| 
Quê
mẹ
"Thuyền
theo lái..." xưa, khi Thanh Tịnh viết truyện
ngắn này, đến nay vẫn là điều tâm niệm của phụ nữ
Việt Nam. Nhưng người con gái lấy chồng xa lúc nào
cũng canh cánh nhớ về quê mẹ. Sung sướng nhất là
lúc được trở về bên mẹ. Người con gái muốn dành
cho mẹ và các em tất cả tình cảm và sự nhớ thương
dồn nén của mình. Để rồi trở về nhà chồng, nhớ mẹ
và các em, lòng lại bùi ngùi khôn xiết...
Chiều
chiều ra đứng cửa sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều
(Ca dao)
Cô Thảo ra lấy chồng đã ba năm.
Anh Vận chồng cô hiện làm Hương - thơ ở làng Mỹ-Lý.
Anh Vận trước kia có theo học chữ quốc ngữ, nhưng
đã hai năm thi Yếu-lược không đậu nên anh ta lại
thôi. Qua năm sau dân trong xóm bầu anh ta lên làm
hương thơ trong làng. Ngày nào anh ta cũng đi nhà
này qua nhà khác phát thư, rồi chiều đến lại phải
ra tận đình để lấy hòm thư đem lên huyện.
Công việc của anh tuy vất vả, nhưng
lương tháng - hay nói cho đúng lương năm - của anh
trông ít quá. Làng chỉ trích cho anh ta ba mẫu ruộng
và năm đồng bạc làm tiền lộ phí. Nhưng năm đồng
ấy thì không bao giờ anh nhận được. Vì các viên
chức đã khéo léo trừ với món tiền phải đóng sưu
này thuế khác gần hết.
Nhưng ở vùng quê, được một chức
nghiệp như thế, anh Vận cũng cho là danh giá lắm.
Và bà Lại, mẹ anh Vận, lúc nói chuyện với những
người quen, cũng không quên tự hào được một người
con ra đảm đương việc làng việc nước.
Cô Thảo ra lấy chồng vốn liếng không
có nên không đi buôn bán gì hết. Cả nhà chỉ trông
vào sáu mẫu ruộng tranh và ba mẫu ruộng làng để
sống năm này tháng khác.
Chiều hôm ấy lúc thoáng thấy bóng
chồng đi về đến cổng, cô Thảo liền vội vàng ẵm con
ra sân để đón. Thấy anh Vận ra dáng mệt nhọc nên
cô ta chưa dám hỏi gì hết. Vào tới sân, anh Vận
liền đến ngồi trên cái chõng. Cô Thảo để con ngồi
một bên chồng rồi đột ngột chỉ cây thanh-trà bên
bờ hè nói khẽ:
- Cây thanh-trà mới đấy mà đã có
trái rồi cậu ạ.
Anh Vận để con ngồi trên chân, rồi
cúi đầu xuống nhìn mặt con dịu lời đáp:
- Thế à, cây thanh-trà ấy trông
dáng khô khan không ngờ lại giống tốt.
Cô Thảo ghé ngồi một bên chồng nói
tiếp:
- Cây thanh-trà ấy tôi đem từ bên
nhà qua đây. Mới hai năm đã có trái ăn được kể cũng
nhanh thật.
Anh Vận như sực nhớ một việc gì,
nhìn vợ hỏi vội:
- Tôi nhớ ra rồi. Hôm ấy là ngày
giỗ ông bên mợ. Mợ về làng ăn giỗ rồi đem cây thanh-trà
ấy qua cho tôi. Tôi cũng quên lúc ấy mợ đã có thằng
Lụn chưa?
- Rồi, nhưng nó mới được ba tháng.
- Mà tôi quên giỗ ông nhằm ngày
mấy?
Cô Thảo nhìn chồng mỉm cười:
- Được vài ông rể quý như cậu thì
ngày giỗ của nhà tôi cũng không khỏi hương tàn bàn
lạnh. Giỗ ông nhằm một ngày dễ nhớ nhất mà cậu cũng
quên.
Anh Vận như nhớ lại được, gật đầu
lia lịa:
- Thôi tôi nhớ được rồi. Giỗ ông
vào tiết Trung-thu phải không mợ?
- Không phải, ngày rằm tháng tám.
Anh Vận lớn tiếng cười vang làm
cho thằng Lụn cũng phải ngẩng mặt lên nhìn ngơ ngác.
- Rõ ngớ ngẩn như đàn bà. Tiết Trung-thu
hay rằm tháng tám có khác gì nhau. Có khác là người
hay chữ họ thường gọi tiết Trung-thu, còn người
... ít hay chữ thì gọi rằm tháng tám...
Cô Thảo nhìn chồng cười mỉm:
- Người hay chữ với lại người ít
hay chữ! Thì cậu cứ nói người dốt với người thông
có được không.
Thật ra thì anh Vận cũng có ý nói
người hay chữ với người dốt, nhưng lại sợ làm mếch
lòng vợ.
