướm Trắng-.
Ở Xóm Cầu Mới Nhất Linh khảo sát nhiều hạng người.
Ông tạo ra một xã hội nhỏ, trong đó mỗi nhân cách
giàu nghèo đều có tương quan mật thiết với nhau.
Mỗi chân dung nhân vật đều linh hoạt và sâu sắc
về dung mạo cũng như về đời sống tâm linh.
Ý thức thoát ly trong Đôi Bạn
Gió lên! Gió nữa lên! Gió lên! Lạy trời gió lên!
Những lời cầu nguyện của hai chị em đứa bé nhặt
lá bàng trong đêm khuya vang lên như một nguyện
cầu giải thoát, báo hiệu ý thức thoát ly trong Đôi
Bạn. Gió lên! Gió nữa lên ! cho lá lìa cành, cho
chị đầy thúng, cho em đầy rổ, để chị bó lá đem bán,
rồi lá khô sẽ hóa thân trong lửa đỏ, sưởi ấm lòng
người, nuôi sống những đứa trẻ nhặt lá vàng trong
những đêm gió lộng. Gió lên! Gió nữa lên! trên bến
đò gió và bến đò đời.
Nhất Linh mở đầu Đôi Bạn bằng bài Nhặt lá bàng
thay lời tựa, với hai bối cảnh: Một tôi, nhà văn
Nhất Linh bất động trước tờ giấy trắng sao trắng
thế. Chữ cứ bặt vắng. Bỗng một tiếng bật ra: "Trời
muốn trở rét" và ngòi bút chạy... trong khi
bên ngoài có tiếng khác cất lên: Gió lên! Gió nữa
lên! hai đứa trẻ cầu trời cho gió lên, chúng chạy
lăng quăng, nhặt, bó, nhặt, bó, con chị mắng thằng
em, tiếng chúng vang trong đêm khuya cùng tiếng
lá rơi, chạm vào tường, lăn xuống đất. Chuyện thật
ngoài đời, chuyện đời trên giấy, cả hai không liên
hệ gì với nhau nhưng cùng gặp nhau trong đêm nay.
Những đứa bé ấy có thật không? Hay chỉ là tưởng
tượng của Nhất Linh? Cả Dũng nữa? Dũng, người bạn
đã có lá thư tha thiết yêu cầu Nhất Linh viết về
đời mình, một đời mà Dũng cho là "những nỗi
đau khổ, băn khoăn của tôi, hẳn cũng là những nỗi
băn khoăn của anh, của các bạn chúng ta" (Nhặt
lá bàng). Dũng có thật không ? Hay cũng là tưởng
tượng? Nhưng có một điều chắc chắn phải thật: đó
là động cơ nào đã thúc đẩy cuộc đời và tưởng tượng
xích lại gần nhau? Động cơ nào đã gọi những tiếng
vang trong tiềm thức Nhất Linh, tiếng đứa bé, tiếng
Dũng, tiếng Loan, tiếng đôi bạn, tiếng các bạn cùng
cất lên trong tác phẩm như một hợp âm những hình
ảnh, những cảm xúc, khổ đau, hạnh phúc của cuộc
đời? Động cơ ấy phải là gió. Gió như một yếu tố
ngẫu nhiên, bất ngờ và rét đến như một trợ lực:
Trời muốn trở rét. Gió, rét đã nhiều lần đến, rồi
đi, nhưng chỉ có hôm nay, lúc này, chúng tạo thành
một giao hưởng của hiện tại và dĩ vãng: cả hai cùng
cầu gió, bởi không có gió thì lá không rụng mà có
gió trời lại rét lắm, gió đem đến chia ly, gió tạo
ý thức thoát ly, gió cuốn nơi này đến nơi kia, gió
làm vật đổi sao rời, gió gây nghịch cảnh; tiểu thuyết
và cuộc đời xoay quanh cái trục nghịch cảnh ấy:
vừa mong gió, vừa ngại gió bởi gió đem rét mướt,
gió sẽ chia lìa, nhưng nếu không có gió thì buồm
chẳng đi xa, chẳng có thoát ly, chẳng có gì báo
hiệu cho hành trình... đôi bạn.
***
"Anh phải sống vượt ra ngoài xã hội bình thường"
câu nói và cũng là lời tự nhủ này của Dũng, trong
Đôi Bạn như thể từ miệng Khái Hưng nói ra; Dũng,
con một ông tuần phủ và đời Dũng hình như có cái
gì rất giống đời Khái Hưng "Tôi sinh ra đã
phải chọn một sự bất công là sống trong cảnh giàu
sang không đích đáng, tôi không có quyền hưởng,
tôi không muốn hưởng." Những người bạn Dũng
cũng có những nét giống Khái Hưng, và con đường
họ đi, cái chết của họ cũng bí mật không khác gì
cái chết của những Khái Hưng, Hoàng Đạo,... cuộc
đời họ hình như chỉ là "một sự tìm kiếm không
bao giờ ngừng." Dũng là một mẩu Khái Hưng hay
cả Khái Hưng? Dũng là một mẩu Nhất Linh hay cả Nhất
Linh? Đôi bạn Dũng Trúc phải chăng là "đôi
bạn" Nhất Linh-Khái Hưng? Rồi Dũng/Loan có
phải là Trương/Thu trong Bướm Trắng, Triết/Thoa
trong Hai Buổi Chiều Vàng, Thanh/Ngọc trong Giòng
Sông Thanh Thủy, Nghĩa/Nhung trong Lạnh Lùng, Siêu/Mùi
trong Xóm Cầu Mới?... Những nhân vật tiểu thuyết
của Nhất Linh, nói theo ngôn ngữ bây giờ, có một
quan hệ "liên văn bản" với nhau, với thời
cuộc và với chính tác giả. Họ cùng có một ý chí
"muốn vượt ra ngoài hoàn cảnh sống của mình."
Muốn thoát ly. Thoát ly gia đình. Thoát ly xã hội.
Thoát ly cuộc đời. Những nhân vật của Nhất Linh
dù là bạn thân hay bạn tình, đều chỉ gặp nhau trong
một thời gian, không sống trọn đời với nhau, không
là bạn đời, bởi Nhất Linh cũng như Khái Hưng, không
tin có một thứ hạnh phúc kéo dài trọn kiếp. Lan
và Ngọc của Khái Hưng trong Hồn Bướm Mơ Tiên đã
"khai trương" thế giới "đôi bạn"
và tất cả những "đôi bạn" của đôi bạn
Nhất Linh-Khái Hưng đã tạo nên một thế giới sống
ngoài cuộc sống, trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn.
Thế giới này vừa phản ảnh những suy tư, trăn trở
của thế hệ thanh niên những năm 30-40, vừa phản
ảnh những chao đảo xã hội thời Pháp thuộc, những
đụng chạm cũ-mới, những nỗi đau của lựa chọn làm
quan hay làm cách mạng? Ở hay đi? Đó là những đoạn
trường cô đơn và hạnh phúc. Đời họ, Nhất Linh tóm
gọn: "Đời bọn ta, một bọn sống ở trong một
xã hội đương thay đổi có những nỗi đau khổ chung,
mà oái oăm thật những nỗi đau khổ lại là những nỗi
vui độc nhất của chúng ta bấy lâu" (Nhặt lá
bàng).
***
Dũng muốn thoát ly gia đình vì chàng không thể
sống mãi trong cảnh giàu sang của gia đình mà chàng
biết là không chính đáng và "hễ cứ lúc nào
chàng dịu lòng để cố tìm cách yêu cha thì chàng
lại đau xót thấy những hành vi tàn ác của ông tuần
mà chàng tưởng đã quên hẳn rồi, hiện ra như bức
rào ngăn cản" (trang 188). Thấy những bộ mặt
khốn khó của dân làng, những người túng quẫn, cùng
khổ, bị ông tuần đánh, chửi, Dũng khó chịu vì những
người bị đánh không kháng cự, mà trái lại, còn nói
nịnh: "Bẩm, cụ lớn đánh là cụ lớn thương, hôm
thượng thọ cụ cố, cụ lớn cầm đầu con rập vào tường
[...] Thế mới biết cụ lớn còn khỏe." (trang
98). Dũng muốn bênh vực họ nhưng rồi cuối cùng "chàng
nhận thấy ông tuần và những người dân trong làng
có liên lạc mật thiết với nhau [...] chàng thấy
chàng trơ vơ đứng riêng hẳn ra ngoài" (trang
186). Cái thế giới phản kháng, chống lại mọi áp
bức mà Dũng mong muốn, không có trong đầu óc dân
làng. Họ yên phận chịu nhận số kiếp yếu kém "từ
đời kiếp nào rồi." Mối tương quan đàn áp và
chịu đàn áp giữa ông tuần và họ là một tương quan
mà Dũng không cắt nghĩa được. Dũng thấy mình ngoại
cuộc, ở đây không ai cần Dũng, bởi cuộc đời không
cần những Don Quichotte. Những nhận thức ấy đã dẫn
đến quyết định: "Chàng cầm dao cắt mạnh quả
hồng làm đôi...(trang 189), "giản dị như không...
phải đoạn tuyệt hẳn mới gọi là đi... Chàng muốn
được như con bướm thoát khỏi cái kén tối tăm"
(trang 190). Nhưng thoát ly không có nghĩa là tìm
ra một lý tưởng. Bởi Dũng biết chắc là không có
lý tưởng, khi Thái đi, Dũng đã tự hỏi: "Anh
Thái đi như vậy để làm gì? Chẳng qua không biết
làm gì nữa thì liều lĩnh" (trang 31) và "Dũng
có cái cảm tưởng rằng Thái đi như là đi thay cho
mình, hình như tất cả những nỗi chán chường, đau
khổ của một đời mình, Thái đã đem theo hết"
(trang 32). Và chính trong những giây phút băn khoăn,
chưa dứt khoát lựa chọn, Dũng biết là mình "phải
sống một đời ngang trái nhưng chàng không có đủ
can đảm để thoát ly; mà thoát ly rồi, cái đời tương
lai của chàng sẽ đại khái như đời của Thái và Tạo,
hai cảnh đời mà trước kia mới nghĩ đến chàng đã
thấy buồn nản vô cùng" (trang 158).
Dường như cuộc đời "quằn quại" của Thái,
cũng là cuộc đời Nhất Linh, Khái Hưng và những người
bạn của họ: Chống Pháp? Không chống Pháp? Theo Việt
Quốc? Việt Cách? hay Việt Minh? tất cả rồi cũng
chỉ là để "Thỉnh thoảng lại nghe tin một người
trong bọn chết đi hay bị tù tội, rồi ai nấy, trước
số mệnh, chỉ việc cúi đầu, yên lặng, nơm nớp đợi
đến lượt mình" (trang 106).
"Cái chết của Thái đối với Dũng chỉ là một
sự thoát ly" (trang 105). Hoặc như Tạo chấp
nhận cái chết một cách vui vẻ "Tôi không sợ
chết đâu [...] đất mát lắm" (trang 149). Cả
những người bạn của Tạo cũng nghĩ "kể như anh
ấy thì chết là thoát" (trang 167).
Tóm lại, ra đi không phải để tìm đến một lý tưởng
cách mạng mà Dũng biết chắc là ra đi rồi sẽ chết
như Phương, như Thái, như Tạo... "như biết
bao người bạn của Dũng [...] vụt biến đi không để
lại một vết tích gì." (Nhặt lá bàng). Ở thời
điểm 1936, khi Nhất Linh viết Đôi Bạn, mọi người
chưa kịp lên đường và sau đó thì mọi lên đường được
tôn thờ như một lý tưởng cao quý nhất, Nhất Linh
đã xác định không có lý tưởng và mọi ra đi, thoát
ly, chỉ là "đi tìm kiếm, sự tìm kiếm không
bao giờ ngừng ấy, có lẽ là sự an ủi độc nhất"
(Nhặt lá bàng).
