
Thư
gởi nhà văn Cao Xuân-Huy nhân đọc lại Tháng Ba Gãy
Súng
.... ngày..... tháng 8 năm 2004
Kính gởi nhà văn Cao Xuân-Huy,
Thanh-Liêm,
Công-Nguyên ở Mỹ là bạn với Như-Hùng ở bên Úc, ba
người này lại là những Trung đội trưởng cùng đơn
vị với anh trong những ngày đất nước còn giặc giã
tơi bời. Mùa hè này, ba người ấy đã gặp lại nhau
và có ghé thăm ao bông súng nhà tôi, nơi cánh rừng
nằm cạnh xa lộ 93, về hướng nam, cách thành phố
Boston có hơn vài mươi dặm...
Bên cái băng bằng đá có bám chút rêu xanh, ba người
lính cũ chăm chăm nhìn mấy ngọn giả sơn nằm bên
bờ hồ róc rách dòng suối nhỏ, thả hồn về những năm
tháng hành quân vùng địa đầu hỏa tuyến, tựa hồ chuyện
mới hôm qua. Riêng với anh chàng Công-Nguyên, tôi
có dịp quen biết lâu đến hơn sáu bảy năm rồi, và
được xem lại những tấm hình mặc áo quần nhà binh
ngày xa xưa ấy; nay anh đã trọng tuổi hơn nhiều
nhưng vẫn phảng phất chút gì của cá tính bất cần
đời, dù khi màu tóc trắng lấn sân khá hỗn trên mái
tóc đen thưa thớt yếu dần...
Tôi được nghe họ nhắc tới anh rất nhiều, nhắc tới
Tháng Ba Gãy Súng, nhắc về cách trả lời của anh
qua cuộc phỏng vấn với Trần Văn Thủy trong Nếu Ði
Hết Biển đăng lại trên talawas, nhắc về những ngày
ở Houston (Texas) mới hồi đầu tháng bảy năm 2004
này, nhắc về hồi chuông điện thoại reo từ miền Nam
nước Mỹ, nhưng vùng Ðông Bắc Hoa Kỳ, nơi cánh rừng
có ao bông súng nhỏ đang có vài bông trắng nhụy
vàng vừa nở, có bụi chuối già hương vừa mới phát,
bụi trúc Phật màu xanh xanh nghiêng bóng bên bờ
hồ, vài gốc thiên tuế tuổi đời còn non, năm ba dề
lục bình vừa nhú nụ hoa màu tím phơn phớt lợt, mấy
cánh bèo tai tượng đang xanh màu, lác đác năm ba
chòm u du (một loại đưng lác vùng nước ngập mà bên
này người Nhật, người Tàu nơi các nhà bán cây cảnh
thường gọi tên là“thủy trúc”), tất thảy những gì
tôi có nơi đây nó mang đầy cái chất quê mùa mà tôi
hằng nâng niu ấp ủ.... và tôi mãi mê săm soi những
vật tưởng chẳng ra gì ấy nhưng đối với tôi là những
người bạn tri kỷ một thời, và có lẽ suốt đời , nên
tôi hụt mất một dịp để nghe Bùi Công-Nguyên giới
thiệu tên anh trên đường dây viễn liên xa ngàn dặm.
Tôi là một người nhà quê rặt anh à! Rặt từ chân
lông đến vết nứt bàn chân. Rặt từ mái tóc luôn tươm
mùi khét nắng đến cái dáng quê mùa muôn thuở. Rặt
từ giọng nói “cá rô” thành “cá gô.” Rặt từ “co ro”
thành “cò rò.” Rặt từ con “cúm núm” chúng tôi ưa
gọi tên “gà nước.” Rặt từ lúc đi học trường làng
chưa lần nào dám “cọp-dê” hay “đánh phép,” nhưng
biết sợ đòn mỗi lần thầy tôi mở sổ điểm danh. Và
đặc biệt tôi rất sợ những bữa “cơm chùa” vào các
ngày rằm, ngày vía lớn, vì người lớn làng quê tôi
hay nhắc chừng “ăn cơm chùa lớn bụng.” Còn nhiều
đặc điểm nữa mà không tiện thưa cùng anh vì không
khéo mình lại đi xa về một loại hình tự vẽ chân
dung mình qua những dòng chữ lê thê này...
