- Giới trẻ và người đọc hiện nay có quan niệm khá
đầy đủ về sự ngắn gọn, họ cũng quan tâm tới cái
gọi là thông tin. Văn học cũng vậy, nếu ngắn mà
sáo rỗng, không có thông tin thì cũng chẳng ai đọc,
và ngược lại, với những cuốn tiểu thuyết dày nhưng
chứa đầy đủ thông tin thì vẫn có sức cuốn hút như
thường. Ví như ở các nước phát triển hơn chúng ta
đến hàng trăm năm, cả nước Anh đổ xô để tìm mua
bằng được những cuốn Harry Potter mới, những cô
bé cậu bé ngày đêm chầu chực trước cửa nhà nhà văn
để có những cuốn sách cho riêng mình. Và với tiểu
thuyết ở Việt Nam thời này vẫn sống và văn hóa đọc
cũng vẫn có ưu thế không nhỏ. Viết về lịch sử cũng
vậy, chuyện tuy đã cũ nhưng có những thông tin vẫn
còn cập nhật, vấn đề là người viết thổi hồn vào
những thông tin đó ra sao mà thôi.
-
Vậy chị muốn nhắn gửi gì tới người đọc qua tiểu
thuyết “Giàn thiêu”?
- Khát vọng tự do.
-
“Giàn thiêu” là cuốn tiểu thuyết đề cập nhiều tới
Phật giáo. Theo chị, thời công nghệ thông tin, thời
toàn cầu hóa, đạo Phật còn lại điều gì, có khả năng
cập nhật đến cuộc sống hiện đại không? Chị tâm đắc
nhất điều gì ở giáo lý nhà Phật trong cuốn sách
này?
- Đó là tinh thần tự do và dám khuyến khích người
ta chỉ lợi dụng giáo lý của mình như một chiếc bè
qua sông rồi để lại nó ở trên bờ để đi tiếp đến
những vùng đất mới chứ không bắt người ta phải vác
bè lên vai mà đi suốt đời như rất nhiều kiểu tôn
giáo khác. Nhà Phật hiểu: không thể biến một thứ
giáo lý thành gông cùm của hành động và con người.
-
Ỷ Lan trong tác phẩm đã cứu độ dân nghèo đói bằng
một nồi cháo loãng, nhưng lại bỏ tiền ra nuôi hàng
trăm nhà văn, nhà thơ chỉ để ca ngợi công đức của
bà. Tác giả muốn gửi gắm một thông điệp nào đó qua
sự việc này chăng?
- Cái cách đó, nhiều bậc chăn dân vẫn làm. Nhiều
người thuộc tầng lớp “kẻ sĩ” vẫn “nhất hô bách ứng”.
Tôi biết chuyện thời đó, và mô tả lại thôi, theo
kiểu “tôi kể chuyện này”.
-
Bấy lâu nay, trong dân gian, Nguyên phi Ỷ Lan đã
được mọi người tôn sùng và phong Thánh. Nhưng trong
“Giàn thiêu”, Ỷ Lan xuất hiện là một con người hoàn
toàn khác. Liệu chị có cho rằng độc giả sẽ nghĩ
nhà văn hạ bệ thần tượng hay không?
- Tôi tôn trọng lô gíc phát triển nội tại của nhân
vật, tôn trọng sự thật. Sự thật đôi khi nó xù xì,
gai góc nhưng đó là sự thật, và với sự thật, người
ta mới đúng là con người. Xưa nay mọi người vẫn
có thói quen phong Thánh cho ai đó, và bỗng dưng
tất cả mọi người không còn ai dám nói điều gì ngược
lại với tính cách hoàn thiện của bậc Thánh kia.
Nhưng tôi cho rằng, con người ta có thể rất thánh
ở mặt này, nhưng lại có mặt khác không thánh, mặc
dù vậy, người ta Thánh ở một mặt nào đó đã là quý
lắm rồi.
