| 
Ngậm Ngãi Tìm Trầm
Hôm
ấy chúng tôi vào phía rừng Kim Vân gần chân núi
Trời để đo mấy khoảnh ruộng tranh mới vỡ. Ðường
đi gồ ghề và hóc hiểm lắm đoạn phải lội qua suối
nước lên quá lưng quần.
Chúng tôi đi một dây dài cho có vẻ nhiều và mạnh.
Thật ra đường cũng hẹp, không thể đi hàng hai được.
Ði trước là người mang hòm máy rồi đến người xách
mấy mo cơm nắm và thức ăn. Tôi đi giữa, phía sau
tôi là hai người cầm "ra lông" và "mia".
Tôi chỉ cầm bản đồ để dò đường nên phải đưa mắt
nhìn quanh mãi. Vào giữa trưa, chúng tôi đến đầu
địa phận làng Thanh Mỹ. Trời về tiết hạ nhưng may
cũng chưa nắng gắt. Có lẽ vì nhờ hơi đá bốc lên
cao và khói sương ủ xuống nặng. Trời tuy nắng nhưng
thời tiết có vẻ dễ chịu. Qua khỏi đồi thông, am
Sơn Thần, trước mắt chúng tôi hòn núi Truồi dựng
lên sừng sững, oai nghiêm như một vị linh thần.
Sườn núi từ trên cao chạy xuống từng đường trắng,
rồi tỏa rộng bốn bề trông như những ngọn thác lùa
đá ùn thành đồi.
Chúng tôi đang loay hoay tìm chỗ ngồi ăn trưa thì
may gặp một nền nhà cũ bỏ hoang khá bằng phẳng.
Chung quanh nền nhà có mấy thanh sắt dựng lên thật
cao. Bên tay trái có mấy sợi dây thép dằng qua lại
giữa hai cây sắt đã dỉ cùn đầu. Cây bìm bìm tha
hồ thả dây leo và đang kết thành một hàng rào lá
chạm lọng khá dày. Quái lạ, một hàng rào sắt bao
quanh một nền nhà đất sét! Thật là một chuyện lạ
ra ngoài tưởng tượng. Hay đây là bãi chiến trường
xưa...?
Tôi đang phân vân muốn biết chuyện hàng rào sắt
thì một bà lão thấy chúng tôi ngồi ăn, liền đến
đứng xem. Và cũng nhờ bà ta, chúng tôi mới biết
câu chuyện sau đây:
"Xóm Bình Lư hồi ấy có độ trên mười nóc nhà.
Xóm ấy thuộc về làng Thanh Mỹ thượng. Họ chuyên
nghề vào rừng đốn củi hay đi săn. Cách sinh kế của
lớp người này rất đơn giản. Rừng núi đã chu cấp
cho họ gần hết vật liệu họ cần dùng. Thiếu gạo đã
có ruộng rừng, họ ra công cày cấy lấy. Ðồ ăn phần
nhiều là thịt hươu nai ướp muối hay ép thật khô.
Thỉnh thoảng họ mới xuống chợ bán củi để mua ít
thức cần, phần nhiều là vải, muối hay diêm. Ðời
họ ở xa cách thành thị, có tiền nhiều họ cũng không
biết sắm thêm gì và không vượt ra khỏi cơm ngày
hai bữa. Hy vọng của họ cạn và gần, và nhờ thế rất
dễ được mãn nguyện. Trong xóm ấy có hai vợ chồng
bác Diệm nhà nghèo nhưng ở với làng nước rất thảo.
Bác gái là người làng Ngô Xá ở Quảng Trị. Lấy nhau
sáu năm bác gái sinh được một trai và một gái. Thấy
trong nhà nhiều miệng ăn, muốn cho vợ con được no
ấm, bác trai liền nghĩ cách vào núi tìm trầm. Nhưng
tìm trầm rất khó, không phải đôi ba ngày mà tìm
ra được. Có khi phải đi đến hàng tuần hàng tháng.
Rồi kết quả lắm lúc cũng chẳng ra gì. Ðó là chưa
nói phải vào tận trong núi xanh và vượt qua nhiều
cánh rừng nguy hiểm. Muốn tránh tai họa, người đi
tìm trầm phải ngậm ngải. Theo lắm người kể chuyện,
ngải là một thứ củ cây do người Mọi ở Trường Sơn
luyện rất công phu. Họ hấp củ cây ngải trong lò
mật ong một tháng, để giữa dòng suối chảy một trăm
ngày. Ðoạn phải đặt trong tay đủ năm người chết,
và đeo trước ngực năm bà già trong đời giữ vẹn tiết
trinh. Vẫn chưa hết. Xong phải nhét vào trong cái
giò heo để lừa cho hổ ăn. Nghĩa là nếu may thì ngải
sẽ nằm trong bụng hổ. Ðoạn phải bẫy cho được con
hổ ấy, rồi giết ngay và lấy ngải ra.
