Nguyệt
lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền. (Trương Kế)
Báo
Văn nghệ số 29 (17/07/2004) có bài “Nói thêm về
Phong Kiều dạ bạc” của tác giả Nguyễn Tất Phan.
Sau khi giới thiệu bản dịch của Tản Đà theo sách
Thơ Đường - Tản Đà dịch, Nguyễn Quảng Tuân biên
soạn, NXB Trẻ và Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn
học ấn hành năm 1989, ông có lời bàn:
…Đã
từ lâu rồi các nhà thơ VN tốn nhiều lời bàn cãi,
suy luận và diễn giải theo ý riêng mình. Đó là vì
thời trước thiếu phương tiện đi lại và thiếu thông
tin. Có lẽ vì thế mà cụ Tản Đà cũng nhầm?
Vì
theo ông, đã có một học giả Nhật đi đến tận Hàn
San tự, tìm hiểu bài thơ và được vị sư ở đây giải
thích: Trước đây ở Tô Châu có một thôn là Ô Đề (Ô
Đề thôn) và một ngọn núi tên là núi Sầu Miên (Sầu
Miên sơn). Bởi vậy bản dịch của Tản Đà:
Trăng
tà, tiếng quạ (1) kêu sương
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
là
không chính xác vì nhầm các địa danh riêng Ô Đề,
Sầu Miên với các từ ô đề và sầu miên có nghĩa chung.
Sau
đó trên báo Văn nghệ số 31 (31/07/2004) ông Nguyễn
Quảng Tuân (NQT) có trao đổi lại cách hiểu cho đúng
bài thơ này. Ông NQT cho rằng, không nên hiểu ô
đề, sầu miên như là những địa danh vì “nếu có thôn
Ô Đề thì thôn đó phải ở rất xa, tận phía chân trời
và không thể ở ngay vùng Tô Châu được”. Ông NQT
đã từng đến thăm chùa Hàn San, đứng ở bến Phong
Kiều nhìn quanh bốn phía “không có ngọn núi nào
tên là Sầu Miên cả” bởi vậy khi Trương Kế nằm trong
khoang thuyền nhìn lên bên ngoài cũng chỉ thấy những
cây phong và những ngọn đèn chài không thể đối mặt
với Sầu Miên, “một ngọn núi không có thực ở bên
bờ sông”.
Chúng
tôi xin được lạm bàn đôi điều.
Phong
kiều dạ bạc là một trong những bài thơ Đường nổi
tiếng của Trung Quốc mà hầu hết ai đã đọc thơ Đường
đều biết, bài thơ đã được nhiều nhà thơ cũng như
nhiều nhà Hán học VN tuyển dịch trong nhiều công
trình. Trong số đó bản dịch Tản Đà được người đọc
đánh giá khá cao không chỉ vì thể thơ quen thuộc,
vì ngôn ngữ uyển chuyển tinh diệu mà vì thấm được
cái hồn của tác giả Trương Kế. Ông NQT có giới thiệu
hai bản dịch của Nguyễn Hàm Ninh và Tản Đà Nguyễn
Khắc Hiếu, tuy có khác nhau vài từ ngữ nhưng cái
mạch chính thì hai tác giả không khác nhau (câu
1, 2 bản Nguyễn Hàm Ninh: Quạ kêu, trăng lặn, trời
sương / Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ), đặc
biệt là cách hiểu các từ ô đề và sầu miên, đều dịch
là tiếng quạ kêu và giấc ngủ sầu.
Xin
được giới thiệu qua về xuất xứ bài thơ và tác giả.
Trương Kế có tự là Ý Tôn, sống vào khoảng trước
sau 756, đời Đường Túc Tông. Ông thi đậu tiến sĩ,
từng làm quan trong triều với chức vụ Tự bộ viên
ngoại lang, về sau bị đổi ra Hồng Châu coi việc
tài phú và mất tại đây. Trương Kế sinh thời học
rộng thích bàn bạc văn chương, thế sự và thích làm
thơ. Trong số tác phẩm ông để lại có một tập thơ
và bài Phong kiều dạ bạc nổi tiếng nhất.