Sở dĩ tôi tự giới thiệu một chút về tôi như vậy
để anh thấy những gì hai anh Nguyên, Hùng kể lại
với anh về tôi lúc các anh gặp lại nhau sau 30 năm
cuộc chiến đã tàn là một sự thật, không thêm không
bớt chút nào. Tôi mang niềm vui nhà quê tựa như
anh lúc nào cũng mang trong tâm hồn mình niềm hãnh
diện màu áo lính ngày xưa. Cái chất quê ấy dù hơn
mười mấy năm sống ở đây, sao tôi thấy khó mà thay
đổi được. Nó là cái chất rồi anh à! Ðã thành máu
thịt của mình. Và không ai làm thay đổi được cái
chất đó dù có pha chế theo phương pháp khoa học
ngày nay dưới bất kỳ dạng thức nào. Ví như Tháng
Ba Gãy Súng của anh, mấy năm trước tôi được Bùi
Công-Nguyên giới thiệu tác giả là bạn của Nguyên,
nó là cái chất của anh. Tôi đọc thử. Chưa thấy thấm.
Lúc ấy, có lẽ vì mới chân ướt chân ráo trèo qua
những bờ bi, kinh rạch của dòng sống mới, nên trong
bụng tôi còn lu bu cơm ghe bè bạn từ xứ sở quê nhà
đang mang nặng bên hông, nên đọc như không đọc .
Rồi sau đó khá lâu, khoảng vài ba năm, Bùi Công-Nguyên
lại nhắc tên anh và Tháng Ba Gãy Súng, còn dặn “ông
thử đọc lại vì có tui trong đó.”
Thật sự, lúc ấy tôi cũng chưa có hứng để đọc lại
anh Cao Xuân-Huy à! Vì một lẽ, tôi chưa thanh thản
tâm hồn, đời sống với nhiều vật lộn, nên tôi cứ
tự hứa với mình là sẽ có ngày rồi mình sẽ đọc. Và
một lẽ khác là tôi quá sợ chiến tranh. Chiến tranh
dù dưới bất cứ danh nghĩa nào tôi cũng sợ ráo trọi.
Cuốn sách của anh là một phần còn sót lại của cuộc
chiến hôm qua mà tôi còn hãi hùng. Nói gì cho xa
xăm, sự có mặt của tôi và hằng triệu người khác
rải rác khắp hoàn cầu, trong đó có các người bạn
của anh cùng gặp lại tôi giữa cái nắng mùa hè khá
nóng nơi này, cũng là do hậu quả của chiến tranh
đó mà! Các anh ấy kể về những ngày trẻ dẫn lính
qua những bãi chiến năm xưa. Còn tôi thì lại nhớ
về những cánh đồng, ao vũng, đìa bàu nở đầy những
bông hoa ngát thơm hương đồng nội cỏ. Chỉ riêng
có mỗi cái là được sống theo sở thích thôi, đâu
phải dễ, phải không anh? Vả lại, tôi nghĩ đâu có
gì gấp gáp cho bằng manh áo miếng cơm nơi xứ xa
lạ cảnh, lạ người này... Và rồi tôi có đọc lại thật,
nhưng vẫn chưa thấy thấm được bao nhiêu...
Ðến mấy tháng gần đây, khi tuổi tôi lại già theo
năm tháng, tóc bạc màu pha chút nắng hanh vàng,
và da nhăn tóp với nhiều chấm đen da mồi điểm xuyết
trên gương mặt khô cằn, như một dịp nhớ về 30 năm
trước, lúc trận chiến sắp tàn, tro than cũ giờ chắc
cũng tàn theo năm tháng, và bụi thời gian đã chôn
chặt những ký ức lại chồng chất dày thêm, tình cờ
tôi mới mò vô talawas, và lại thấy đứa con của anh
đang giỡn nơi căn gác hẹp ấy. Và tôi bắt đầu lại
từ đầu, tò mò đọc những dòng chữ của anh liên tục
cả tuần. Nhưng thú thật với anh, tôi chưa dám có
ý nghĩ gì về đứa con mà anh cho rong chơi trên đó,
chỉ rù rì với Bùi Công-Nguyên trong những bận chúng
tôi cùng làm cu-li với nhau ở một hãng in giấy bên
ngoài thành phố. Lúc bấy giờ tôi mới hỏi Nguyên:
“Ông nghĩ sao về Cao Xuân-Huy?”
Nguyên không phải suy nghĩ: "Cao Xuân-Huy
là bạn tôi.”
Không. Tôi không có ý hỏi như vậy. Mà tôi muốn
hỏi ông về Tháng Ba Gãy Súng của Cao Xuân-Huy?
Trong tiếng máy đóng sách chạy rầm rập, chúng tôi
cùng làm việc chung trong dây chuyền bỏ giấy vào
các hộc máy và nương theo tiếng máy chạy inh tai
ấy mà bàn về cuốn sách của anh. Thú thật, tôi nói
với Nguyên là tôi biết sợ Cao Xuân-Huy, sợ cái dũng
và sợ cái tài kể chuyện bằng những trang chữ viết.
