|

Cận
văn học là gì?
Gần đây, ở Việt Nam đã nảy sinh nhiều khái niệm
nhằm nhận diện văn học một cách chính xác như văn
học đích thực, văn học cán bộ, văn học cung đình,
văn học không tải, văn học xirô... Các khái niệm
này có thể là đúng trong một số trường hợp nào đó,
nhưng không có giá trị khái niệm hóa và giá trị
thao tác. Bởi vậy, có lẽ nên sử dụng một khái niệm
khác khái quát hơn: cận văn học. Khái niệm cận văn
học không chỉ có tác dụng đối với văn học, mà còn
nhiều gợi mở cho các lĩnh vực nghệ thuật khác.
Vào những năm 80, nhất là từ 86,
nền văn học nguyên khối và thuần nhất của ta bắt
đầu rạn nứt và phân mảnh. Một tiến sĩ giáo dục học
đã đặt lại vấn đề tận gốc. Văn là gì? Và ông tự
trả lời câu hỏi bản thể luận này là văn là... văn!
Nhiều nhà lý luận đổi mới đã gọi một bộ phận nào
đó là văn học đích thực, và những bộ phận khác là
văn học cán bộ, cung đình, xi rô, minh họa… Cộng
thêm vào đó, xuất hiện những thành phần văn học
mới, góp mặt vào thị trường sách được nhận diện
bằng những định ngữ như văn học không tải, văn học
chống tiêu cực, văn học vụ án, văn chương thương
mại… Trước khi nói đó là chuyện đáng lo hay đáng
mừng, chúng ta tạm thống nhất với nhau rằng sự đa
dạng hóa sản phẩm này thể hiện sự đa dạng hóa nhu
cầu-thị hiếu đọc, phản ánh sự bình thường trong
một xã hội đang được công dân hóa.
Văn học Việt Nam, trước năm 1945
cũng có hiện tượng tương tự. Bấy giờ, bên cạnh tiểu
thuyết Thạch Lam, Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Tuân,
Vũ Trọng Phụng, Nam Cao… như là một thứ văn học
đích thực, còn có truyện đường rừng của Lan Khai,
Tchya, truyện trinh thám Phạm Cao Củng, tiểu thuyết
người hùng của Lê Văn Trương, tiểu thuyết ba xu…
Nhìn ra thế giới cũng vậy, ngoài bộ phận văn học
của Hugo, Balzak, Stendhal, Flaubert… người ta thấy
có truyện khoa học viễn tưởng của Verne, truyện
trinh thám Simenon, tiểu thuyết série noire, tiểu
thuyết feulleton, tủ sách hồng…
Trước đây, người ta cũng đã gọi
loại văn học này bằng nhiều tên gọi khác nhau, nhưng
gần đây nó được gọi là cận văn học (paralitérature).
Danh xưng cận văn học ngoài việc chỉ ra đúng bản
chất của loại văn học này, còn có ưu điểm là có
tính chất trung tính của một thuật ngữ khoa học,
gạt bỏ được những sắc thái biểu cảm và phiến diện
của những định ngữ trước đây như văn học đại chúng,
phản văn học, văn học xi rô… Đồng thời nó cũng nằm
trong một hệ thống thuật ngữ khoa học có tiền tố
cận (para, nghĩa là gần, sát, ở bên cạnh) như cận
văn bản (paratexte), cận tâm lý (parapsychologie)…
Phân loại như vậy, không phải là
để cho rằng cận văn học thấp kém hơn văn học đích
thực và yêu cầu loại bỏ bằng biện pháp hành chính.
Cận văn học có quyền tồn tại ngang bằng bởi vì nó
đáp ứng một nhu cầu nào đó (giải trí, thói chuộng
lạ, tò mò…) của người, hoặc đáp ứng thị hiếu của
một lớp người. Còn có nhu cầu thì còn có sự đáp
ứng nhu cầu, nhất là trong một xã hội kinh tế thị
trường phát triển.
Sự khác nhau của văn học và cận
văn học là ở mục đích viết của nó. Văn học trước
hết là một cuộc phiêu lưu tìm kiếm cái đẹp, sự thể
hiện một lý tưởng thẩm mỹ của người viết. Những
chức năng khác như giáo dục, nhận thức, giải trí…
chỉ thực hiện được cùng và qua cái thẩm mỹ. Vậy
chức năng thẩm mỹ là chủ đạo (dominante). Cận văn
học, ngược lại, lấy một trong những chức năng khác
làm chủ đạo (tuyên truyền, giáo dục, giải trí…).
