| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

MỘT
SỐ SÁNG TÁC CỦA THANH TỊNH

Quê
mẹ
Am cu ly xe
Ngậm Ngãi Tìm Trầm
Tôi Đi Học-Thanh Tịnh
THƠ THANH TỊNH
Thanh
Tịnh: Để lại mùa sau
Thanh
Tịnh (1911-1988)
Thanh
Tịnh (1911-1988) tên khai sinh là Trần Văn Ninh,
sau đổi là Trần Thanh Tịnh, sinh tại Huế, học trường
dòng Penlơranh (Pellerin), từng làm hướng dẫn viên
du lịch, đạc điền, dạy học, có thơ đăng báo từ những
năm 30. Sau cách mạng tháng Tám 1945, là tổng thư
ký Hội Văn hóa cứu quốc Trung Bộ, Thanh Tịnh vừa
làm thơ vừa viết văn. Trước cách mạng ông nổi tiếng
với tập truyện ngắn Quê mẹ (1941). Sau cách mạng,
ông làm nhiều thơ, kể cả truyện thơ, ca dao, tấu.
Trong
kháng chiến chống Pháp, bằng những thể thơ dân gian
đó, ông trực tiếp tham gia biểu diễn, đưa thơ ca
đến với những bà con nghèo chưa biết chữ, . Văn
Thanh Tịnh là thứ văn gợi cảm, truyện của ông là
truyện tình cảm, phảng phất một khí vị xa xưa. Thơ
ông cũng trong nền tình cảm ấy. Truyện thì nhiều
chất thơ và thơ thường cũng mang cốt truyện. Trước
1945, người đọc nhắc nhiều tới bài Mòn mỏi, bài
thơ phỏng theo câu chuyện cổ Yêu râu xanh của Châu
Âu. Kể chuyện, nhưng chi tiết thoáng và gợi cảm,
chi tiết đủ để diễn đạt tâm trạng, một tâm trạng
đợi chờ mòn mỏi đến tuyệt vọng. Bài thơ là một cuộc
đối thoại bằng hai thể thơ thất ngôn và lục bát.
Thất ngôn hỏi, bình tĩnh, hy vọng. Lục bát đáp,
thảng thốt, đau buồn và tuyết vọng. Từ Chị ơi, em
thấy một cây liễu buồn, rồi Chị ơi, con sáo lạc
bầy sang sông và cuối cùng Ngựa hồng đã đến bên
hiên/ Chị ơi, trên ngựa chiếc yên... vắng người.
Bài thơ Rồi một hôm cũng là câu chuyện kể bằng đối
thoại, cùng bút pháp với Mòn mỏi. Thanh Tịnh ưa
một lối viết quen thuộc và cũng ưa một dạng cảm
xúc xa vắng hiu hắt. Thơ trước cách mạng của ông
chảy êm trong một giọng buồn. Buồn trong tình, trong
cảnh, trong âm điệu. Người viết để ngòi bút chuồi
theo cảm xúc buồn thương. Người đọc có cảm tưởng
ông không bận tâm lắm đến những tìm tòi hình thức.
Hoài Thanh năm 1941 có nhận xét: Xem thơ Thanh Tịnh
cái cảm giác trỗi nhất của tôi là thấy một cái gì
cứ dàn trải, dàn trải hoài mà lại lỏng (Thi nhân
Việt Nam) có lẽ là do vậy chăng?
Cũng
như nhiều thi sĩ lãng mạn cùng thời, Thanh Tịnh
chuyển sang bút pháp hiện thực, lấy cuộc sống công
nông binh, qua các thành tích sản xuất tăng gia
và đánh giặc, làm đề tài. Thanh Tịnh như bắt đầu
lại từ đầu, ông hăm hở làm người tuyên truyền, phổ
biến tin tức bằng thơ ca hò vè, bằng các buổi độc
tấu. Một cuộc dấn thân quả cảm của nghệ sĩ. Ông
viết trong hồi ký: "Thế là tôi cùng 32 người
hát xẩm hay người há trong, hay là nghệ sĩ dân gian,
gồm đủ trai gái già trẻ, phần lớn hỏng mắt, bước
chân chậm chạp, nhưng đã dò dẫm cẩn thận, nên rất
chắc chắn, .. Một nét nổi bật của đoàn chúng tôi
là người nghe không phải đi đến người hát, mà chính
người hát đã tìm đến người nghe đang có mặt ít hay
nhiều ở bờ sông, quán nước, bến xe và cả giữa chợ,
giữa sân đình, sân nhà.."
.
Thanh Tịnh ý thức bước đi mình chậm chạp... Nhưng
ông chấp nhận vì đã dò dẫm kỹ và kiên trì tiến thẳng.
Quả vậy, đó chính là đời văn ông. Lấy sự có ích
làm mục đích. Khối lượng trữ tình giai đoạn sau
ít hẳn so với thơ kể chuyện, độc tấu, ca dao. Chất
lượng thơ cũng không được đều như hồi trước nhưng
cái tình của ông với quê hương xứ Huế, với nhân
dân, đất nước, bè bạn, cuộc đời... , ông khóc như
có con mình trong đó Con chết thì về sống với cha.
Thanh Tịnh là người lấy sự bình lặng và một chút
hóm hỉnh làm thăng bằng lại lòng mình trước những
thất thiệt, xót thương. Những thất thiệt cả ở phần
đời lẫn phần thơ văn sự nghiệp.
Thanh
Tịnh là người ưa ngẫm nghĩ, cần mẫn, tỉ mỉ, luôn
luôn có ý thức chắt chiu cho
văn
học nhưng những gì ông viết ra còn quá ít so với
những điều ông có.

Về
trang chủ
XEM
TIẾP

|