Tôi không nghĩ anh là nhà văn như nhiều người vẫn
thường có thói quen hễ ai có viết sách đều là nhà
văn. Tôi không tin những người viết sách thể tất
là nhà văn. Tôi luôn luôn nghi ngờ về điều ấy. Vì
nếu anh là nhà văn, có lẽ văn của anh chưa chắc
đã hay đến thế, nhất là những câu đối thoại từ đầu
đến cuối.
Tôi xin mở thêm ở đây một dấu ngoặc để hỏi anh
một chút về điều này. Tại sao các tác phẩm đầu tay
của các nhà văn bao giờ cũng là những tác phẩm để
lại nhiều dấu ấn trong lòng người đọc?
Theo tôi, sở dĩ có hiện tượng ấy là vì các tác
giả khi bắt đầu viết những dòng chữ đầu tiên ấy,
là lúc họ chưa phải là nhà văn. Về sau này khi trở
thành nhà văn rồi, họ không còn hấp dẫn nữa là vậy.
Một người con gái đẹp trời cho cái nét đẹp tự nhiên
với dáng vẻ bình thường, nó đẹp gấp ngàn lần khi
phải qua nhiều cuộc phẫu thuật thêm môi thêm mắt.
Văn chương là một sự trau chuốt nhưng không phải
sự trau chuốt nào cũng làm cho những tác phẩm của
các tác giả trở nên hấp dẫn và giá trị.
Chắc anh sẽ cười tôi nói sao mà lạ quá vậy. Anh
thử chiêm nghiệm lại xem, trong giới văn chương
mà anh có nhiều cơ hội hơn tôi nhiều, anh đã tiếp
cận trong suốt mấy mươi năm trời nay, có tác giả
nào viết được những câu đối thoại giống như anh
không? Hay chỉ là lối đối thoại rặt màu văn chương
hư cấu, gượng ép, cầu kỳ và nhiều lúc còn tệ hại
hơn nữa là nó giống như đôi đào kép đang yêu nhau
trên sân khấu với túp lều tranh hai quả tim vàng
từ đời năm thìn bão lụt... Tôi nói thật đấy! Chỉ
nội cái mục đối thoại thôi, nếu anh là nhà văn thứ
thiệt, chắc anh cũng không thoát khỏi cái lối mòn
trau chuốt những lời nói vô duyên nhất trong văn
từ của mình... Tôi không rành về nghệ thuật viết
văn nhưng tôi biết chắc văn đối thoại là một trong
những câu văn khó viết vô cùng. Có lẽ vì thế mà
tôi hay nghĩ ngợi văn hay là văn viết như thật.
Về phương diện văn chương tôi không dám lạm bàn
thêm đứa con của anh, vì dường như ai ai cũng biết
nó và ai ai cũng biết anh là người khai sinh ra
nó. Phần này đã có các nhà phê bình văn học đầy
tài năng và một bụng lý thuyết họ sẽ lo. Và bây
giờ nghe đâu anh lại là chủ biên một tờ báo Văn-Học,
được nhà văn Nguyễn Mộng-Giác vừa chuyển giao, tôi
lại càng nên tránh nói về đứa con của anh trên phương
diện văn chương nghệ thuật. Không khéo lại làm trò
cười cho bàng-quan thiên hạ. Và ngay cả lá thư không
gởi này cũng là một việc làm đáng lẽ không nên làm
nếu không có Công-Nguyên và Như-Hùng có chút gì
gắn bó với những ngày tháng ba gãy súng. Tôi nói
vậy để anh rõ về ngọn ngành lá thơ mà tôi đang viết
cho anh và cũng để anh an tâm là lá thơ này sẽ không
mong gì hơn là chỉ Nguyên-Hùng-Huy-Liêm cùng đọc,
không phải làm phiền nhiều bạn đọc khác trên các
diễn đàn dưới đất cũng như trên trời, và đặc biệt,
tôi hy vọng nó sẽ không bao giờ có mặt trên tờ báo
Văn-Học mà anh đang làm chủ biên, chủ bút...
Ðọc đến đây, có lẽ anh sẽ hỏi tôi, “Vậy chớ ông
đọc văn tôi với trạng thái nào? Trạng thái một người
đọc bình thường hay trạng thái một người lính già?”