Và cái việc tìm kiếm ấy, Nhất Linh đã đi hết cuộc
đời mà chưa tìm thấy, những trăn trở lựa chọn giữa
cách mạng và văn học, giữa xuất thế và nhập thế...
dùng dằng nhau trong Nhất Linh đến giây phút cuối
và bây giờ chúng vẫn còn dầy vò thế hệ sau Nhất
Linh.
Thoát ly còn do một trăn trở khác, đó là sự từ
chối một thứ hạnh phúc "trường cửu" trong
tình nghĩa vợ chồng, với người không yêu như Khánh,
hoặc với người yêu, như Loan.
Ở lại, trước hết là sẽ phải cưới cô Khánh, con
cụ Thượng Đặng, người vợ môn đăng hộ đối mà cha
đã chọn và sẽ phải chấp nhận đời sống "thừa"
như Trường và Đính, hai anh và như "tất cả
mọi người trong nhà, trong họ, thảy đều sống bám
vào một mình ông tuần và cho thế là một sự tự nhiên,
một cái phúc" (trang 87).
Nhưng ở lại còn có thể có một con đường khác là
làm trái lời cha, cưới Loan làm vợ. Làm trái lời
cha không khó vì xưa nay Dũng vẫn làm, cái khó là
làm trái lòng mình, bởi đã bao lần khi nghĩ đến
"chàng sẽ cưới Loan làm vợ... rồi suốt đời
hai người gần nhau, yêu nhau mãi mãi... Thế rồi
sau làm sao? Lại ngày nọ tiếp ngày kia... không
chờ đợi." (trang 48-49). Chính "ý nghĩ
chán nản này," xuất phát từ nội tâm của Dũng
"làm bận trí Dũng một cách ác nghiệt"
(trang 63), đã gián tiếp chỉ đạo sự thoát ly của
Dũng.
***
Ở buổi mà mọi "hoài nghi" về cuộc sống
chưa có chỗ đứng vững chắc trong văn chương Việt
Nam, Nhất Linh, Khái Hưng lại "đem lòng"
hoài nghi hạnh phúc, thứ hạnh phúc vợ chồng trọn
đời được "công nhận" như một "giá
trị phổ quát của nhân loại," cũng như đã hoài
nghi lý tưởng đấu tranh khi mọi người chưa kịp lên
đường. Nghi ngờ hạnh phúc "trăm năm" nhưng
không chối bỏ hạnh phúc mà tin vào một thứ hạnh
phúc khác, ra ngoài thông lệ: đó là những giây phút
hạnh phúc và những giây phút sống lại những giây
phút hạnh phúc ấy. Những giây phút hạnh phúc sẽ
qua đi, nhưng sự sống lại chúng trong con người
là trường cửu, là mãi mãi, là vượt ra ngoài ý muốn
của con người; chúng bất tử và không có sức mạnh
nào diệt nổi. Và đó là điều mà Nhất Linh đã ghi
lại trong tiểu thuyết như một quan niệm độc đáo
về hạnh phúc và là cơ nguyên của sáng tạo.
Cái hạnh phúc ấy có sẵn ở trong mỗi người, kể cả
những người không có hạnh phúc: đó là những giây
phút ngắn ngủi của cảm xúc, của những linh cảm hạnh
phúc, của đợi, của chờ, của nhớ, của nghĩ đến người
mình nhớ, mong người ấy nhớ mình hơn là mình nhớ
người ấy... Những linh cảm ấy thường đến trong yên
lặng, cho nên những trang đẹp nhất mà Nhất Linh
viết về tình yêu, về sự tỏ tình là... yên lặng.
Tình yêu không diễn tả bằng lời mà bằng mắt, bằng
tim: Nhất Linh thao túng "yên lặng" trong
một thế giới mới, thế giới của cảm xúc, thế giới
thần bí mà mọi sự đều khả thể.
"Dũng vòng hai tay ra phía sau làm gối ngửa
mặt nhìn lên. Ánh nắng trên lá thông lóe ra thành
những ngôi sao; tiếng thông reo nghe như tiếng vọng
ra, đều đều không ngớt; Dũng có cảm tưởng rằng cái
tiếng ấy đã có từ đời kiếp nào rồi nhưng đến nay
còn vương lại âm thầm trong lá thông.
Không nghe tiếng Loan và Thảo nói chuyện nữa, Dũng
nghiêng mặt quay về phía hai người. Chàng thấp thoáng
thấy hai con mắt đen của Loan. Thấy Dũng bắt gặp
mình đương nhìn trộm, Loan vội nhắm mắt lại làm
như ngủ; song biết là Dũng đã trông thấy rồi, nàng
lại vội mở mắt ra, rồi qua những ngọn lá cỏ rung
động trước gió, hai người yên lặng nhìn nhau."
(trang 209-210)
Nhất Linh đã "vớt" từ yên lặng ra những
âm thanh và màu sắc. Âm thanh và màu sắc của ánh
nắng chiếu trên lá thông "lóe" ra thành
những ngôi sao. Nhạc của tiếng thông reo từ đời
kiếp nào còn vương lại âm thầm trong lá thông; nhạc
và tranh hòa hợp cùng những trao đổi giữa hai người
qua ánh mắt. Và đó là hạnh phúc. Hạnh phúc ở những
giây phút mình yên lặng nghe mình: "Chàng cố
ngồi thật yên lặng để hoàn toàn nghĩ đến cái vui
sướng của lòng mình" (trang 63).
Nhưng hạnh phúc không chỉ là những giây phút vui
sướng, hạnh phúc còn có thể ở cả những nỗi buồn,
ví dụ như nỗi buồn của nhận thức về bản chất cuộc
đời:
"Dũng châm một điếu thuốc lá hút rồi đưa mắt
ngắm nghía đám người nhà quê thảm đạm, quấn áo xơ
xác trước gió, đương đứng đợi bên bờ sông. Họ đứng
yên, không nói, vẻ mặt bình tĩnh, không nghĩ ngợi
gì; chuyến đò mà họ đợi sang, Dũng thấy là hình
ảnh của cả cuộc đời; họ sinh ra, sống thản nhiên
ít lâu, không hiểu vì cớ gì rồi lại khuất đi như
những người bộ hành, một buổi chiều đông, qua bến
đò, in bóng trong chốc lát trên dòng nước trắng
của cuộc đời chảy mãi không ngừng.
Dũng ngẫm nghĩ:
- Buồn có lẽ vì tại trông thấy bến đò, mình như
thấy rõ hình ảnh cuộc đời. Sống mà nghĩ đến mình
sống thì bao giờ cũng buồn [...] Bến đò không buồn
lắm, buồn nhất là những cái quán xơ xác của các
bến đò. Mình là những cái quán ấy, đứng yên trong
gió lạnh nhìn cuộc đời trôi qua trước mắt."
(trang 71) Sống mà nghĩ đến mình sống thì bao giờ
cũng buồn, mình là những cái quán đứng yên trong
gió lạnh, nhìn cuộc đời trôi qua trước mắt, những
nhận thức này có thể chỉ qua một lần rồi mất đi,
nhưng nó không chết hẳn, nó có khả năng sống lại,
và sự hồi sinh ấy thường xẩy ra ở những lúc bất
ngờ nhất: một ngọn gió, một mùi hương, một bến đò...
Do đó, hạnh phúc ở đây vừa trực tiếp, vừa gián
tiếp. Trực tiếp là những giây phút sống trong thực
tại: nhìn (một người) yêu, ngắm (một đóa) hoa, đợi
(một ngọn) gió, đón (một mùi) hương... Và gián tiếp
là những lúc nhớ lại những giây phút kỷ niệm của
những nhìn, ngắm, đợi, đón,... đó, những giây phút
ngắn ngủi mà nhà văn muốn giữ lại mãi mãi:
"Mùi hoa khế đưa thoảng qua, thơm nhẹ quá
nên Dũng tưởng như không phải là hương thơm của
một thứ hoa nữa. Đó là một thứ hương lạ để đánh
dấu một quãng thời khắc qua trong đời: Dũng thấy
trước rằng độ mười năm sau, thứ hương đó sẽ gợi
chàng nhớ đến bây giờ, nhớ đến phút chàng đương
đứng với Loan ở đây. Cái phút không có gì lạ ấy,
chàng thấy nó sẽ ghi mãi ở trong lòng chàng cũng
như hương thơm hoa khế hết mùa này sang mùa khác
thơm mãi trong vườn cũ." (trang 26)
Có thể nói rằng Nhất Linh đã tìm ra một thứ "định
thức" của hạnh phúc, ở đây là mùi hương+trí
nhớ= hạnh phúc, nhưng những yếu tố của vế đầu tiên
có thể thay đổi không ngừng, một chỗ khác, Nhất
Linh viết:
"Nền trời lúc đó, Dũng thấy như một tấm lụa
trong; một con bướm trắng ở vườn sau bay vụt lên
cao rồi lẫn vào màu trời. Dũng tự nhiên nghĩ đến
một bãi cỏ rộng trên đó có Loan và chàng, hai người
cùng đi ngược chiều gió; nàng mặc một tấm áo lụa
trắng và gió mát thơm những mùi cỏ đưa tà áo nàng
phơ phất chạm vào tay chàng êm như cánh bướm."
(trang 45)
Lại một định thức khác của hạnh phúc: thiên nhiên+tưởng
tượng = hạnh phúc. Như vậy hạnh phúc là một định
thức biến thiên không ngừng, từ những dư âm hoàn
toàn khác nhau, khi biết hòa âm phối khí thì ta
có... hạnh phúc. Hạnh phúc, như thế, là sự hòa hợp
của âm thanh trong âm nhạc, là sự điều phối của
màu sắc trong hội họa, là sự ngẫu hợp của chữ nghĩa
trong thi ca. Nhưng điều thiết yếu là những định
thức biến thiên ấy cần những chất xúc tác như mùi
hương, ngọn gió...
Nhất Linh tinh tế bao nhiêu trong nhận thức thì
ông cũng lại càng thực tế bấy nhiêu trong cái biết
của mình: Biết "hạnh phúc" cũng như "nghệ
thuật" chỉ là những hợp âm dễ vỡ, dễ tan, không
thể nắm bắt được, tựa như: "Những con đom đóm
bay qua ao bèo, lúc tắt lúc sáng như những ngôi
sao lạc biết thổn thức" (trang125).
Hạnh phúc phải chăng là những con đom đóm trong
đêm? Hay là tà áo của Loan, chạm vào tay Dũng như
những cánh bướm? Có lẽ cả hai. Một điều chắc chắn
là hạnh phúc nằm trong khoảnh khắc và cái khoảnh
khắc bí mật ấy, luôn luôn, Nhất Linh muốn níu nó
lại: "Dũng có cái cảm tưởng rằng thời khắc
ngừng hẳn lại; ánh nắng lấp lánh trên lá cây cũng
thôi không lấp lánh nữa... Chàng và cảnh vật chung
quanh như không có nữa, chỉ là một sự yên tĩnh mông
mênh, trong đó tiếng Loan vang lên" (trang
61), "không còn phút sau nữa: thời gian ngay
lúc đó sẽ ngừng lại mãi mãi" (trang 63). Thời
gian sẽ ngừng lại. Đó là ước vọng của Dũng. Nhưng
thời gian chưa bao giờ ngừng lại và đó là bất hạnh
của hạnh phúc. Khiến mọi sự liên tục trường cửu
đều trở nên đáng sợ và vô nghĩa: đóa hoa không trường
cửu, cánh bướm không trường cửu, đến cả thân phận
con người cũng phù du... Như vậy có gì trường cửu
trên cuộc sống này? Hẳn là sự trường cửu của những
phút giây hạnh phúc, chết đi và sống lại trong ký
ức. Mỗi lần hồi sinh chúng lại là những cánh bướm
đã thoát xác, đã đổi dạng thay hình... Cho nên nếu
muốn có những luân hồi của kỷ niệm thì phải sống
xa người tình, sống ngoài kỷ niệm, phải xa bến đò
Gió thì mỗi lần đến một bến đò, mới hồi tưởng lại
và gió và đò... phải sống xa Loan mới có thể hồi
tưởng những phút giây hạnh phúc được nhìn Loan và
được Loan nhìn lại... Thoát ly khỏi Loan để được
yêu Loan mãi mãi... để khỏi rơi vào cảnh vợ chồng
ngày ngày bị những tính toán vụn vặt của đồng tiền,
mảnh cơm, manh áo bào mòn thể xác, bị những giờ
giấc quen thuộc đi, về, cơm, nước, con cái... giết
chết kỷ niệm, giết chết tình yêu... Tình yêu, cũng
giống như nghệ thuật, là những bóng đom đóm chụm
đầu vào nhau như một chùm ảo ảnh mà con người càng
tìm cách sở hữu, lại càng thấy bất lực. Tình yêu
cũng như nghệ thuật, không thể sở hữu được mà chỉ
có thể cảm thức từ yên lặng, trong yên lặng, như
Nhất Linh, để từ cõi yên lặng ấy, vớt ra những xúc
động, những nhục cảm say sưa nhất của con người.