Ngải lúc ấy là một cái bùa thiêng có sức mạnh huyền
bí. Ai ngậm nó mà đi vào rừng thì không ăn không
uống cũng sống được. Và thú dữ dù đi sát bên cạnh
cũng không thấy mình được. Nhưng hạn trong ba tháng
mười ngày phải trở về nhà nhả ngải ra. Nếu không
thì người ấy sẽ mọc lông, trổ vuốt, thêm nanh và
hóa ra hổ thật.
Chuyện ngậm ngải tìm trầm, thổ dân ở các dải núi
miền Trung cho là rất thường. Cái mỉm cười ngờ vực
đối với câu chuyện họ nói về sức phi thường của
ngải sẽ quyến được cái quắc mắt giận dỗi hay cái
trề môi ngạo nghễ của họ ngay vì họ quá tin đến
dám xem thường tất cả người nào không chịu tin như
họ, nghĩa là không hiểu rõ sức uy hùng bí mật của
rừng thẳm núi cao.
Bác Diệm trai vào rừng đã gần ba tháng nhưng vẫn
chưa thấy ra. Bác gái ngày nào cũng nhìn vào núi
Truồi để chờ tin tức. Có lẽ chỉ lần này bác trai
mới vào rừng lâu nhất. Mấy lần trước bác chỉ đi
trong một vài tháng là nhiều. Bác gái ngày đêm lo
sợ nhưng cũng không biết làm sao được. Bác liền
đi hỏi thăm mấy nhà hàng xóm. Có người an ủi lấy
cớ bác Diệm rất thông minh, thế nào bác cũng nhớ
về nhà đúng kỳ hạn. Lắm người bông đùa một cách
quái ác, là nói bác đã vào tận Bình Ðịnh, Quy Nhơn,
rồi lấy vợ bé trong ấy rồi. Bác Diệm gái vẫn trông
mong chồng và đêm nào cũng ra phía sau nhà nhìn
về phía dãy Trường Sơn bát ngát. Nhưng dải núi thì
cao và hùng vĩ quá, không thể đem lại sự yên lành
trong tâm hồn chất phác của cô gái quê được.
Ba tháng mười ngày đã qua từ lâu. Bác Diệm gái
lại càng lo sợ hơn nữa. Ðêm nào bác cũng ra đứng
giữa sân thẫn thờ nhìn về dãy núi, rồi đến đêm khuya
bác với trở vào nhà ngồi khóc rấm rứt.
Ngày tháng cứ lặng lẽ trôi, rất nặng nề trong lòng
người mong đợi. Rồi giữa một đêm trăng mờ cuối thu,
Bác Diệm gái bỗng nghe tiếng rú xa xa, đứt quãng
rồi kéo dài rất ảo não. Bác Diệm tung chiếu chạy
ra sau nhà, tim đập mạnh và tay chân run lập cập.
Phía xa trên một đồi nhỏ, lọt trong rặng thông
lơ thơ, một bóng người đang nhìn về xóm Bình Lư
đã từ lâu im lìm trong đêm vắng. Tuy chưa nhận rõ
là ai, linh tính đã báo cho bác biết đó là chồng
bác, bác Diệm trai. Rồi không suy tính, bác đâm
đầu chạy ra, lòng mừng khấp khởi. Nhưng mới chạy
được một quãng ngắn, bác đã lạnh người đứng dừng
lại. Một tiếng rú nghe lạnh và uất như một người
câm cố thét lên để nói được tiếng của loài người.
Tuy sợ nhưng lòng bác Diệm gái thương chồng mạnh
hơn. Bác gắng sức chạy đến chân đồi, cái bóng đen
liền chờn vờn đi lại phía bác, hai tay thả lỏng,
đầu gật gù lưng cúi lom khom. ánh trăng thu giây
bụi vàng nhạt trên mớ tóc dài đen nháy của con người
kỳ dị lại làm bác gái giật mình, muốn đứng lại ngay.
Giữa lúc ấy bác nhận thấy một manh áo nâu đã rách
tươm còn vướng trên cổ người ấy... Thôi rồi! Chồng
bác đã gần hóa hổ, bác run sợ và bồi hồi... Nhưng
bác cũng cố đứng nhìn và đợi. Cái bóng đen vừa tiến
đến vừa rên hừ hừ, như bị ngạt trong cổ. Lúc thoáng
thấy cặp mắt chồng đã tròn xoe và hoe sáng như lửa,
cằm đã mọc râu dài và thưa, bác Diệm gái liền đi
thụt lùi rất gấp. Nhưng bác vấp phải một cành cây
nằm ngang ở phía sau. Bác thét lên một tiếng rồi
ngã nhào, chết ngất.