Không, thưa anh Cao Xuân-Huy. Tôi không đọc văn
anh với tâm trạng người đọc hay người lính già,
mà với một người mà hơn ba mươi năm về trước không
có cơ may như anh. Hay nói đúng hơn là tôi lại có
cơ may khác hơn anh là tôi ở một nơi chốn yên bình
nhứt, và vì thế tôi cảm thấy mình xấu hổ nhứt trước
những gì anh đã kể lại trên những trang sách. Tôi
xấu hổ vì tôi nhát gan hơn anh, tôi không dám anh
hùng như anh, hay nói cách khác là tôi sợ chết hơn
anh nhiều. Giữa một văn phòng có đủ tiện nghi với
máy điều hòa không khí giữa Sài Gòn, so với một
người trung đội trưởng đang dìu dắt đơn vị mình
trong những ngày di tản, ai hùng hơn ai, chắc anh
đã rõ. Những ngày “tháng ba” ấy, tôi và nhiều người
đang ở Sài-Gòn như tôi, họ làm gì? Có lẽ tôi nên
mượn câu thơ mới nhất của Trần Hoài-Thư để nói về
một địa danh có tên gọi Sài-Gòn thuở ấy:
“Sài-Gòn có mùa hạ dài hơn mùa đông
Nên Sài-Gòn có mắt em xanh da trời tháng sáu
Sài-Gòn có thật nhiều quán cà-phê quán cóc
Nên bàn ghế Sài -Gòn đầy ắp tình nhân
.......
Sài-Gòn buổi chiều trời hay nổi cơn giông
Nên những hiên nhà là những hiên tình hò hẹn
Sài-Gòn có những con bồ câu cúc cù trên hàng dây
điện
Nên Sài-Gòn vẫn là nơi hò hẹn của hai kẻ yêu nhau
Sài Gòn ít khi thấy được ánh hỏa châu
Nên đêm đêm Sài Gòn bình yên giấc ngủ
Ðể em đến trường như con sáo nhỏ
Ðể người lính trở về, có chỗ dừng chân
Ðể mãi mãi Sài-Gòn là những bâng khuâng...” [1]
Sài-Gòn những ngày tôi có mặt giống như câu thơ
Trần Hoài-Thư đã mô tả. Ðọc sách anh, nhìn lại mình,
tôi thấy tôi trước nhứt là như thế. Phải nhận ra
cái kém cỏi của mình để học cái gan dạ của những
người lính trên Ban-Mê-Thuột, trên đường liên tỉnh
lộ số 7 từ Pleiku dẫn về Cũng-Sơn, Sơn-Hòa,Tuy-Hòa,
Phú-Yên miền duyên hải và những người lính trong
“tháng ba gãy súng” chứ? Phải không anh???
Cuốn sách của anh là một bài học cho tôi rất nhiều.
Tôi đã học được ở đó nhiều điều mà tôi mãi băn khoăn,
từ cái nhỏ đến cái lớn, từ cá nhân bé nhỏ đến tập
thể rộng lớn bên ngoài, từ trong đời sống thường
của một thường dân đến lãnh vực bao quát một thời
kỳ qua bài học lịch sử trước đó và sau này... Và
tôi có thể nói rõ lại một điều là tôi rất sợ cuốn
sách ấy khi tôi ngồi một mình giữa đêm thâu mở lại
từng trang sách. Bởi một lẽ giản dị là, mỗi lần
lật lại từng trang giấy in đầy những dòng chữ như
một hồi ức ấy của tác giả, cũng chính là một loại
bùa lỗ ban, là một cái kính chiếu yêu, nó làm những
bóng ma trong tôi phải chùng lại mọi cựa quậy, mọi
xưng tụng. Những bóng ma của thời trẻ trong tôi,
cũng như khi bây giờ vào buổi xế chiều này, khi
chạm phải những trang sách của Cao Xuân-Huy là tôi
biết ớn lạnh, rùng mình! Và tôi đọc sách của anh
với trạng thái của một người ngoài màu áo lính mà
anh và các bạn cùng đơn vị đã khoác nó lên mình,
của một người vô danh tiểu tốt sống lủi thủi ở một
vùng quê mùa xa lắc xa lơ, một người nhà quê có
một làng mạc chìm trong chiến tranh mấy mươi năm
qua nhiều thời kỳ bồng chống nhau tản cư chạy loạn
và cũng như nhiều bà con làng quê, tôi biết sợ chiến
tranh, cho dù chiến tranh đến dưới bất cứ danh nghĩa
nào, từ bất cứ phía nào, vào bất cứ thời nào, và
bất cứ đời nào!!!
Tôi hy vọng, với thời gian năm, ba trăm năm sau
hay một, hai ngàn năm sau, Tháng Ba Gãy Súng của
anh cũng chỉ là một chuyện đời xửa đời xưa được
kể lại như bao chuyện đời xưa khác mà chúng ta đã
đọc qua lịch sử. Lịch sử nói chung và chiến tranh
nói riêng, đến một lúc nào đó, sau khi những người
chủ xướng ra nó đã chết mất đất từ hơn cả trăm,
cả ngàn năm rồi, lịch sử và chiến tranh lúc bấy
giờ chỉ còn là một câu chuyện đời xưa không hơn
không kém!!!
Trân trọng
Minh-Nguyện (một
người đọc già)

Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|