Yên lặng nghe "một cơn gió lạnh lùa vào đượm
mùi thơm hắc của hoa cau" (trang196), yên lặng
ngắm nắng trong vườn cùng với Loan và Dũng "thỉnh
thoảng một sợi tơ trời từ trên cao là là xuống,
lấp lánh, hai người sợ tơ trời vương vào mình cùng
giơ tay đón lấy rồi nhìn nhau mỉm cười khi thấy
trong tay không có gì cả, hình như sợi tơ vừa tan
đi cùng ánh sáng." (trang 195).
Những giây phút ấy là tình yêu, là hạnh phúc, là
nghệ thuật mà trong cuộc đời chạy ruổi để bắt kịp
xe bus, bắt kịp métro, chen chúc trong đám kẹt xe
đô thị, trong chớp loạn của truyền hình, ciné với
những chiến tranh hành tinh giả tưởng, trong cuộc
đời bão táp kinh tế, tranh chấp những phát minh
khoa học tân kỳ..., con người rất ít thì giờ dành
cho những giây phút "yên lặng nghe lòng mình
sung sướng," những giây phút hạnh phúc Nhất
Linh.
Nỗi đau hiện sinh trong Bướm Trắng
"Nếu chỉ có một năm để sống" bạn sẽ làm
gì? Đây có thể là đề tài một cuốn phim hồi hộp,
một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn hay một tác phẩm văn
học phân tâm. Nhất Linh chọn giải pháp thứ ba: Bướm
Trắng là một ăng-kết của Trương về bản ngã mình.
Trương bị lao và bác sĩ cho biết chàng chỉ có thể
sống được một năm nữa là cùng. Nhất Linh đem máy
ghi âm đặt vào óc Trương để ghi lại những ý nghĩ,
những phản ứng của Trương từ khi biết mình chỉ còn
một thời gian sống nhất định.
Phản ứng đầu tiên của Trương là sẽ ghi vào sổ nhật
ký, ngày 21/2: Hôm nay mình chết (Bướm Trắng, NXB
Đời Nay tái bản, 1970, trang 34). Đó là cái chết
đầu tiên, sau khi biết mình sắp chết, cái chết này
biểu hiện tính cách hóa thân của hai từ Bướm Trắng
và đưa Trương vào đoạn đời thứ nhì, đoạn đời mà
Trương quyết định rằng từ nay "chàng sẽ nếm
đủ các khoái lạc ở đời, chàng sẽ sống đến cực điểm,
sống cho hết để không còn ao ước gì nữa, sống cho
chán chường. Trương thấy mình nô nức hồi hộp mà
lại sung sướng nữa. Chàng sung sướng vì chàng thấy
mình như con chim thoát khỏi lồng, nhẹ nhàng trong
một sự tự do không bờ bến. Những cái ràng buộc,
đè nén của cuộc sống thường không có nữa, chàng
sẽ hết băn khoăn, hết e dè được hoàn toàn sống như
ý mình. - Chết thì còn cần gì nữa?" (trang
38)
Đặt ngược lại vấn đề, Albert Camus bắt đầu cuốn
tiểu luận Le Mythe de Sisyphe (Huyền Thoại Sisyphe)
bằng câu: "Chỉ có một vấn đề triết lý thật
sự nghiêm túc: đó là tự tử, xét rằng đời đáng sống
hay không đáng sống là trả lời câu hỏi cơ bản của
triết học." Cả hai tác giả Nhất Linh và Camus,
đi từ hai con đường khác nhau nhưng dường như đều
cùng muốn điều tra ý nghĩa của cuộc sống từ cái
chết. Rồi Nhất Linh và Camus đều chết bất đắc kỳ
tử. Camus, tai nạn xe hơi ở tuổi 47, Nhất Linh tự
tử ở tuổi 57, một trùng hợp phi lý.
Cái chết, trước tiên, đối với Trương là một giải
thoát, khi giao hẹn "hôm nay mình chết"
là Trương đã tự hóa, từ một người bị ràng buộc,
trở thành người tự do, hồi sinh trong cuộc sống
mới, với hai lớp lang: biết mình sắp chết và quên
rằng mình đang sống. Ở lớp thứ nhất, Trương quyết
định tìm vui trong trụy lạc: trụy lạc thể xác và
tinh thần. Về thể xác, hưởng thụ hết những thú vui
nhục dục trước khi chết và về tinh thần, chiếm hữu
tình yêu của Thu, người con gái tình cờ gặp mà ngay
sau đó Trương đã muốn yêu như một trò chơi: yêu
cũng được mà không yêu cũng được.
Ở từng thứ nhì, Trương sợ sống: không dám về nhà,
muốn quên rằng mình đang sống, lẩn tránh những ý
nghĩ của mình, sợ đối diện với chính mình. "Trương
ở vào tình trạng một người không cần gì nữa, chỉ
mong xảy đến cho mình một việc, bất cứ việc gì,
miễn là khác thường để cho mình quên được sự sống"
(trang 55). Hai trạng thái, hai lớp lang tâm thần
ấy giao nhau trong một môi trường không có lối thoát:
Sự trụy lạc mà Trương tìm đến như một ao ước hưởng
thụ hết trước khi chết, không đem lại cho Trương
tị ti thỏa mãn nào, và cuộc tình đối với Thu, mới
đầu chỉ là một trò chơi, sau đã lấn át tâm hồn Trương,
chi phối tư tưởng Trương như một lớp sống, một định
mệnh thứ ba: Cái định mệnh quái ác, tưởng (yêu)
đùa lại hóa (yêu) thật, tưởng chết lại không chết,
lại sống, cứ sống, rồi chính cái sống thừa, sống
ra ngoài mọi ước vọng ấy, đã chơi khăm Trương, vì
mọi toan tính về định mệnh đều vô nghĩa: không ai
có thể biết trước được định mệnh, kể cả những thầy
thuốc giỏi nhất và cũng không ai dự đoán được kết
quả một cuộc tình. Trương như con bướm trắng lượn
trong các nẻo tâm tư của chính mình, Trương bay
hết nơi này đến nơi khác, từ những phăng-tát cực
đoan của một người bệnh bị cái chết ám ảnh trong
mỗi phút sống, đến những giây phút hạnh phúc cũng
như bi đát của một người bình thường, nhảy từ những
ý nghĩ trong sáng, dịu dàng nhất đến những toan
tính đen tối, đồi tệ, đê hèn nhất. Trương là bướm
trắng bay trong não trạng của chính mình, Trương
hành động, nhận xét mình hành động, mà không hiểu
những gì đã xẩy ra quanh mình, cho mình.
***
Cuộc phiêu lưu của Trương, sau khi đã hóa thân,
mở đầu bằng một chinh phục: Trương vừa nhìn thấy
Thu, thấy Thu giống Liên, người yêu của chàng đã
chết vì bệnh lao ba năm trước, "chàng có cái
ý oái oăm muốn Thu sẽ yêu chàng (trang 16). Cuộc
tình này là một thứ cú-đờ-phút, vừa lãng mạn lại
ráo hoảnh, trâng tráo đúng như ý nghĩ của Trương
"muốn yêu thì sẽ yêu" (trang 17), một
cuộc đánh đố, muốn là làm được và Trương đã làm
được thật. Nhưng trò chơi nào cũng có thể dẫn đến
một thực tại không chơi, đầy bí ẩn không thể giải
quyết, như thân phận Trương chỉ là một cánh bướm
không biết mình sẽ đi đến đâu, như mỗi con người
đều là những cánh bướm bay trong định mệnh phi lý
của chính mình. Ngòi bút Nhất Linh cũng là bướm
trắng di chuyển theo mạch nghĩ của Trương, theo
hành động của Trương, theo những ghềnh thác của
suy tư và hành động, sống mà như chết, chết mà như
sống, không biết những suy tư và hành động ấy sẽ
dẫn mình đến đâu. Nhất Linh vừa tạo ra Trương, vừa
bị Trương dẫn vào cái chốn không biết ấy.
Trước đây, khi còn chăm chỉ đi học, Trương có một
thể xác và tâm hồn có thể gọi là "lành mạnh";
nhưng cái tôi "lành mạnh" này đã chết
bởi vì nó không thật, bởi vì nó chỉ là một nửa Trương,
nửa thánh thiện. Bướm trắng là hồn Trương, nhưng
mảnh hồn này không "siêu thoát" theo nghĩa
nhà Phật mà nó là cái thực, nó là người, nó là Trương
toàn diện theo đúng nghĩa con người. Chính cái hồn
bướm trắng này đã đưa Trương vào khám nghiệm tử
thi của chính mình, đào ra những ngõ ngách sâu kín
trong tâm hồn đích thực của mình. Trương trong Bướm
Trắng, đời hơn Dũng, người hơn Dũng trong Đôi Bạn,
bởi trong Trương những va chạm của xấu tốt là thường
trực, những ám ảnh của ham muốn, dục tình, tính
toán, lừa lọc... là hàng ngày. Nếu trong Đôi Bạn,
Nhất Linh vẫn còn là một nhà văn lãng mạn chỉ nhìn
thấy cái đẹp, thì ở Bướm Trắng, Nhất Linh đã đoạn
tuyệt với lãng mạn, Nhất Linh lạnh lùng hơn, tự
do hơn, từng trải hơn, ông đã tìm cách thoát tục,
đứng xa cuộc đời, đứng ngoài cuộc đời để nhìn con
người cho rõ.
Những ngõ ngách tâm linh phức tạp và mâu thuẫn
của Trương không thể dùng ngọn đuốc tình cảm lãng
mạn để soi tỏ mà phải bay lượn bằng đôi mắt đã hóa
thành bướm trắng thoát tục, mới có thể trung dung
chiếu vào đó những ánh sáng neutre, không thiên
vị: Trương sống tự do buông thả như một kẻ muốn
quên mình đang sống, như một gã kiệt lực muốn leo
Hy Mã Lạp Sơn, đi từ mâu thuẫn này đến mâu thuẫn
khác, đôi khi hai mâu thuẫn chung sống với nhau
như hình ảnh kiêu kỳ của tình yêu "siêu việt"
với Thu nằm chung màn với những cô gái đêm hôi hám
trong những nhà săm tồi tàn nhất; rồi những ý nghĩ
đen tối như mua dao để giết Thu, những ám ảnh kỳ
dị bị Thu giết, cùng chung sống trong đầu với những
giây phút thần tiên thơ mộng: "Trương ngủ thiếp
đi, chàng thấy mình cứ cố nhoi lên để tránh mũi
dao mà Thu đưa vào cổ mình, nhưng có một sức mạnh
ghê gớm giữ chặt lấy chàng, đè nặng lên hai bên
ngực. Mũi dao đã chạm vào cổ, nhưng chàng không
đau đớn gì cả: một dòng máu chảy ngang cổ xuống
gáy lạnh như một dòng nước đá mới tan, Trương kêu
thét lên: "Em giết anh" và giật mình tỉnh
dậy. [...] Chuông đồng hồ buông năm tiếng ngắn.