Anh Vận nhìn ra trước cổng yên lặng.
Thằng Lụn cũng muốn tụt xuống đất đùa với đàn gà
con đang đi qua gần đấy. Cô Thảo vào nhà thắp đèn
rồi lại trở ra ngồi chỗ cũ. Mảnh trăng trong lúc
ấy đã bắt đầu giọi ánh sáng dìu dịu qua hàng tre
trước cổng.
Trông thấy ánh trăng anh Vận quay
lại hỏi vợ:
- Hôm nay là mấy rồi mà trăng sáng
quá?
- Ngày mười ba.
Anh Vận thả hai chân xuống chõng
nhìn vợ ngơ ngác:
- Thế ngày mốt là ngày giỗ ông rồi
à? Và ngày mai là ngày mợ phải về làng.
Cô Thảo cúi đầu nhìn xuống đất đáp
khẽ.
- Phải.
Anh Vận đưa tay lên gãi đầu:
- Thật tôi vô tình quá. Ngày kỵ
đã gần đến mà cũng quên.
Cô Thảo ngồi yên lặng không đáp.
Thật ra tối hôm ấy cô muốn xin chồng về làng giỗ
ông, nhưng cô không muốn nói thẳng. Cô tự nghĩ nhắc
chồng ngày giỗ ở nhà mình là một việc chướng lắm.
Thật tự nhiên để cho chồng nhớ lại thì tốt hơn.
Nhưng mãi đến chiều cũng không nghe chồng nói gì,
nên cô phải mượn đến chuyện cây thanh-trà để nhắc
xa xôi cho chồng nhớ.
Tối hôm ấy, cơm nước xong xuôi,
anh Vận liền đến xin mẹ cho vợ về làng ăn giỗ.
Bà Lại nhìn cô Thảo đang ẵm con
đứng tựa bên cột bảo khẽ:
- ừ về thì về. Nhưng bên nhà ngày
mai giỗ ai mà tôi cũng quên phắt đi rồi.
- Thưa mẹ, giỗ ông con.
- Thế à.
Nghĩ một lát bà ta nói tiếp:
- Mai mợ chắc phải về làng sớm.
Lúc ấy có lẽ tôi cũng chưa dậy. Vậy tối nay mợ ra
ngoài vườn cắt một buồng chuối mật - buồng chuối
gần bên cái giếng ấy - để về giỗ ông. Năm nay tôi
bận việc nhà quá, chắc qua không được. Thôi nhờ
trời năm khác.
Nói xong bà Lại lách bàn tay vào
túi yếm lấy ra một hào xu rồi đưa cho cô Thảo.
- Thôi cho mợ một hào để đi đò.
Và nhớ chớ để em nhìn xuống mặt nước.
Cô Thảo vội vàng đỡ con xuống, đưa
hai tay nhận tiền tỏ ra vẻ sung sướng lắm.
Trước khi đi ngủ anh Vận cũng chạy
quanh xóm mượn chỗ này chỗ khác cho cô Thảo thêm
bốn hào nữa.
Tối hôm ấy cô Thảo không đi ngủ
sớm. Cô đặt con ngủ yên bên chồng xong lại lật đật
xách dao ra sau vườn chuối. Loay hoay một lúc lâu
cô mới đem được buồng chuối mật vào nhà. Cô đem
để vào một góc thật kín vì cô sợ nửa đêm chuột đến
khới. Xong rồi cô mới qua bên nhà cô Thị mượn đôi
hoa tai vàng và cái nón lá mới. Sắp đặt đâu đó xong
xuôi cô mới lên giường nằm ngủ.
Trời tờ mờ sáng cô Thảo đã trở dậy
sắm sửa đi về làng. Làng cô ở cách xa làng Mỹ-Lý
hơn mười lăm cây số. Vì vậy nên mỗi năm cô chỉ được
về làng chừng hai ba lượt là nhiều. Xưa kia cô từng
qua lại làng Mỹ-Lý ngày một để bán gạo, nhưng sau
lúc cô ra lấy chồng thì quê nhà đối với cô đã là
nơi xa lạ.
Qua những con đường mòn chạy nắp
theo bờ ruộng, cô lại nhớ đến quãng đời bán gạo
của cô ngày trước. Trong trí cô hiện ra lần lần
hình ảnh của cô Thu, cô Nguyệt, cô Hương, những
cô bạn mà trước kia cô cho là thân nhất.
Nhưng đời các cô ấy cũng như cô,
nghĩa là cũng có chồng, có con và quãng đời làm
dâu cũng vất vả, cũng phẳng bằng như nhau hết.
Đi chưa được bốn cây số cô Thảo
đã thấy mỏi. Cô tự nhận thấy sức cô yếu hơn trước
nhiều lắm. Cô muốn đi đò cho đỡ chân, nhưng sực
nhớ đến những món quà cần phải cho em, cô lại gắng
gượng đi nhanh hơn trước.