Sáng hôm sau, lúc bừng mắt tỉnh dậy, bác Diệm gái
thấy mình đang nằm trên giường nhà. Hỏi mấy người
đến thăm, bác mới biết tiếng rú đêm qua, dân xóm
đều nghe rõ ràng cả. Họ cũng lần ra phía đồi để
xem thì gặp lúc bác nằm chết ngất trên cành cây
khô. Mấy người khiêng bác về nhà. Còn những người
bạo dạn thì lấy roi hèo đánh đuổi con người quái
lạ kia đi. Nghe đến đấy bác Diệm gái mở lớn đôi
mắt, băn khoăn hỏi:
- Dân xóm có đánh người ấy à?
Một ông lão đáp:
- Không, chỉ doạ thôi. Thật ra cũng không ai dám
đến gần hắn.
Bác gái nói thầm như để một mình nghe:
- Chồng tôi đó!
Nói xong bác ứa nước mắt thở dài một cách ngao
ngán.
Luôn mấy đêm sau, bác Diệm gái ra sau nhà đứng
nhìn về phía mấy ngọn đồi nhưng tuyệt nhiên không
thấy bóng chồng đâu nữa. Bác lại trở vào nhà âm
thầm nằm đợi nghe tiếng rú.
Qua tháng sau, một buổi chiều, bác xuống chợ Truồi
mua gạo thì bác trai mon men vào nhà. Bác đem theo
một buồng chuối hoang và mấy trái cam dại. Hai đứa
con mới nhận thấy bác đã khóc vang lên. Bác lo sợ
cúi gầm đầu xuống và đưa cam chuối cho chúng ăn.
Chúng thấy người ấy không làm gì hại và còn cho
ăn tử tế thì ngồi yên lặng ngay.
Bác Diệm trai muốn vuốt ve con, nhưng tay bác sờ
đến đâu, áo quần của hai đứa nhỏ rách toang đến
đấy. Thì ra móng tay bác đã sắc và nhọn lắm rồi.
Thừa lúc đứa con trai quay mặt nhìn ra sân bác
Diệm liền thè lưỡi liếm đầu nó. Bác muốn tỏ vẻ yêu
mến con, lòng bác còn là lòng người, nhưng chao
ôi, cử chỉ của bác đã nhuộm đầy vẻ thú. Lưỡi bác
đã rám và sắc hơn dao rồi. Chỉ đưa đi đưa lại mấy
cái, tóc đứa con đã rụng tua tủa. Hai đứa con sợ
quá, liền bỏ chạy ra sân la lớn. Cũng ngay lúc ấy
bác Diệm gái đi chợ về. Thấy chồng lông đầy người
và mầu lông đã hơi vàng, hai tay trước thòng gần
chấm đất và nanh trắng nhe ra ngoài môi, bác Diệm
gái cũng hoảng hốt la tiếp.
Nghe tiếng ồn ào, dân quanh xóm liền chạy đến và
đuổi con vật nửa người nửa thú chạy bán sống bán
chết vào rừng. Muốn che chở người cô quả, dân xóm
Bình Lư xuống xin mấy người làm đường xe lửa ở gần
ga Truồi một chục thanh sắt và mấy sải dây thép
về làm một cái hàng rào vây quanh nhà bác Diệm gái.
Từ đó bác Diệm trai không dám bén chân về nhà nữa.
Nhưng qua mùa xuân sau, cũng một đêm trăng mờ như
bảy tháng trước, bác Diệm gái lại nghe tiếng rú
kinh hồn trên đồi thông vắng. Bác liền vội vã chạy
ra sau nhà. Trong bầu ánh sáng nhạt, nhuộm sương
khuya, bác Diệm thấy một bóng người - không, một
con vật thì đúng hơn - chụm mạnh bốn chân xuống
đất, ngẩng đầu lên cao, đang đăm đăm nhìn về phía
bác. Thôi thế là hết! Chồng bác đã hoàn toàn hóa
hổ... Bác ôm mặt khóc rất thê thảm. Con hổ cũng
rú lên một hơi dài như để đáp lại tiếng lòng của
vợ. Tiếng rú nghe lạnh và buồn.
Ðoạn con vật quay mình lẳng lặng đi vào phía núi
Truồi, rồi biến dần trong ánh trăng xanh nhạt.
Dãy núi Truồi từ đó đã như một bức thành kiên cố
chia đôi tình nhân loại với cảnh huyền bí của sơn
lâm.

Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|