Qua khe cửa, trời hãy còn tối [...] Ngoài đường
cái có tiếng lăn lạch cạch của một chiếc xe bò đi
qua. Trương đoán là một xe rau ở ngoại ô lên chợ
sớm. Lòng chàng lắng xuống và từ thời quá vãng xa
xăm nổi lên một hình ảnh yêu quý của tuổi thơ trong
sáng: Khu vườn rau của mẹ chàng với những luống
rau diếp xanh thắm, những luống thìa là lá nhỏ như
sương mù và hôm nào trời nắng, những mầm đậu hòa
lan tươi non nhú lên qua lần rơm ủ. Rồi đến khi
luống đậu nở hoa trắng có những con bướm rất xinh
ở đâu bay về..." (trang 141)
Như vậy không chỉ có tâm hồn Trương là cánh bướm
mà cảnh vật xung quanh cũng là những cánh bướm biến
ảo không ngừng, Nhất Linh ở đây đã tìm thấy một
giao thoa vô cùng tế nhị giữa Đông và Tây, giữa
thiện và ác, giữa mơ mộng và ác mộng; tất cả những
đối cực ấy xẩy ra trong tiềm thức của Trương, trong
cái vùng u tối bí mật của bản ngã mà trước Bướm
Trắng, chưa có tiểu thuyết gia Việt Nam nào thật
sự đi vào, thật sự thám hiểm.
***
Nhất Linh viết Bướm Trắng năm 38-39. Bốn năm sau,
1942 ở Pháp, Albert Camus cho in tập tiểu luận Le
mythe de Sisyphe (Huyền Thoại Sisyphe), rồi tiểu
thuyết L'étranger (Người Xa Lạ), tiếp theo là kịch
bản Le malentendu (Ngộ Nhận) và sau cùng là tiểu
thuyết La chute (Sa Đọa).
Tất nhiên là hai nhà văn này không đọc nhau, ít
nhất là Nhất Linh không đọc Camus trước khi viết
Bướm Trắng, nhưng có một ngẫu nhiên trùng hợp lạ
lùng là những chủ đề ẩn trong Bướm Trắng về tính
chất phi lý của cuộc đời, về vấn đề tự tử, về sự
ngộ nhận, về tính sa đọa của con người -những đề
tài chủ yếu của Camus- đều có mặt trong tác phẩm
của Nhất Linh. Tại sao lại có một sự gặp gỡ kỳ lạ
như vậy? Nhất là khi triết học hiện sinh bắt đầu
phát triển ở Pháp thì Tự Lực Văn Đoàn đã hầu như
hoàn tất nhiệm vụ khai phá của mình, những tác phẩm
chính của Tự Lực Văn Đoàn đã viết xong. Vậy chỉ
có thể trả lời câu hỏi này bằng một câu hỏi khác:
Phải chăng Nhất Linh đã tạo ra một hình thức tra
vấn bản ngã rất Đông phương, rất Trang Tử?
Trước tiên, đối với Nhất Linh, ngộ nhận và phi
lý là điều kiện sống của con người. Nếu ở Camus,
phi lý có thể đưa đến giết người (Meursault trong
L'étranger giết người vì ánh nắng mặt trời chiếu
vào mắt) và trong "nghề" giết người, ngộ
nhận có thể đưa đến mẹ giết con, chị giết em mà
không biết (Le malentendu), thì ở Nhất Linh, tình
yêu tuyệt đối giữa Trương và Thu là ngộ nhận và
phi lý, Thu yêu Trương trên căn bản ngộ nhận do
phi lý đưa đẩy:
"Trương nhìn theo Thu. Khi nàng đi khuất sau
cái thành bể xây, Trương gấp vội bức thư bỏ vào
túi. Chàng nhìn cửa buồng bên lưỡng lự một lúc rồi
đi vào buồng. Chàng đến gần bên giường. Nhìn qua
khung cửa sổ ra ngoài không thấy bóng ai, Trương
với chiếc áo cánh của Thu rồi úp mặt vào chiếc áo
mà chàng âu yếm vò nát trong hai bàn tay. Lụa áo
Trương thấy mềm như da người và mùi thơm cay cay,
không giống hẳn mùi thơm của nước hoa, xông lên
ngây ngất. Trương cảm thấy mình khổ sở vô cùng;
chàng lấy làm lạ sao mình lại đau khổ đến thế, đau
khổ như một người sắp chết, cảm tưởng lúc ấy giống
hệt cảm tưởng đêm qua khi chàng nhìn trộm bàn tay
của Thu trên tấm chăn.
Trong lúc ấy Thu đã đi gần đến nhà khách bỗng quay
trở lại. Nàng mang máng thấy có vẻ gì bất thường
trong cử chỉ của Trương vừa rồi. Như cái máy, nàng
quay trở lại, nàng cũng không biết tại sao và quay
trở lại để làm gì. Đi khỏi cái bể xây, Thu dừng
lại vì thoáng thấy Trương trong buồng. Nàng chăm
chú nhìn và khi đã hiểu: nàng đứng yên lặng, khắp
người rờn rợn như có ai sờ vào da thịt mình. Thấy
Trương bỏ chiếc áo vắt vào chỗ cũ, nàng giật mình,
đứng lùi khuất sau thành bể." (trang 59).
Ở đây, Nhất Linh đã viết những dòng vô cùng gợi
cảm về sự tiếp xúc thể xác ra ngoài thể xác mà sau
này nhiều nhà văn, đạo diễn điện ảnh Việt Nam đã
chịu ảnh hưởng sâu sắc. Cuộc tình của Trương và
Thu thật sự bắt đầu từ giây phút ấy, giây phút mà
phi lý và ngộ nhận trùng hợp: Nếu Thu không quay
lại, không nhìn thấy cảnh này thì có lẽ Thu đã không
bị Trương chinh phục hoàn toàn. Tại sao Thu quay
lại? Thu cũng không biết tại sao và quay trở lại
để làm gì? Việc Thu quay lại là một việc hết sức
phi lý, không giải thích được: phi lý và bất khả
tri, là những điều kiện của hiện sinh con người.
Vì quay lại, nhìn thấy "cảnh ấy" cho nên
Thu đã tin rằng "Trương yêu nàng và tôn trọng
nàng một cách siêu việt" (trang 11). Đành rằng
tất cả những khía cạnh ấy trong tình yêu của Trương
đều có thật, nhưng mới chỉ là một nửa sự thật. Thu
ngộ nhận vì chỉ biết nửa sự thật, Trương còn một
nửa khác mà Thu không biết: Viết thư tình giả dối,
lấy nước rỏ lên làm giả nước mắt, cho nhòe chữ đi,
Trương thụt két, đánh bạc, hút thuốc phiện, chơi
gái,... Trương biết mình bị ho lao mà vẫn muốn chiếm
đoạt Thu, đánh lừa Thu, cho Thu tưởng là mình cao
thượng, tình thật Trương biết rõ: "căn bản
của tâm hồn mình, một căn bản vô luân, khốn nạn."
(trang 138)
Trương gặp Thu là một chuyện tình cờ, yêu Thu một
cách vô lý: "Hay có lẽ Thu cũng yêu chàng tự
nhiên, yêu một cách vô lý như chàng yêu Thu vô lý
bấy lâu." (trang 199)
***
Tính chất phi lý của cuộc đời được Nhất Linh trình
bầy ngay từ những trang đầu: là một sinh viên trường
Luật, đang chăm chỉ học hành, thấy mình chớm lao,
Trương đi khám bệnh, bác sĩ tuyên bố một câu xanh
rờn: "Phổi và tim ấy cũng còn được một năm
nữa là ít" (trang 32). Câu nói cỏn con của
Chuyên, người thầy thuốc, đã hóa kiếp đời Trương:
Trương bỏ học, bán nhà bán đất của cha mẹ để lại
để tiêu xài xả láng, sống cho hết mình trong một
năm trước khi chết. Đời Trương hoàn toàn đảo lộn,
từ lành mạnh xuống sa đọa một cách phi lý, chỉ vì
một câu nói. Mà không chỉ có đời Trương, những đời
khác, cũng quay gót chuyển hướng ít nhiều sang sa
đọa một cách phi lý như thế: Mùi, cô hàng xóm ngây
thơ ngày xưa trở thành cô gái điếm què bây giờ,
Quang yêu đời trở thành ăn chơi, chết vì bệnh, Nhan
sẵn sàng rơi vào tay "người anh họ" hào
phóng, "có lương tâm" là Trương, cả Thu,
một cách nào đó Thu cũng sa đọa, nhắm mắt chiều
chuộng những đòi hỏi điên rồ của Trương. Trương
đang ở dưới đáy của tuyệt vọng, lại được Mùi cầu
khẩn Trương kéo nàng ra khỏi con đường tội lỗi:
phi lý hết sức. Tất cả mọi giăng mắc của cuộc đời
là một mớ bòng bong phi lý, ngộ nhận và bất khả
tri. Trong sa đọa, Trương tiêu xài cuộc đời mình
như một trò cá ngựa, đem dồn hết tiền (vừa thụt
két) đánh vào con ngựa Risque-tout (trang 165) và
thua hết canh bạc đời. Trương thua, bởi người ta
không thể nào sống gấp được (trang 155) cũng như
không ai có thể ăn hết một lúc tất cả những thức
ngon trong đời, những thứ mình cứ tưởng là ngon,
khi đã nhét đầy miệng, chúng không còn hấp dẫn nữa,
mà lại buồn nôn. Do đó, "chàng không bao giờ
thấy được sung sướng trong chơi bời, trái hẳn với
ý chàng lúc mới ốm" (trang 126). Vô lý. Quanh
Trương là vô lý và không biết. Trương thụt két sắp
bị bắt vào tù. Thu hỏi: Sao anh làm việc ấy? Trương
trả lời: Không biết (trang 178). Trương tự hỏi:
Thực tình chàng có yêu Nhan không? Chàng cũng không
hiểu rõõ (trang 189). Mùi đòi theo Trương. Theo
anh à? Không thể được. Vô lý hết sức (trang 186).
Đi bên Mùi, Trương tự nhủ: Đi với một con đĩ què.
Vô lý (trang 182). Người đọc có cảm tưởng như nhân
vật Meurseult trong Người Xa Lạ của Camus là hậu
thân của Trương: một sự ngẫu nhiên trùng hợp phi
lý hết sức.
Ngay cả đến những ước muốn của tình yêu: được Thu
yêu dù là "điều mà trước kia chàng không dám
ước tới nay đã thành sự thực, sao chàng vẫn không
thấy lòng mình thỏa mãn.
- Chỉ có thế thôi à? (trang 123) Trương tự hỏi.
Có lúc Trương "mong được thỏa nguyện về vật
dục để thôi không nghĩ đến Thu nữa" (trang
252). Thậm chí Trương còn nhận thấy đưa thư cho
Thu và thụt két đều cho Trương những cảm tưởng giống
hệt nhau, "chàng không muốn thụt két, nhưng
biết trước là thế nào cũng thụt két, cũng như khi
trước biết là không nên đưa thư mà vẫn cứ phải đưa
thư" (trang 160). Tâm sự của Trương, không
khác gì tâm sự của Meurseult. Họ là những người
xa lạ với mình, với người xung quanh, một niềm cô
đơn tuyệt đối trong cuộc hiện sinh tàn nhẫn.
Tất cả những nhận thức ấy đẩy Trương đến chán chường.