Theo
các tác giả sách Almanach những nền văn minh thế
giới, nguyên tác bài thơ đã được Khang Hữu Vi đời
Thanh viết ra chữ to khắc trên bia dựng trong chùa
Hàn San để cho người đời sau qua đây thưởng lãm…(2)
Phong
kiều dạ bạc là một bài tứ tuyệt hàm súc nhưng không
khó hiểu, với nhiều địa danh đầy sức khêu gợi như
Cô Tô gợi về người đẹp Tây Thi, Hàn San gợi về các
vị sư nổi tiếng một thời và nhiều giai thoại gắn
liền với câu chữ nên không phải không có các cách
giải thích khác nhau về một vài tình tiết. Tuy nhiên
vẻ đẹp thống nhất của hình tượng Thơ thì các dịch
giả từ Tản Đà đến Trần Trọng Kim, Trần Trọng San,
Ngô Tất Tố… cũng như các dịch giả Viện Văn học sau
này đều không khác nhau.
Theo
thiển ý chúng tôi, chưa thể vội căn cứ vào một vài
dữ liệu thời nay cách lúc tác giả viết bài thơ 13
thế kỷ để mà thay đổi nguyên tác, nhất là những
cứ liệu có tính chất truyền ngôn.
Nếu
xét trên phương diện thực địa thì dẫu Hòa thượng
Tịnh Không có kể cho một học giả Nhật và tác giả
Chung Bá Kính khi ghi chú sách Hội đồ Thiên gia
thi có cho rằng Sầu Miên, Ô Đề là những địa danh
thì Ông NQT trong chừng mực nào vẫn có thể nói rằng
“không đúng” vì ông đã từng đến bến Phong Kiều mà
không thấy những thôn, những núi nào ở Tô Châu để
Trương Kế tức cảnh mà đưa vào thơ. Tuy nhiên, lập
luận này vẫn không hoàn toàn thuyết phục người đọc,
vì người ta nghĩ rằng, ông NQT là khách phương xa
tới Hàn San một lần, chỉ mới nhìn quanh quẩn sao
có thể phủ nhận được ý kiến một hòa thượng sở tại
và một nhà nghiên cứu bản xứ. Ngộ nhỡ những thôn
Ô Đề và núi Sầu Miên kia ở bên ngoài vùng Tô Châu,
hoặc chính là tên ngày xưa của một trong những ngọn
núi mờ xa mà ông NQT nhác thấy nhưng chưa có điều
kiện tìm hiếu kỹ thì sao?
Chúng
tôi tìm hiểu nghĩa thực của các từ ô đề và sầu miên
trên phương diện khác, phương diện cảm xúc thẩm
mỹ mà hình tượng thơ mang lại. Nếu thay vào ô đề
và sầu miên trong cách hiểu là những địa danh thì
bài thơ mất đi rất nhiều giá trị thẩm mỹ, rất ít
gợi cảm vì lúc ấy hai câu thơ chỉ còn là những câu
tả cảnh thị giác đơn thuần: Trăng tà thôn Ô Đề sương
rơi đầy trời / Hàng cây phong bên bờ sông cùng đốm
lửa thuyền chài đối diện với núi Sầu miên.
Thế
thôi, bức tranh không âm thanh, không tâm trạng.