Trọn vẹn là Thánh là một điều phi lý. Chính sử cho
ta biết công lao của Nguyên phi Ỷ Lan, điều đó khiến
chúng ta nể phục, nhưng mặt khác trong chính sử
cũng ghi là bà đã bức chết 76 cung nữ và Dương Thái
hậu. Chúng ta cũng phải tôn trọng sự thật đó. Ngày
xưa nhiều sử quan thậm chí bị xử trảm nếu không
chịu uốn cong ngòi bút, nhưng vẫn sẵn sàng nhận
lấy cái chết chỉ để ghi lại sự thật. Vậy thời nay,
khi mà chúng ta luôn luôn nêu cao khẩu hiệu phải
tôn trọng sự thật thì tại sao lại không dám phản
ánh sự thật?! Tôi xây dựng nhân vật Ỷ Lan như những
gì mà bản thân nhân vật này có, đó là điều đương
nhiên. Phong thánh không phải là trách nhiệm của
người viết văn. Tôi chỉ muốn phản ánh số phận con
người, và hơn hết, tôi tôn trọng sự phát triển lô
gíc nội tại của nhân vật.
-
Còn hình tượng cung nữ Ngạn La, một hình tượng
có thể cho là bất tử trong tiểu thuyết?
- Ngạn La là một cô thôn nữ với đôi mắt hoang dại
huyền bí luôn mở to ngơ ngác, đôi chân trần, có
một cái rốn đỏ màu chu sa đã đi vào cuộc sống đầy
cạm bẫy mà không có một chút hành trang để tự vệ.
Cái cuộc sống đang diễn ra đó không phải dành cho
cô ta. Cô ta không được hưởng chút gì ở cõi đời
này, và cô đã phải đi tắt lên Niết Bàn. Những người
như Ngạn La không thể “làm lành” được với sự phàm
tục. Có một Ngạn La đẹp đến mê hoặc cả thần thánh
đang bay lên từ giàn thiêu, với lưỡi dao lá lúa
trong ngực. Ở tôi, ở bạn và ở tất cả những người
phụ nữ, dù lam lũ bần hàn đến mấy, đều mang trong
mình một chút Ngạn La.
-
Tất cả những nhân vật trong “Giàn thiêu” đều
có những dằn vặt về nội tâm, cho dù họ là những
người ở dưới đáy xã hội hay là người có tột đỉnh
quyền lực, nhưng họ vẫn khổ, cái nỗi khổ không được
sống với những gì mình muốn, như nhân vật Từ Lộ.
Tại sao?
- Từ Lộ xuất thân từ một danh gia, nhưng xã hội
đã dồn anh ta xuống tận đáy sâu của cuộc sống. Suốt
nửa cuộc đời, Từ Lộ hoàn toàn hy sinh cho việc báo
thù, hy sinh tuổi trẻ, không dám yêu thương, không
dám hưởng cuộc sống, mà chỉ đeo đuổi một mục đích
duy nhất: báo thù. Mặc dù thù thật sâu, nỗi đau
thật lớn, nhưng có đáng để dành cả cuộc đời chỉ
để báo thù hay không? Từ Lộ đã từ chối mọi niềm
vui sống, đồng thời làm khổ cả đời người con gái
một lòng yêu anh. Cái điều này tương đương với những
cuộc chiến tranh, sự chết chóc trong chiến tranh
với những oán hận tiếp nối muôn đời. Và trong truyện,
khi Từ Lộ đã trả được thù, anh ta đã trở thành một
đại sư, đạt được tuyệt đỉnh vinh quang, thế nhưng
anh ta vẫn cảm thấy trống rỗng vì chưa kịp sống.
Và anh ta nghi ngờ những giáo lý giả dối và rỗng
tuếch mà mình đã ngày ngày rao giảng. Từ Lộ khát
khao được trở lại một kiếp khác, được ở tột đỉnh
quyền lực để bù đắp cho tất cả những gì đã đánh
mất ở kiếp khổ hạnh trước. Và Từ Lộ đã đầu thai
để trở thành vua Thần Tông. Nhưng rốt cuộc Thần
Tông vẫn chẳng có hạnh phúc, hồn đã rời khỏi thân
nhưng Từ Lộ vẫn không hề siêu thoát, Từ Lộ vẫn quyến
luyến cõi trần với những gì mà ông ta chưa bao giờ
đạt được, và biết đâu Từ Lộ lại sẽ đầu thai ở một
kiếp khác.
-
Chuyện vua Nhân Tông dùng người ở trong truyện,
phải chăng chị có ẩn ý gì?
- Điều tôi muốn nói là cơ chế nghiền nát nhân cách
con người. Và nếu còn cơ chế đó, thì sẽ còn những
quan thanh liêm bị nghiền nát. Vì trong con người
ta có phần tối, phần sáng. Ở nhiều người, cái ranh
giới đó rất mong manh. Và chốn quan trường rất dễ
trở thành một cái máy nghiền nát nhân cách.