Chán sống. Tại sao không tìm một giải pháp? Tại
sao không tự tử và Trương nghĩ "cách tốt hơn
hết là nhồi một viên đạn nhỏ vào trong sọ. Tạch
một cái, thế là hết. Ngọt như mía lùi." (trang
155).
Nhưng tự tử được không phải là dễ, "hèn nhát
thì không bao giờ tự tử được, mà có can đảm như
trời cũng không thể tự tử được. Tự tử được hay không
là ở cảnh chứ không ở người." (trang 140)
Ở đây, Nhất Linh đã nói đến cảnh, tức là hoàn cảnh,
làm ta liên tưởng tới situation của Sartre, và tất
nhiên là Trương không thể tự tử được vì chàng chưa
bị hoàn cảnh đẩy đến cùng. Nhưng Nhất Linh, hơn
20 năm sau, đã bị hoàn cảnh đẩy đến cùng.
***
Nhất Linh, khi viết Bướm Trắng, đã tiên đoán số
phận mình đồng thời cũng đã tra vấn những tranh
chấp vật lộn giữa sống và chết, giữa cao cả và sa
đọa, những quằn quại của con người trước những phi
lý, bất khả tri của định mệnh. Sự biết mình không
sống lâu cho phép Trương để lộ mặt trái của chính
mình. Và càng để cho cái bộ mặt này hành động, Trương
càng ngại nhìn thấy nó, càng không muốn về nhà,
sợ sự đối diện với chính mình, cái đối diện cay
nghiệt nhất và cũng tàn ác nhất, đó là sự đối diện
với chính mình, đối diện với cái xấu, cái chết.
Sự tự hủy của Trương chỉ là sự rút ngắn "cái
tôi," muốn dìm nó đi, cho nó chết trước thời
hạn, để những "bầy nhầy" của nó khỏi làm
bợn tư tưởng của mình. Nhưng không ai vượt được
định mệnh. Cái chết không do sự quyết định của con
người -kể cả những người tự tử- mà phải có sự tập
hợp của nhiều yếu tố, nhiều hoàn cảnh, tóm lại là
phải có sự quần hợp của những hoàn cảnh đẩy đến
cùng, đến hố sâu nhất của tuyệt vọng. Tựu trung,
cái chết vẫn là chuyện của ngẫu nhiên, chuyện bí
mật của định mệnh.
Nhất Linh, với Bướm Trắng, đã tìm ra một con đường
tiểu thuyết hoàn toàn khác trước và bỏ xa những
bạn đồng hành. Trong khi những người cùng thời với
ông vẫn còn miệt mài trong tiểu thuyết hiện thực
xã hội, ông đã bước ra ngoài hiện thực và đi vào
địa hạt nội tâm. Khi mọi người vẫn còn là bác sĩ
toàn khoa, ông đã trở thành bác sĩ chuyên môn, dùng
phương pháp nội soi để chiếu vào những ngõ ngách
sâu xa nhất của tâm hồn con người, đối diện với
sống và chết, với tình yêu và cái chết, với cao
cả và tội ác, với định mệnh và hư vô. Những câu
hỏi về thực chất của tình yêu, của lòng nhân ái,
của cao cả, của sa đọa được Nhất Linh tìm kiếm và
rọi chiếu bằng một thứ ánh sáng vô minh, bằng những
hình ảnh phũ phàng thơ mộng, bằng một văn phong
nhẹ nhàng thoát tục: Bướm Trắng mở ra bối cảnh một
Trang Tử bàn về cốt lõi của vấn đề hiện sinh con
người. Nhưng ở đây không có ngôn ngữ nặng chất duy
lý của triết học, ở đây là triết học đã hóa thân
thành bướm trắng. Đó là nghệ thuật Nhất Linh. Nghệ
thuật dùng cái đẹp chuyên chở tư tưởng. Và ở đó,
Nhất Linh gần Trang Tử hơn những nhà lập thuyết
triết học hiện sinh, hiện đại.
Nhất Linh, Giòng Sông Thanh Thủy
Nhất Linh bắt đầu viết Dòng Sông Thanh Thủy ngày
28/11/1960. Cuốn đầu, Ba Người Bộ Hành, 248 trang,
viết trong vòng một tháng. Hai tập sau chắc cũng
viết rất nhanh bởi toàn bộ ba cuốn, hơn 600 trang,
được nhà Đời Nay in năm 1961, hai năm trước khi
Nhất Linh quyết định tự chấm dứt đời mình.
Tại sao lại có Dòng Sông Thanh Thủy? Một bộ tiểu
thuyết thoát ra ngoài cõi viết của Nhất Linh, một
người mà cho đến năm 1960 vẫn đặt vấn đề chính trị
ra ngoài văn học? Phải chăng Nhất Linh muốn để lại
một tự phán của nhà văn Nhất Linh về nhà chính trị
Nguyễn Tường Tam, và qua đó là bản án của văn học
đối với cách mạng?
Dòng Sông Thanh Thủy là một trường giang tiểu thuyết,
gồm: Ba Người Bộ Hành, Chi Bộ Hai Người và Vọng
Quốc. Dòng Sông Thanh Thủy viết về một thời kỳ cách
mạng Việt Nam tại Trung Hoa, thời kỳ 44-45, trên
trục Côn Minh, Khai Viễn, Mông Tự, Hà Giang mà hoạt
động chính trị của Việt Minh và Việt Nam Quốc Dân
Đảng thời đó, ở vào thế phải diệt lẫn nhau bằng
những phương tiện ám sát, thủ tiêu tàn bạo nhất.
Hai nhân vật chính trong truyện: Ngọc, cán bộ Việt
Quốc, Thanh, cán bộ Việt Minh, đều biết họ có nhiệm
vụ phải giết người kia nhưng đồng thời họ cũng yêu
nhau bằng một tình yêu tuyệt đối: tình yêu đến chết.
Về văn phong và nghệ thuật, Dòng Sông Thanh Thủy
không phải là tác phẩm nổi bật nhưng là cuốn sách
mạnh nhất về tư tưởng và chính trị của Nhất Linh,
ông điều tra về con người, về các guồng máy chỉ
đạo con người, về tội ác, về các sự nhân danh lý
tưởng, tổ quốc dẫn đến tội ác, về chỗ đứng của tình
yêu, bên cạnh tội ác. Tóm lại là sự sa đọa của con
người trong các guồng máy cách mệnh, Việt Quốc và
Việt Minh nói riêng, và qua đó là sự sa đọa của
con người trong các guồng máy cách mạng nói chung.
Dòng Sông Thanh Thủy không phải là cuốn tiểu thuyết
chống Cộng sản, bênh Việt Nam Quốc Dân Đảng, ở đây
Nhất Linh đứng ngoài địa vị đảng trưởng, ông dùng
địa vị nhà văn để xét về những hành động tàn bạo
của những con người bẩm sinh hiền lành, có lòng
nhân ái, nhưng khi đã bị rơi vào guồng máy cách
mạng (như những đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng
hay Việt Minh), có thể trở thành những kẻ sát nhân
lạnh lùng, không một chút rùn tay, chùn bước. Dòng
Sông Thanh Thủy là tác phẩm phản đề, phản lại những
mẫu người cách mệnh trước, như Dũng, như Trúc v.v...,
những nhân vật lãng mạn đi làm cách mạng mà không
nhúng tay vào tội ác. Với Dòng Sông Thanh Thủy,
Nhất Linh xác định: cách mạng và tội ác đi đôi với
nhau, không thể khác. Và trong Dòng Sông Thanh Thủy,
Nhất Linh nhà văn, kết án Nguyễn Tường Tam nhà cách
mạng, để đưa ra một thực tại thứ nhì: cái đẹp trong
văn chương và ý nghĩa nhân bản của văn học sẽ còn
tồn tại lâu dài, như những câu thơ của Tô Đông Pha
vẫn sống mãi mãi trong lòng người, trong khi những
Chu Du, Tào Tháo... đều đã trôi vào quên lãng. Chứng
cớ là 40 năm trôi qua, Nhất Linh nhà văn vẫn còn
tồn tại, trong khi nhà cách mệnh Nguyễn Tường Tam
đã đi vào dĩ vãng của lịch sử. Đó là ý nghĩa sâu
xa của tác phẩm.
***
Dòng Sông Thanh Thủy được cấu trúc như một tiểu
thuyết trinh thám mà các đối thủ rình tìm chỗ hở
của nhau để ra tay, lồng trong không khí toàn thể
là sự nghi ngờ, một nỗi nghi ngờ bệnh hoạn: không
biết đối phương là ai? Là gián điệp một chiều hay
hai chiều? Kẻ mình sắp giết có phải là nội giám
của phe địch hay oan? Hay chính mình là kẻ sẽ bị
phe địch giết trước? Ba Người Bộ Hành là sự rình
rập tay ba giữa Ngọc, Tứ và Nghệ. Chi Bộ Hai Người
đối chất, dò thám giữa Thanh và Ngọc, và Vọng Quốc
theo dõi đường về cõi chết của hai người.
Những nhân vật chính (cán bộ Việt Quốc và Việt
Minh) xuất thân ở những môi trường khác nhau, làm
cách mệnh vì tình cờ hơn là vì lý tưởng.
Ngọc (Việt Quốc) đang đi học, vì nhà sa sút nên
phải bỏ dở để học nghề đan ren ở làng bên cạnh.
Ngọc yêu Thúy, con ông chủ. Thúy mất vì ho lao.
Đang bàng hoàng vì cái chết của Thúy, Ngọc được
Lê, anh ruột Thúy dẫn vào cách mạng, trở nên một
cán bộ chuyên nghiệp, giữ việc giao liên và thủ
tiêu những phần tử Việt Minh. Thanh (Việt Minh)
được lệnh quyến rũ Ngọc, trà trộn vào hàng ngũ Việt
Quốc ở Vân Nam và Hà Giang để triệt hạ toàn bộ.
Thanh thuộc lớp người trưởng giả, con nhà giàu,
có học, lấy chồng nhưng người chồng chơi bời, tiêu
hết tiền hồi môn của vợ, hai người ly dị, Thanh
gặp người tình thứ nhì, lại bị lừa lần nữa, chán
nản sự đời, gia nhập Việt Minh.
Những nhân vật khác cũng theo cách mệnh vì những
lý do cá nhân hơn là vì lý tưởng, như Nam, trước
làm y tá, vì nhà sa sút nên phải lấy một người chồng
Tàu, rồi theo chồng sang Văn Sơn; chồng chết, ở
hẳn lại Vân Nam, hành nghề thầy thuốc, đỡ đẻ giúp
người, gia nhập Việt Quốc, thi hành các vụ thủ tiêu.
Nam, dưới mắt Ngọc, "nàng là người rất hiền
lành thế mà bây giờ nàng cũng giết người không khác
gì chàng" (Ba Người Bộ Hành, trang 110). Về
việc Nam thủ tiêu Vương Đức, một cán bộ Việt Minh,
Ngọc nghĩ: "chàng chưa hiểu được tại sao một
người đàn bà nhu mì như Nam lại có thể giết người,
mà lại tự ý giết một cách độc ác như thế, chàng
thốt nhớ lại câu Thanh nói: "Bị cái guồng máy
nó lôi kéo." [...] Ý nghĩ về cái tốt, cái xấu
ở đời lại lảng vảng trong đầu óc chàng, [...] cũng
như Tứ và Nghệ, đều là những người tốt, có lòng
nhân đạo [...] Ngay lúc Nam kể cho chàng nghe về
việc giết (Vương) Đức, chàng không khỏi ghê tởm
vì lòng độc ác của con người; chàng thấy thương
hại cho Đức khi bị Nam bóp cổ; đôi mắt mờ ấy biết
đâu đã không đau khổ vì không hiểu và biết đâu Đức
không có cha mẹ, vợ con hay một người yêu và trước
khi chết đã không nghĩ tới những người thân yêu
đó" (Ba Người Bộ Hành, trang 115)
Ngọc không hiểu hành động của Nam, một người phụ
nữ hiền lành, một bà đỡ, một thầy thuốc chữa bệnh
cho người nghèo, một người cứu nhân độ thế mà lại
có thể giết người không gớm tay, cũng như Ngọc không
hiểu được chính mình, chỉ ít lâu sau sẽ nhúng tay
vào việc thủ tiêu hai cán bộ Việt Minh, Tứ và Nghệ,
một cách tàn ác và lạnh lùng không kém.