Nhà văn J.P.Sartre đưa ra hai thuật ngữ nhà văn
(écrivain) và người dùng văn (écrivant), nghĩa là
coi văn như một phương tiện (thuyền, xe) để nhằm
mục đích khác. Về một cạnh khía nào đó mà nói, tác
giả của cận văn học là người dùng văn. Từ đó, giữa
văn học và cận văn học có một sự khác nhau ở cách
viết (écriture).
Nhưng giữa văn học và cận văn học,
trong nhiều trường hợp, không có một biên giới rõ
ràng. Thực tế sự vận động của văn học đã chứng tỏ
đường biên này luôn luôn thay đổi, chùng dãn trong
sự lấn lướt của mỗi bên. Một tác phẩm mỹ văn được
nhiều người đọc thì cũng trở thành một best-seller.
Ngược lại, một cuốn sách viết nhằm mục đích khác,
nhưng viết văn hay, giàu hình tượng, có những suy
tư sâu sắc về số phận người thì cũng được coi là
tác phẩm văn học. Nhà triết học Pháp Bergson đã
được nhận giải thưởng Nobel về văn chương cho những
tác phẩm triết của ông. Cuốn Nhiệt đới buồn của
nhà dân tộc học Pháp Lévi-Strauss được xếp vào danh
sách 10 tác phẩm văn học gửi vào thế kỷ XXI. Một
số trang viết của Từ Chi cũng có thể coi là hiện
tượng tương tự…
Nhưng điều đáng lưu ý hơn là sự
qua lại, thẩm thấu, tiếp nhận lẫn nhau có tính chất
nội tại của bản thân văn học và cận văn học. Có
nhiều yếu tố của cận văn học như thể loại, đề tài,
thủ pháp đã được văn học tiếp nhận và trở thành
của nó. Tiểu thuyết khi mới ra đời bị coi rẻ nay
thành thể loại mạnh của văn học. Hiện nay, người
ta đoán rằng essai sẽ trở thành một thể loại văn
học chính thức trong thế kỷ của chúng ta. Nếu đọc
Đôxtôiepxki, bạn sẽ thấy ông sử dụng rất nhiều các
thủ pháp của truyện trinh thám, truyện vụ án. Nhiều
loại người thuộc tầng lớp hạ lưu trước đây chỉ là
đối tượng của cận văn học nay đã đi vào mỹ văn…
Có thể nói cận văn học là một sự tiếp máu cho văn
học đích thực, giống nhưãn nữ nông dân Nga thời
Sa hoàng làm khoẻ mạnh lại nòi giống quý tộc bằng
những cuộc tình trái thói.
Sự xâm nhập của cận văn học vào
mỹ văn càng trở nên mạnh mẽ trong những thập niên
cuối thế kỷ XX. Khi loài người đi vào nền văn minh
hậu công nghiệp (văn minh tin học, văn minh trí
tuệ), thì văn hóa và văn học đi từ chủ nghĩa hiện
đại đến chủ nghĩa hậu hiện đại. Đặc điểm nổi bật
nhất của hậu hiện đại là dân chủ (dân chủ tham gia,
chứ không phải là dân chủ đại diện). Sự phát triển
của văn học thế giới gần đây đã chứng tỏ mọi giá
trị đều được tôn trọng, coi ngang nhau. Trước đây,
mỗi xu hướng của văn học mới ra đời đều phải phủ
nhận các khuynh hướng trước nó. Văn học hậu hiện
đại không cần làm như thế nữa vì nó có khả năng
tiếp thu tất cả những yếu tố thích hợp của các dòng
văn chương trước nó. Bởi vậy, người ta thấy một
số những vấn đề trước đây thuộc ngoại vi nay đã
đi vào trung tâm như các nền văn hóa ngoài châu
Âu, vai trò phụ nữ, những nhân vật thuộc tầng lớp
hạ lưu, ngôn ngữ dân dã, thô tục…
Trong bối cảnh văn hóa hậu hiện
đại có thể có người ngộ nhận rằng cận văn học sẽ
trở thành văn học, hay cận văn học sẽ trở thành
chủ đạo, hay ranh giới giữa cận văn học và văn học
bị xóa bỏ… Điều đó không thể xảy ra được vì giữa
văn học và cận văn học, dù giao thoa đến đâu, vẫn
khác nhau về nguyên tắc.
VHNT

Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|