Tìm đâu ra cái nỗi buồn của Trương Kế gửi gắm trong
một tiếng quạ kêu thảng thốt, lẻ loi trong đêm và
cái nỗi sầu len vào giấc ngủ chập chờn của hàng
cây phong đối diện với ánh lửa chài! Hai câu thơ
tả thực mà không thực, nó hấp dẫn người đọc ở cái
vẻ hư ảo của nó. Những ý thơ có vẻ không khớp nhau
vì khi trăng lặn (nguyệt lạc), tức đã gần sáng,
mà gần sáng (rất khác nửa đêm, bán dạ) lúc này còn
ai thức mà thỉnh chuông nữa. Tác giả viết những
câu thơ trong chập chờn nửa tỉnh nửa mơ, gần sáng
mà cứ tưởng nửa đêm. Bởi vậy, Âu Dương Tu khi bình
bài thơ có viết: nhà thơ vì mê câu văn hay mà làm
cho ý không thông! Cái nỗi buồn của một kẻ bị
chuyển đi xa kinh thành này cũng giống như nỗi buồn
của Bạch Cư Dị lúc về Giang Châu luôn làm tác giả
chìm đi trong ảo ảnh. Tiếng chuông đi từ chùa Hàn
San, nơi có hai vị sư Hàn San và Thập Đắc nổi tiếng
uyên thâm đạo học thời bấy giờ, ở ngoại thành Cô
Tô đến làm khách của tác giả cũng là tiếng chuông
ảo vậy! Câu thơ hay trong cái mơ màng hư ảo đó quả
thật không liên quan đến một thôn Ô Đề và một núi
Sầu Miên thực nào cả. Lấy một cái “giả thực” của
ngoại cảnh để thể hiện một cái “đích thực” của tâm
trạng là một đặc sắc nghệ thuật mà các tác giả cổ
điển hay dùng (kiếu như Đạp hoa quy lai mã đề hương…)
Những
tên thôn, tên núi mà các học giả Nhật giải thích
và Chung Bá Kính ghi chú chắc gì đã có ở thời Trương
Kế? Chúng ta thường gặp những địa danh mới thay
vào tên cũ sau khi xảy ra những sự kiện nào đấy.
Biết đâu vì sự nổi tiếng của bài thơ mà có những
địa danh kia và những địa danh này có thể ở rất
xa Tô Châu do người đời sau vận vào mà thôi!
Trương
Kế là một nhà thơ, một học giả (tiến sĩ), tác phẩm
viết để lại (không phải truyền miệng) không thể
không cẩn thận ghi chú để người đọc muốn hiểu thế
nào thì hiểu. Khi tác giả đã viết Cô Tô thành, Hàn
San tự, thì không thể không viết Ô Đề thôn và Sầu
Miên sơn nếu quả thật ông muốn nói về thôn Ô Đề
và núi Sầu Miên…
Cuối
cùng, chúng tôi nghĩ, Phong kiều dạ bạc từ khi ra
đời đến nay, đặc biệt là từ đời Thanh khi Khang
Hữu Vi cho tạc bài thơ lên bia chùa Hàn San, người
Trung Quốc chưa có đính chính gì thêm về câu chữ,
và bao nhiêu người dịch, người đọc VN thấy hình
tượng thơ trong bài khá hoàn chỉnh, rất giàu sức
truyền cảm nếu không muốn nói là tuyệt bích, thì
không lẽ chỉ với một sự kiện đang ở dạng chú thích
thêm lại có thể khiến ta nghi ngờ đổi thay nguyên
tác. Ngay Giáo sư Vương Phương(3), nguời nổi tiếng
về văn hóa cổ của Trung Quốc cũng cho rằng, có nhiều
cách hiểu bài tứ tuyệt của Trương Kế và chính ông
không khẳng định nên theo cách hiểu nào. Còn chúng
ta, cách hiểu mà chúng ta nên theo là cách hiểu
mang lại giá trị thẩm mỹ cao nhất của thi phẩm.
Và Tản Đà tiên sinh cũng như các dịch giả VN từ
trước đến nay đã dịch bài thơ theo hướng này.
Hà
Quảng
______________
Ghi
chú:
(1)
Một bản dịch được lưu truyền của Tản Đà, câu đầu
“Trăng tà chiếc quạ kêu sương” chứ không phải “tiếng
quạ kêu sương”.
(2) trang 1312 sách đã dẫn.
(3) trích lại ở bài của Nguyễn Tất Phan.