***
Ba Người Bộ Hành, viết về hành trình rình rập giữa
Ngọc, Tứ và Nghệ. Cả ba đều đã dùng những thủ đoạn
"dối trá, gian giảo, độc ác để hạ thủ nhau":
"Họ rình nhau như những con thú dữ mà người
nào cũng vì một lý tưởng mình cho là cao đẹp"
(Ba Người Bộ Hành, trang 207). Ở đây, Nhất Linh
đã viết những trang thản nhiên và rùng rợn nhất
về tội ác của con người, nhân danh cách mạng. Ngọc
dẫn Tứ và Nghệ đến một chỗ được gọi là "chỗ
ấy," tức là nơi Ngọc sẽ thi hành bản án; trên
đường đi xuyên núi rừng, phong cảnh hùng vĩ, Ngọc
vừa đi vừa hát "Chàng cất tiếng hát cao giọng,
đi thật mau cho bước chân ăn nhịp với bài hát mà
chàng cố hát thật mau:
Hồn nước muôn năm sống cùng non nước!
Ngày nay ta noi tấm gương anh hùng,
Dù khó thế mấy quyết cùng nhau bước
, Làm cho vang tiếng cháu con nòi giống Tiên Long.
Chàng chuyển sang điệp khúc:
Mau, mau đồng lòng, tay cầm tay, trông cờ nước,
ta đều bước,
Tuốt gươm, thề với núi sông...
Hồn nước muôn năm sống cùng...
Bài hát ấy là của Lưu Hữu Phước, đảng viên Việt
Quốc trong thời kỳ bí mật từ trong nước truyền ra."
(Ba Người Bộ Hành, trang 214)
Trong suốt cuộc hành trình, Ngọc sung sướng thưởng
thức cảnh đẹp, say sưa với những nhịp bước hùng
ca như thế, và sau khi đã bỏ thuốc độc trong cà
phê cho Tứ và Nghệ rồi, "chàng nhấc thây của
Nghệ và Tứ đem ra đặt sát gần bức vách núi rồi đẩy
mạnh một cái. Hai cái xác rơi từ trên cao xuống,
lọt vào khe mấy tảng đá. Đứng ở trên còn thấy hở
ba cái chân, Ngọc bẻ một cành cây rậm lá quăng xuống,
chàng phải quăng xuống bốn năm cành mới có một cành
trúng và che phủ mấy cái chân hở. [...]
Ngọc ngẩng lên: trời cao và xanh, lơ lửng một vài
đám mây trắng. Các ngọn núi bao bọc chung quanh
dưới ánh sáng mùa thu trong có một vẻ đẹp rực rỡ
mà vẻ đẹp của trời thu như còn xa hơn nữa; nắng
đẹp ở vườn sau nhà Thanh, nắng làm rám da mấy quả
lựu và làm hồng đôi gò má Thanh đương đứng ngắm
những cánh hoa lựu trắng, nắng còn đẹp ở những nơi
xa xa nữa; lúc này Nga đương ra vườn cất quần áo
đã khô, lòng chợt nhớ đến chồng, mong ngày chồng
về; nắng đẹp ở trong vườn người chị thân yêu của
chàng giờ này có lẽ đương cau mũi và mắng chàng:
- Thằng Ngọc chết tiệt, đi đâu biệt tích không một
lá thư gửi thăm nhà." (Ba Người Bộ Hành, trang
237-238)
Phải có một bản lĩnh cao cường như Nhất Linh mới
có thể hòa trộn tội ác trong một bối cảnh trời cao,
mây rộng, yêu nước và yêu người như thế. Trong con
người, không thể phân biệt được đường ranh thiện
ác như Nhất Linh đã dẫn đầu tiểu thuyết bằng hai
câu thơ của Nguyễn Du: Trời kia đã bắt làm người
có nhân, đã mang lấy nghiệp vào thân, và lời của
Pascal: Vérité en deça des Pyrénées, erreur au delà,
bên này dãy núi Pyrénées là sự thực, bên kia là
sai lầm.
Nhất Linh đã thay rặng Pyrénées của Pascal bằêng
dòng sông Thanh Thủy. Ở Nhất Linh, trong con người
không có rặng Pyrénées, cũng không có dòng sông
Thanh Thủy, hoặc nếu có thì cả núi lẫn sông đều
chìm lấp trong cái vực chung thiện ác là trái tim.
Ngọc và Thanh là tên của loài lan quý, lan Thanh
Ngọc mà Nhất Linh đã nâng niu bên dòng suối Đa Mê.
Dòng Sông Thanh Thủy in 10 bản trên giấy Thanh Ngọc
và trong 17 phụ trang do chính Nhất Linh vẽ, lan
Thanh Ngọc được minh họa ở trang đầu với hai câu
thơ:
Sắc trong Thanh Ngọc hương thơm mộng
Một thoáng mơ tiên thoảng xuống trần.
Bài thơ và bức họa mở đầu cho tiểu thuyết Dòng Sông
Thanh Thủy như để giới thiệu chân dung hai người,
vừa trong như Ngọc, vừa Thanh như lan, nhưng cũng
lại là những kẻ giết người không gớm tay, khi họ
bị guồng máy cách mệnh cuốn về hai phe đối đầu:
quốc gia và cộng sản.
Tác phẩm của Nhất Linh, do đó không chỉ viết về
một thời tranh chấp giữa Việt Minh và Việt Nam Quốc
Dân Đảng những năm 44, 45, mà còn bao trùm những
tranh chấp Quốc-Cộng, sau khi Nhất Linh mất. Những
tranh chấp ấy không phải thời này mới có, mà có
tự ngàn xưa: "Thanh nói với Ngọc:
- Cái guồng máy ấy vẫn còn, còn mãi. Anh đã xem
Đông Chu Liệt Quốc và Tây Hán chứ?
- Có, tôi có đọc nhiều lần.
- Đấy, anh xem cái guồng máy đã có từ mấy nghìn
năm trước. Anh chắc còn nhớ Vệ Ưởng nước Tần, Phạm
Lãi với Văn Chủng nước Việt, Hàn Tín với Trương
Lương đời Tây Hán. Vệ Ưởng, Văn Chủng, Hàn Tín đều
bị cái guồng máy nó nghiền nát nhừ cũng như nó sẽ
nghiến anh Ninh và cả anh nữa. [...] Anh bị lôi
cuốn vào đó và tôi cũng vậy." (Chi Bộ Hai Người,
trang 86)
Thanh, trong truyện, gần gũi với Nhất Linh, tâm
hồn nghệ sĩ, yêu cái đẹp, có tư tưởng. Đã bao lần
Thanh muốn bỏ tất cả để tìm đến thiên thai với Ngọc.
Họ đã sống những giây phút thần tiên, lãng mạn với
nhau, đã đi thuyền trong trăng, đã dạo vườn đào
Côn Minh như Lưu Nguyễn. Thanh đã muốn bỏ tất cả
tục lụy, tranh chấp, chém giết, nhưng guồng máy
không tha cho Thanh, không tha cho Thanh-Ngọc. Như
Thanh, Nhất Linh cũng đã bỏ tất cả, lên Đà Lạt tu
tiên, tìm một cõi đam mê, vượt khỏi bậm bụi cuộc
trần, nhưng rồi rút cục Nguyễn Tường Tam cũng không
thoát khỏi guồng máy, lại trở về trần, trở về với
đấu tranh chính trị, để rồi bị cái guồng máy chính
trị ấy nghiền nát. Nhất Linh gánh cái nghiệp của
nhà văn và nhà cách mạng: cả hai đều biết rất rõ
về nhau nhưng không buông tha nhau và đeo đuổi nhau
đến hơi thở cuối cùng. Văn chương và cách mạng đối
với Nguyễn Tường Tam Nhất Linh như Ngọc và Thanh,
như lan Thanh Ngọc, là một thứ tình yêu lạ lùng,
tình yêu đến chết.
Khi Ngọc và Thanh biết đích xác nhiệm vụ của nhau,
họ cùng đi với nhau đoạn đường cuối tên là Vọng
Quốc. Họ cùng vọng quốc như nhau, cùng rời Côn Minh
đi về biên giới, vượt cầu sang sông Thanh Thủy,
về Hà Giang để phụng sự đất nước.
Đất nước là của chung, nhưng cách phụng sự đất
nước của đảng họ lại khác. Cho nên phải giết nhau.
Đoạn đường cuối ấy được Ngọc cảm nhận như sau: "Ngọc
cho cuộc đi với Thanh về Hà Giang như một cuộc tìm
kiếm thiên thai; thân chàng dù có bị guồng máy nghiến
nát nhưng linh hồn chàng theo lời Thanh vẫn thường
nói, sẽ tan đi như hạt muối trong nước hay biến
thành một niềm vui hòa loãng trong cái mênh mông
của hư vô. Phạm Lãi, Tây Thi chết đã mấy nghìn năm
nhưng tâm hồn hai người vẫn tồn tại trong tâm hồn
nhân loại." (Vọng Quốc, trang 92)
Trong hành trình này, có lúc tâm sự, hai người
đã đồng ý với nhau rằng trước khi chết, nếu được
nhìn một hình ảnh đẹp, nghe một điệu nhạc hay, thì
cái chết chắc sẽ bớt đau hơn. Và rồi họ cũng đạt
đến giây phút thần tiên ấy:
"Thanh để hết cả tâm hồn khe khẽ ngâm, tiếng
thoảng nhẹ như hơi gió trong đêm trăng sương mù:
Đêm sương thoảng tiếng ai trong gió,
Lòng hỏi lòng biết có hay không?
Hay chăng tiếng vọng mơ mòng
Của lòng mình nói cho lòng mình nghe...
Tiếng ngâm rứt đã từ lâu nhưng dư âm còn vang mãi
trong hồn Ngọc. Tự nhiên chàng nghĩ đến hôm đi chơi
hồ, Thanh ngâm bài phú Xích Bích và nói bây giờ
còn đâu Tào Tháo, Chu Du nhưng câu thơ hay của Tô
Đông Pha và ánh trăng trong trên dòng Xích Bích
thì còn mãi mãi. Chàng nghĩ Thanh và chàng có thể
lát nữa sẽ chết, Việt Quốc, Việt Minh ám hại lẫn
nhau cũng không còn nữa. Nhưng tiếng ngâm của người
yêu thì như mãi mãi bàng bạc trong không gian của
những đêm sương lạnh." (Vọng Quốc, trang 208)
Có phải đó là chúc thư văn học của Nhất Linh? Phải
chăng Nhất Linh muốn nhắn lại rằng những con người
tranh giành nhau vì quyền lực, vì lý tưởng, rồi
sẽ chết. Nhưng tiếng thơ không chết. Tô Đông Pha
không chết. Cho nên nhà chính trị Nguyễn Tường Tam
có thể chìm trong quên lãng nhưng nhà văn Nhất Linh
sẽ sống mãi với Đôi Bạn, Bướm Trắng, Xóm Cầu Mới,
Dòng Sông Thanh Thủy... trong lòng người.