Qua khỏi đầu làng Duyên-Hải thì
cô Thảo gặp cô Đài, người bạn cùng làng thường chơi
với cô ngày trước. Cô Thảo nhờ cô bạn gánh hộ buồng
chuối mật và mấy gói bánh mua bên chơ. Kỳ-Lâm. Cô
Đài vui vẻ nhận lời ngay. Vào quán nước ở gần đấy
nghỉ một chốc, hai cô lại cùng nhau lên đường chuyện
trò không ngớt.
Về đến làng cô Thảo gặp ai cũng
đón chào niềm nở. Lòng cô lúc ấy nhẹ nhàng và vui
sướng lắm. Còn họ gặp cô đi đằng xa đã kêu réo om
sòm như gặp được người sống lại. Họ hỏi thăm cô
chuyện này chuyện khác, mục đích là để xem cô ăn
mặc độ này có khá hơn trước không. Cô Thảo thấy
người làng chào hỏi mình vồn vã nên đáp lại rất
vui vẻ. Cô ta không quên lấy cái nón xuống, giả
vờ quạt vào mình để mấy người đứng chung quanh được
thấy đôi hoa tay vàng của cô.
Đến trưa hôm ấy thì cô về đến nhà.
Mấy cậu em đua nhau ra níu áo chị. Cô Thảo xoa đầu
đứa này đỡ cằm đứa khác, nụ cười trên môi cô không
khi nào tắt. Trông thấy mẹ trong nhà đi ra cô mừng
quá. Cô chạy lại đứng bên mẹ cảm động quá đến rưng
rưng nước mắt. Một lúc sau cô đưa thằng Lụn cho
mẹ ẵm rồi đi thẳng vào nhà để chào những người quen
biết.
Bà Vạn cứ quấn quít bên cháu, bên
con quên cả ngày giờ. Bà giới thiệu cô Thảo với
người này người khác, bà nhắc đến chuyện cô Thảo
lúc cô còn năm sáu tuổi. Bà kể đến đoạn nào bà cũng
có ý khoe cô Thảo đức hạnh và khôn ngoan đủ thứ.
Bà nói mãi mà không biết chung quanh bà không ai
nghe bà hết.
Sung sướng nhất là cô con gái có
chồng về nhà mẹ. Cô Thảo tuy về giỗ ông nhưng không
làm gì hết. Cô vào phòng mẹ nằm ngủ cả buổi chiều,
mãi đến lúc gần cúng cô mới chịu đi ra ngoài.
Lúc cô đứng lễ thì ông Vạn, thân
sinh cô, vuốt râu cười nói:
- Con phải lễ thế phần chồng con
nữa. Nó làm gì bên ấy mà không qua.
Cô Thảo sau khi thụt lùi ra khỏi
chiếu, mới khẽ đáp:
- Dạ, nhà con mắc việc quan.
Cô Khuê, chị em chú bác với cô Thảo,
đứng gần đấy trề môi nói tiếp:
- Thứ đồ làm Hương-thơ mỗi năm ăn
ba mẫu ruộng mà cũng gọi là việc quan.
Ai nấy đều nghe thấy nhưng không
ai cãi lại. Ông Vạn đứng cúi đầu xuống hơi ngượng.
Còn cô Thảo gương mặt đỏ bừng, quay đầu nhìn xuống
bếp. Nhưng ngay lúc ấy cô lại gặp cặp mắt của mẹ
đang nhìn cô chòng chọc. Cô đau lòng quá đến để
hai dòng lệ chảy dài trên má.
Sáng hôm sau, cúng cơm sáng xong
xuôi, cô Thảo lại sắm sửa đi qua làng Mỹ-Lý. Cô
gọi mấy đứa em đến gần rồi cho mỗi đứa năm xu. Trong
nhà ai cũng khen cô rộng rãi và biết thương em,
nên cô vui sướng lắm. Đang lúc cao hứng cô còn hứa
sẽ gửi cho mẹ hai cặp quần áo mới để mặc Tết nữa.
Nhưng chính cô cũng không biết sẽ lấy đâu ra hai
cặp quần áo ấy. Chỉ trong nháy mắt cô Thảo đã phân
phát tất cả số tiền cô đã dành dụm trong một năm.
Lúc sắp sửa lên đường, bà Vạn cho
cô nửa con gà và một gói xôi để về nhà chồng. Lúc
ra đi cô cảm động quá, đứng bên mẹ và mấy em khóc
nức nở.
Về nhà chồng, cô Thảo lại làm việc
từ mai đến chiều, tối tăm cả mày mặt. Lúc nào cô
cũng nhớ đến mẹ nghèo, đến em thơ, nhưng nhớ thì
lòng cô lại bùi ngùi, trí cô lại bận rộn.
Rồi chiều chiều gặp những lúc nhàn
rỗi, cô lại ra đứng cửa sau vơ vẩn nhìn về làng
Quận-Lão. Nhưng làng Quận-Lão ẩn sau đám tre xanh
đã kéo một gạch đen dài trên ven đồi xa thẳm.
Thanh
Tịnh

Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|