| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

MỘT
SỐ SÁNG TÁC CỦA THANH TỊNH

Quê
mẹ
Am cu ly xe
Ngậm Ngãi Tìm Trầm
Tôi Đi Học-Thanh Tịnh
THƠ THANH TỊNH
Thanh
Tịnh: Để lại mùa sau
Thanh
Tịnh và các bạn văn ở Việt Bắc.
Ông tên thật là Trần Văn Ninh, sau đổi là Trần Thanh
Tịnh, sinh ngày 1/12/1911 tại thành phố Huế, từng
được gia đình gửi vào nhà chùa rồi theo học Trường
Đông Ba, Trường Penlơranh (trường dòng), sau đó
làm nghề dạy học, đo đạc ruộng đất, hướng dẫn viên
du lịch, viết báo, làm thơ.
Sau
1945 ông tham gia kháng chiến, , làm báo, viết văn
trên chiến khu Việt Bắc, rồi về tiếp quản thủ đô
(1954), tham gia ban biên tập đầu tiên của tạp chí
Văn nghệ quân đội, làm chủ nhiệm (Tổng biên tập)
cho đến lúc nghỉ hưu. Ông là Tổng biên tập một tạp
chí văn chương có uy tín của quân đội trong nhiều
năm mà còn là một nhà thơ tiền chiến tham gia Ban
Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam và Ủy ban toàn quốc
các Hội liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam
trong nhiều năm. Ông mất ngày 17/7/1988 tại Hà Nội.
Tác
phẩm của Thanh Tịnh để lại không thật đồ sộ, nhưng
ông được người đời gọi là nhà văn, nhà báo, nhà
giáo, nhà thơ (ông nói chưa đủ, ông là nhà văn,
nhà báo, nhà giáo... nhà nghèo). Là nhà văn bởi
ông có các tập truyện ngắn “Ngậm ngải tìm trầm”
(1943) và trước đó là tập “Quê mẹ” (1941) với lời
tựa của Thạch Lam: “Thanh Tịnh có lẽ là nhà văn
đầu tiên ở miền Trung đã trình bày các mối dây liên
lạc nhẹ như tơ hồng ngày thu, nhưng không vì thế
mà kém phần vương vấn, quyến luyến. Thanh Tịnh muốn
làm người mục đồng ngồi dưới bóng tre thổi sáo để
ca hát những đám mây và làn gió lướt bay trên đồng,
ca hát về vẻ đẹp của đời thôn quê”.
Là nhà thơ, bởi ngay từ năm 1937, lúc 26 tuổi ông
đã cho in tập thơ “Hận chiến trường” nổi tiếng và
đến năm 1942 được ghi danh trong “Thi nhân Việt
Nam” của Hoài Thanh - Hoài Chân với những thi phẩm
nổi tiếng như “Mòn mỏi”, “Tơ trời và tơ lòng”, “Rồi
một hôm”... Trước đó, năm 1936 ông đã đoạt giải
nhất về thơ do tờ Hà Nội báo tổ chức. Ông còn để
lại cho đời rất nhiều câu ca dao bất hủ như: “Nhà
tan cửa nát cũng ừ/ Quyết tâm thắng Mỹ cực chừ sướng
sau”, “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn
lần dân liệu cũng xong”, “Hà Nội, Huế, Sài Gòn/
Là cây một gốc, là con một nhà”...
Thanh
Tịnh là nhà văn, nhà thơ đặc sắc, bởi truyện ngắn
hay nào của ông cũng đậm chất thơ và bài thơ nào
hay của ông cũng có cốt truyện.
Không
chỉ là nhà văn, nhà thơ đặc sắc, Thanh Tịnh còn
là nhà báo, viết báo và làm báo đều giỏi, là “ông
vua”, là cha đẻ của thể loại tấu nói - một loại
hình văn nghệ quần chúng được truyền bá rộng rãi
trong suốt những năm chiến tranh chống Pháp và chống
Mỹ cứu nước. Chưa hết, ông còn là một hướng dẫn
viên du lịch tài ba, là người chơi đồ cổ và giả
cổ sành điệu của đất Hà thành nửa cuối thế kỷ XX.
Và
nói đến Thanh Tịnh, người Hà Nội không thể không
nhớ về một thi nhân với dáng hạc cao gầy, mái tóc
trắng phơ độc hành trên những con phố cổ, dưới chân
(đôi giày Côxưghin muôn thuở của ông) rụng vàng
lá sấu, lá me Hà Nội, không thể không nhớ tới cả
trăm ngàn giai thoại quanh ông. Ấy là những câu
chuyện kể của ông và những câu chuyện kể về ông.
Rất ngắn nhưng đầy chất hài hước và thật nhiều kịch
tính.
Trước
lúc đi xa, trên giường bệnh, Thanh Tịnh nói ông
rất thích câu thơ “Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân”
và bình rằng câu ấy vận vào đời ông rất hợp. Tôi
hiểu lắm, nhưng cứ nghĩ đời ông không chỉ toàn có
gió lạnh và đường xa mà còn có cả những trận gió
ấm và những chặng đường hoa. Ấy là những năm tháng
ông rong ruổi cùng bộ đội đi khắp các chiến dịch
từ Bắc qua Nam. Ấy là những ngày ông miệt mài cùng
anh em văn nghệ sĩ - chiến sĩ ở nhà số 4, phố nhà
binh làm tờ Văn nghệ quân đội.
Bây
giờ thì tác giả “Quê mẹ” đã trở về quê mẹ và yên
nghỉ vĩnh hằng nơi Huế thơ mộng với ngàn thông,
với sông Hương, núi Ngự thân yêu. Nhưng văn nghiệp
của ông thì mãi còn ở đời, dẫu rằng đó chỉ là một
chữ.
Sinh
thời, Thanh Tịnh từng ao ước: “Ước gì để lại mùa
sau/ Một câu một chữ đượm màu dân gian”. Bên cạnh
những “Quê mẹ”, “Tôi đi học”, “Ngậm ngải tìm trầm”,
“Mòn mỏi”, “Rồi một hôm”, “Nhớ Huế quê tôi”... Thanh
Tịnh còn để lại nhiều di ảnh độc đáo ghi lại những
chặng đường chiến đấu, đọc, đi, viết và hoạt động
văn hóa của ông
Ngô
Vĩnh Bình

|