Xóm Cầu Mới như một khởi thủy
Ở Nhất Linh, mỗi tiểu thuyết là một chặng đường,
với Xóm Cầu Mới Nhất Linh tổng kết những chặng đường
nghệ thuật và tư tưởng, đem hết kinh nghiệm sống
và viết của đời mình để tạo nên tác phẩm. Ở đây
không còn chủ đề, không còn đấu tranh xã hội, cũng
không phơi bầy một triết lý sống nữa, mà chỉ có
đời trần trụi. Đời sống. Trong Xóm Cầu Mới, Nhất
Linh đã đạt đến cái đích của tiểu thuyết mà ông
mong muốn "không phải là sự diễn tả đời sống
nữa, nó chính là đời sống, đời sống rung động và
hồi hộp, mà không chỉ là đời sống bên ngoài mà còn
là đời sống bên trong, đời sống bí ẩn của tâm hồn."
Nhất Linh tạo không gian nội tâm và ngoại giới của
mỗi nhân vật và đi sâu vào không gian ấy như thể
ông bị nhân vật lôi cuốn đi, từ Mùi, Siêu, đến những
người xung quanh như Tý, Bé, Triết, Mạch, ông Lang
Hàn, U già, vợ chồng bác Lê, Nhỡ, Đỗi, Bà Chủ Nhật
Trình, ông Năm Bụng, cậu Ấm, cụ Án v.v...
Nhất Linh không xây dựng nên nhân vật nữa mà chính
những nhân vật dựng nên cõi viết Nhất Linh. Xóm
Cầu Mới bắt đầu bằng những hàng:
Mùi sực thức giấc nhưng còn mơ màng chưa tỉnh hẳn.
Tiếng gió trong lá cây, ở xa xa, không biết nàng
nghe thấy thực hay chỉ là tiếng trong giấc mơ; tiếng
lá loạt soạt làm nàng cảm như đâu đây có ai vừa
kéo chăn đắp cho khỏi lạnh, tay nàng bất giác kéo
một góc chăn phủ lên chỗ ngực để hở. Một nỗi vui
lành mạnh thấm nhuần khắp thân thể và hình như người
nàng vẫn vui suốt cả đêm qua, bây giờ hơi tỉnh nàng
mới nhận thấy: "Ban đêm mình nằm mê thấy một
chuyện gì chắc vui lắm." (Xóm Cầu Mới, Phượng
Giang, 1973, in lại ở Hoa Kỳ, không đề năm, không
đề nhà xuất bản, trang 13)
Nhận xét đầu tiên là tất cả những động tác của
Mùi ở đây chỉ làm nổi bật phần cốt yếu là sinh hoạt
tâm linh của Mùi. Hành động đáng chú ý nhất là "kéo
chăn" lên đắp trên ngực, cũng không phải do
chủ đích của Mùi mà là vì Mùi cảm thấy như đâu đây
có ai kéo chăn đắp cho khỏi lạnh, cho nên tay nàng
bèn "bất giác" kéo một góc chăn lên để
đắp chỗ ngực để hở. Vậy ngay đến hành động kéo chăn
lên đắp ngực của Mùi cũng là một hành động mơ hồ,
như trong vô thức. Và trong 50 trang tiếp theo là
hồi ức của Mùi về những việc xẩy ra hôm qua, từ
khi nhận được thư Siêu báo tin sẽ về Xóm Cầu Mới,
xa hơn nữa đến thời tuổi thơ của Siêu và Mùi, những
giận dữ, những trò chơi và cái hôn đầu của tuổi
mười ba. Rồi khi Siêu đi xa, Mùi vả tay vào dậu
găng cho chẩy máu để ăn vạ v.v...
Tất cả những động tác, những ký ức và hồi tưởng
chạy dài trong đầu khi Mùi nằm trên giường còn ngái
ngủ. Trước Xóm Cầu Mới dường như chưa có tiểu thuyết
gia Việt Nam nào sử dụng "hồi tưởng" lâu
như vậy. Ở đây có một sự êm ả rất Đông phương và
một táo bạo rất Tây phương.
Tưởng tượng thêm một chút nữa, người đọc có thể
thấy một mối tương quan nào đó giữa chương đầu Xóm
Cầu Mới và chương đầu của A la recherche du temps
perdu Đi Tìm Thời Gian Đã Mất của Marcel Proust.
Đoạn "Một Buổi Sáng" trong Xóm Cầu Mới
có gì giống như đoạn Combray của Proust, cậu bé
Proust thao thức trên giường với tiếng gọi của kỷ
niệm, của suy tưởng. Tất nhiên không có gì chứng
minh Nhất Linh chịu ảnh hưởng Proust. Trong tập
tiểu luận Viết Và Đọc Tiểu Thuyết cũng không thấy
Nhất Linh nhắùc đến Proust mà ông khâm phục Tolstoi.
Nhưng cách xây dựng tiểu thuyết của Nhất Linh không
giống cái "không khí" Tolstoi nữa, tức
là đã ra khỏi thế kỷ XIX để bước vào thế kỷ XX mà
hồi tưởng, mơ mộng và ký ức được tận dụng triệt
để với Marcel Proust. Nhất Linh trong Xóm Cầu Mới
sử dụng hồi tưởng và ký ức như một lợi khí mới của
văn học. Và nếu có mối tương quan nào giữa Nhất
Linh và Marcel Proust thì chỉ ở chỗ sử dụng những
yếu tố đó và chỉ ở chỗ đó mà thôi vì sự khác biệt
của họ rất rõ ràng: văn phong của Proust dồn dập,
nhiều dòng, nhiều trang, như một hơi thở tràn đầy
âm điệu, hình ảnh, mầu sắc v.v..., Proust là người
"dụng văn" trong khi Nhất Linh ngắn, gọn,
đơn giản, ông chủ trương không làm văn (nữa), tức
là bỏ lối viết văn chương của thời lãng mạn để trở
về với lối viết nguyên thủy "có lời là vì ý,
được ý hãy quên lời" rất Nam Hoa Kinh mà những
nhà văn lớp sau như Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến, Võ
Hồng đã ít nhiều chịu ảnh hưởng. Riêng Võ Phiến,
trong lối mô tả chi tiết và hay nhắc đến lời Nhất
Linh khuyên những ai muốn viết tiểu thuyết hay đừng
quan tâm tới câu văn hay (trong Viết Và Đọc Tiểu
Thuyết). Ở đây chúng ta nên để ý: lời khuyên của
Nhất Linh chỉ có tính cách tương đối vì một người
không theo "trường phái" Nhất Linh như
Vũ Khắc Khoan vẫn được Nhất Linh cảm mến. Trở lại
với cái chung giữa Proust và Nhất Linh, chúng ta
thấy cả hai đều cho người đọc cái ấn tượng an lạc,
hạnh phúc trong những giây phút sống lại kỷ niệm.
Ở Proust là chiếc bánh madeleine chấm nước trà bất
hủ. Ở Nhất Linh là dậu găng, là những cánh hoa mộc,
là những chiếc bánh gai, những ngày lụt lội, những
con ma ở gốc đa, ở lăng cụ Quận, những con lợn của
bác Lê và những cái cốc đầu con của bác ấy. Là thằng
Tý thông minh, là U già lẩm cẩm hay nói ngang phè
mà có lý, là bà ký Ân Chủ Nhật Trình hay nõ mồm,
mở mồm ra là "người trần mắt thịt ơi!",
là ông giáo Đông Công Ích Tin Lành vừa buôn đạo
vừa buôn công phiếu. Là ông Năm Bụng giắt năm chai
rượu lậu trong bụng, cụ Án bắt ruồi, cậu Ấm nói
dối vợ đi bắn vịt trời để hút thuốc phiện v.v...
Cái thế giới ấy đã qua như một thời vang bóng, được
Nhất Linh dựng lại như một thế giới đang còn sống
bây giờ, một xã hội bắt đầu nghiêng xuống, một xã
hội về chiều. Tính chất nghiêng xuống ấy là nòng
cốt tác phẩm. Nghiêng xuống mà không bi quan, vẫn
hóm hỉnh và có hạnh phúc. Chúng ta thử đọc trích
đoạn cụ Án kho cá và bắt ruồi sau đây:
Cụ Án nghiêng người nhấc cái vung nồi cá kho dứa
đặt trên cái hỏa lò con nhìn vào trong nồi và hít
mũi mấy cái. Lứa cá kho này cụ thấy ngon hơn mọi
lần. Trong đời cụ, cụ chỉ thích nhất ăn cá kho dứa,
mùa nào không có dứa tươi thì cụ nấu cá với dứa
hộp và Hải đi Hà Nội mua đạn bao giờ cũng nhớ mua
mấy hộp dứa biếu cụ. Độ trước khi cụ Án ông còn
sống bắt cụ rời nhà quê lên ở trên tỉnh, cụ được
nếm đủ các thứ sơn hào hải vị nhưng cá kho dứa cụ
vẫn thấy ngon nhất. Cá kho ăn lại đỡ tốn, mỗi miếng
cá bé tý cũng ăn được bao nhiêu là cơm. Biết tính
cụ nên có ai biếu cụ là biếu cá và phải là cá còn
tươi nguyên. Cụ tự tay kho lấy và kho xong thì cụ
treo ngay trên giường cụ ngồi, vừa tầm tay với.
Cụ đậy vung nồi và tay lại cầm lấy cái que đập
ruồi. Chỉ trừ lúc giã trầu ở cối, còn thì lúc nào
tay cụ cũng cầm que đập ruồi. Cụ ghét và sợ ruồi
lắm. Nhưng ở chung quanh chỗ cụ ngồi thì lại có
đủ các thứ để nhử ruồi đến thật nhiều; ngoài nồi
cá, lại có những xâu cá mắm, những chai mật ong
và những quả chuối bao giờ cũng chín đen chín nát.
Vì cụ bại một chân đi phải chống nạng nên ít khi
cụ đi lại. Giang sơn cụ và cả đời cụ vì thế thu
hẹp trong phạm vi cái giường cụ ngồi. Tất cả những
thứ gì cụ cần dùng đều để ở trên giường và ở cái
tủ chè cạnh giường. Chỉ trừ có số tiền cụ để dành
được là cụ dấu ở chỗ khác.
Vì cụ không đi lại được nên chỉ đánh được những
con ruồi ở trên giường. Để bắt ruồi chung quanh
giường cụ nuôi cò ruồi, nhưng con cò không được
bắt ruồi trên giường. Có con ruồi nào vừa bay đến
đậu trên chiếu mà con cò định mổ thì cụ đã nhanh
tay đập trước; đập xong cụ hất ruồi xuống đất cho
cò ăn. Lần nào con cò nhanh hơn mổ cướp của cụ một
con ruồi trên chiếu là cụ lấy cán que đập ruồi đập
vào đầu con cò một cái để phạt nó hỗn. Có một con
cò lâu dần hiểu được chỗ đó nên không bao giờ mổ
tranh ruồi của cụ; cụ thích lắm và khoe với tất
cả mọi người, nhưng sau con ấy bị chó cắn chết mất.
(trang 288, 289, sđd)
Qua những hàng trên đây, Nhất Linh đã viết nên
những nét bi hài của một cụ Án về già, của một thời
đã mất, từ một cụ Án bà quyền quý, có thể đã có
thời dựa vào uy thế cụ ông, hét ra lửa, vậy mà bây
giờ giang sơn cụ thu hẹp lại còn có cái giường,
mà cũng không phải cả cái giường, các thứ lủng củng
chiếm đến nửa, phần còn lại cụ ngồi chung với ruồi,
cụ đập ruồi, tranh với cò, bên cạnh nồi cá kho,
xâu cá mắm... Hoàn cảnh cụ không khác gì lắm với
gia đình bác Lê, những ngày nước lên phải ngủ chung
với lợn. Nhưng cảnh cụ còn đau thương hơn, vì cụ
có con cò tâm đắc nhất thì nó lại bị chó cắn chết.
Khôngthể biết rõXóm Cầu Mới ở vào thời nào, chỉ
biết mang máng như là khoảng nửa đầu thế kỷ XX,
mang máng bản đồ Xóm Cầu Mới giống bản đồ huyện
Cẩm Giàng, Nhất Linh cố ý làm bàng bạc thời gian,
tạo nên tính chất vô định của tất cả những thời
đại đang suy tàn. Mà thời đại nào rồi cũng phải
suy tàn, như câu thơ của Vũ Đình Liên những người
muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ. Đó là lý do tồn
tại của những kẻ như Proust, như Nhất Linh mải đi
tìm thời gian đã mất.
***
Viết Xóm Cầu Mới, Nhất Linh đã sử dụng tất cả những
kinh nghiệm viết của mình, những kinh nghiệm mà
ông đã ghi lại trong cuốn tiểu luận Viết Và Đọc
Tiểu Thuyết. Nhưng đó không phải là cốt yếu. Điều
cốt yếu là Nhất Linh đã tạo dựng lại một thời đã
mất và làm chúng bất tử với những nhân vật đang
sống, đang suy nghĩ, với những thèm muốn, những
tính toán, những hồn nhiên của họ, tạo ra mối tương
quan giữa con người với nhau cũng như những tương
quan giữa những cô đơn với nhau. Xóm Cầu Mới là
một xã hội có giai cấp mà lại như không còn giai
cấp, các giai cấp đã lộn tùng phèo, chỉ có tương
quan giữa người và người: giữa hai bác Lê và thằng
Tý, tương quan giữa cụ Án và những con ruồi, con
cò, nếu có thể nói ruồi, cò cũng là người, so với
một cụ Án đã hoàn toàn mất địa vị. Giữa Mùi và U
già, U già luôn luôn ở thế mạnh hơn Mùi, tương quan
giữa Bé và Đỗi, tương quan giữa bác Lê gái và bác
Lê trai, v.v... và trong những tương quan ấy, phái
mạnh, hay phái khỏe, thường có vẻ kém thế trước
phái yếu... Nhất Linh tạo ra những cái tên, những
khuôn mặt như bà Chủ Nhật Trình, ông Năm Bụng, ông
giáo Đông Công Ích Tin Lành... như một khởi thủy,
vì trước ông, chưa thấy ai đưa ra một "hệ thống"
đặt tên như thế và sau ông, có những ông Ba Thê
Đồng Thời, anh Bốn Thôi, ông Bốn Tản, chị Bốn Chìa
Vôi... của Võ Phiến, đó là một nối tiếp "truyền
thống" Nhất Linh, hay chỉ là sự trùng hợp ngẫu
nhiên? Có điều rằng trong những tác phẩm đầu của
Võ Phiến, chưa thấy xuất hiện cách đặt tên như vậy.
Nếu có một sợi dây liên hệ giữa Nhất Linh và các
tác giả đến sau thì không chỉ dừng ở mức đặt tên
mà còn ở cả lối mô tả nhân vật, như bà Chủ Nhật
Trình luôn luôn mở miệng ra là "người trần
mắt thịt ơi." Cách xác định cá tính nhân vật
bằng một nét cố hữu này Nhất Linh đã chịu ảnh hưởng
của Tolstoi và có lẽ từ Nhất Linh, Nhật Tiến đã
tìm được cách mô tả nhân vật cực kỳ sống động trong
Thềm Hoang với những cô Huệ mở mồm ra là "khỉ
gió đùng lăn!", cô Đào mở mồm là "khắm
chửa!"
Nhất Linh không chỉ ảnh hưởng đến những người đến
sau bằng cách đặt tên, hoặc sống động hóa nhân vật
mà còn ở cả lối nhận xét chi li, và nhất là cách
mô tả toàn cảnh bằng một chi tiết mà sau này người
đọc cũng tìm thấy lại trong các tác phẩm của Võ
Phiến, Võ Đình. Biện pháp hoán dụ này chỉ dùng một
chi tiết va chạm thể xác như đụng chạm ngón tay,
bàn chân hoặc đôi khi không đụng chạm mà chỉ nhìn
trộm hoặc dùng khứu giác để miêu tả những mãnh liệt
của nhục cảm trong đầu các nhân vật. Nhất Linh đã
dùng thủ pháp này từ Bướm Trắng trong hai xen độc
đáo: Trương nhìn trộm bàn tay của Thu trên tấm chăn
và Trương với chiếc áo cánh của Thu úp vào mặt.
Trong cả hai xen đều không có "công-tắc"
thể xác trực tiếp, nhưng Nhất Linh đã diễn tả một
cách tuyệt vời lòng ham muốn và động lực tính dục
trong con người. Ở Xóm Cầu Mới, biện pháp này còn
đa dạng hơn nữa, Nhất Linh đưa ra rất nhiều xen
để mô tả cái tính "đĩ ngầm" của Mùi: Mùi
"ngủ" với lá thư của anh Siêu, Mùi quất
tay vào dậu găng cho chẩy máu, hai lần Mùi rửa chân
với anh Siêu ở hai "nồng độ" khác nhau,
mưa lụt, Mùi bắt anh Siêu bế, Mùi nằm đắp chăn trên
giường của anh Siêu,... Hoặc Đỗi dẫm lên chân Bé
(để tỏ tình), ông Giáo Đông "cầm nhầm"
cái khăn che mắt của Bé lại hí hửng tưởng là khăn
mùi-xoa của Mùi, chỉ có Nhỡ là yêu Mùi thầm kín
nhất... Ở Xóm Cầu Mới Nhất Linh đã trình bầy những
dạng thức biểu lộ tính dục của con người, tùy theo
giai cấp, một cách nhuần nhuyễn và đa dạng và chắc
chắn là những người tinh tế viết sau ông đã tìm
được những ảnh hưởng đích đáng. Nhục cảm (sensualité)
là một đề tài khó viết, khó nói, viết dở sẽ trở
thành thô, viết hay, xưa nay chưa có nhiều nhà văn
đạt được. Nhất Linh đã vượt được giới tuyến này
bằng những thủ pháp nguyên thủy.
Chuyện đôi con dì yêu nhau là một sự loạn luân
cấm kỵ. Vậy mà Nhất Linh đã phiêu lưu vào thế giới
cấm kỵ ấy một cách thản nhiên, bình dị trong Xóm
Cầu Mới. Một Nhất Linh hoàn toàn tự do, biết mình
nắm trọn mọi nhu yếu cần thiết của kỹ thuật và nghệ
thuật viết văn, biết mình có thể vững vàng ở những
khoảng trời bão táp. Nhất Linh đưa hết sở trường
của mình vào tác phẩm. Xóm Cầu Mới đi từ chân dung
người con gái tên Mùi, chân dung ấy phát xuất từ
điểm: Mùi tỉnh dậy, sau một đêm hạnh phúc ngủ chung
với lá thư của Siêu, người anh họ, Siêu vừa gửi
thư báo cho nàng biết sẽ về ở chung với gia đình
Mùi. Nhất Linh, trong những trang đầu, đã đưa ra
táo bạo thứ nhất: "Mùi nằm ngủ một đêm với
bức thư của anh Siêu." Đó là nhục cảm đầu đời
của Mùi như một Eva ăn trái cấm. Và từ đó phát xuất
cá tính của Mùi, một cô gái quê, con một cụ Lang,
sống hồi đầu thế kỷ. Mùi có quán bán nước, bán thuốc,
bán bánh cuốn, bán gạo. Mùi là hình ảnh cô gái quê
tần tảo, một bà Tú Xương tương lai, một cô hàng
xén trong truyện của Thạch Lam hay cô hàng xóm trong
thơ Nguyễn Bính. Đó là phần hình thức. Về mặt tư
tưởng, Mùi táo bạo hơn nhiều. Mùi mới hơn cả Loan
trong Đôi Bạn, Đoạn Tuyệt, khác hẳn Nhung trong
Lạnh Lùng, và có lẽ còn mới hơn nhiều cô gái tỉnh
thành thời nay. Nàng dám để cho nhục cảm dẫn dắt,
không lúc nào Mùi thấy có mặc cảm hoặc tự kiềm chế.
Mùi biết tình yêu của nàng với Siêu là cấm kỵ:
"Mặc dầu Siêu với nàng là đôi con dì không
lấy được nhau nhưng cái mãnh liệt của tình yêu ấy
không mảy may làm nàng sợ hãi; nàng lại thấy mừng
không ngờ mình yêu đến thế. Nàng đón lấy nó như
hiện giờ này nàng đón lấy cơn gió lạnh sắc đương
quất vào hai bên má.ữ (trang 19, sđd)
Trong Văn Học Việt Nam ít có cô gái quê nào tự
do như Mùi. Có thể có cô Huệ trong Thềm Hoang của
Nhật Tiến. Nhưng cô Huệ nửa tỉnh nửa quê. Mùi tự
do và biết mình tự do vì Mùi tạo nên hoàn cảnh mà
không phải chạy theo hoàn cảnh. Tình yêu của Mùi
và Siêu đậm dấu ấn thể xác nhưng lại là thứ thể
xác não thùy, phát xuất từ tình yêu nguyên thủy,
xẩy ra ở trong óc nên không thể phạm tội. Không
riêng về tình yêu nhục dục mà tất cả những nhân
vật hay những bối cảnh mà nhân vật tạo ra trong
Xóm Cầu Mới, đều ít nhiều nằm trong trạng thái nguyên
thủy. Ví dụ về trí thông minh của thằng Tý, Nhất
Linh cũng đi từ những nhận xét nguyên thủy: tại
sao lại biết nó thông minh mà mẹ nó lại cho nó là
ngớ ngẩn? Tại vì mới chín tuổi nó đoán được ý bố
nó, nó đoán được ý con lợn, nó tìm những giải pháp
lô-gích đo quần áo mà mẹ nó không nghĩ ra v.v...
Tình yêu của Đỗi và Bé cũng là một tình yêu nguyên
thủy: Cặp trai gái làng này tỏ tình bằng cách dẫm
chân lên nhau, rồi những ngón chân ấn lên một tý,
mỗi lần ấn là một lần tăng nồng độ tình yêu. Nỗi
buồn của Triết, em trai Mùi, cũng là nỗi buồn nguyên
thủy, Mùi không biết tại sao em mình hay ngồi buồn,
cả đến việc chơi bươm bướm của Triết, Triết chơi
với những con "bươm bướm ma," và đó lại
là một lối chơi buồn mà chính Triết cũng không biết
là mình buồn. Tính lẩm cẩm của U già cũng là một
thứ lẩm cẩm nguyên thủy: Thật ra U già không lẩm
cẩm, u còn lô-gích nữa là khác, nhưng nhà vắng quá,
thỉnh thoảng Mùi phải tìm cách cãi nhau với U già
cho có tiếng nói, và U già mỗi lần thấy Mùi gắt
là u lại nói ngang phè. Bác Lê mỗi lần say rượu
đánh vợ, đánh con, cũng là những cơn say nguyên
thủy, bởi bác biết trước là uống rượu vào sẽ đánh
vợ đánh con, nhưng bác không thể tránh được, bác
cố nhịn, nhưng đến phút chót cái thèm vẫn ăn đứt
bác và bác lại chịu thua cái thèm...
Trong Xóm Cầu Mới, Nhất Linh đã đưa ra những con
người trong trạng thái nguyên thủy. Nhất Linh tìm
đạt đến cối rễ của cá tính, của bản ngã, như thể
ngòi bút của ông đã là nhân vật; rồi lại chính nhân
vật đã đưa ngòi bút đi để tạo nên những cuộc đời
chưa thành hình. Xóm Cầu Mới là tác phẩm dang dở,
hình như Nhất Linh mới viết được có một phần ba,
cũng là một tác phẩm chưa thành hình. Ngòi bút vừa
xây nên nhân vật vừa từ nhân vật đi ra, tự nhiên
như không phải tả gì cả. Có thể là Nhất Linh đã
tìm được nguồn cội của hành vi và cảm giác của mỗi
con người và có lẽ đó là sự thành công sâu sắc nhất
của Nhất Linh.

Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|