
GIỖ LẦN THỨ 13 NHÀ
THƠ HỒ DZẾNH (13.8.1991 – 2004)
Thi sĩ hai dòng máu Việt – Hoa
Nhà thơ Hồ Dzếnh tên thật là Hà Triệu Anh, sinh
năm 1916 tại xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương,
tỉnh Thanh Hóa, cha ông là Hà Kiến Huân, gốc Hoa
từ Quảng Ðông, Trung Quốc di cư sang Việt Nam vào
những năm cuối cùng của thế kỷ 19, gặp mẹ ông là
Đặng Thị Văn, một cô gái chở đò ngang trên sông
Ghép - Thanh Hoá. Hai người thành gia thất, sinh
sống bằng đổi chác hàng hóa ở các chợ bến sông,
trên một con đò dọc.
Thuở
nhỏ, Hồ DZếnh sống với cha mẹ ở núi Thanh Hoá (huyện
Như Xuân). Sau khi bố lấy vợ hai, ông sống với mẹ
ở làng Đông Bích, rồi thị xã Thanh Hoá và theo học
trường Nhà Chung. Từ cấp trung học, ông ra học ở
Hà Nội, vừa học vừa kiếm sống bằng nghề gia sư và
làm công cho các hiệu buôn người Hoa.
Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ngay từ đầu buổi
thành lập (1957). Sinh ra và lớn lên khi đất nước
còn đang chìm trong cảnh nô lệ lầm than, hồn thơ
của Hồ Dzếnh như thể một hạt "lệ ngọc"
được kết tinh từ cuộc đời lam lũ của cha, của mẹ,
của bản thân và của đồng bào ông. Ngay từ 1937,
Hồ Dzếnh đã làm thơ, viết truyện ngắn đăng trên
các báo: Trung Bắc Chủ nhật, Tiểu thuyết thứ bảy,
Tập san Mùa gặt mới…
Kháng chiến chống Pháp ông về sống ở Thanh Hóa,
sau ngày hòa bình (1954), Hồ Dzếnh trở lại Hà Nội,
ông tham gia Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học
nghệ thuật Việt Nam một khóa. Sau đó đi thâm nhập
thực tế, làm thợ đúc thép và hợp cơ khí ở nhà máy
xe lửa Gia Lâm. Sống với công nhân và sáng tác văn
học ở Hà nội.
Hồ Dzếnh mất ngày 13 tháng 8 năm 1991.
Tác phẩm đã xuất bản: Chân trời cũ (truyện ngắn,
1942); Một truyện tình mười lăm năm về trước (tiểu
thuyết, 1942); Quê ngoại (thơ, 1943); Cô gái Bình
Xuyên (tiểu thuyết, 1946); Hoa xuân đất Việt (thơ,
1946); Người nữ cứu thương Trung Hoa (kịch một màn,
công diễn 1947); Đi hay ở (kịch một màn, công diễn
1955); Hồ Dzếnh – tác phẩm chọn lọc (tuyển chọn
1988). …
Giai thoại bút danh Hồ Dzếnh
Nhà thơ Hồ Dzếnh nếu phát âm theo giọng Quảng Đông
là Hồi-Tsìu-Díng, thu gọn lại là Hồi-Díng, chắc
vì khi phiên âm sang tiếng Việt hai tiếng Hồi-Díng
nghe không được hay lắm nên ông đã ghi là Hồ Dzếnh.
Tuy vậy anh em văn nghệ vẫn cứ trêu đùa gọi anh
là Hồ Dính, có người còn đặt một vế đối:
Hồ Dính dính hồ hồ chẳng dính để thách đối. Lúc
có người đối lại là: Ngọc Giao giao ngọc ngọc không
giao mượn tên nhà văn Ngọc Giao. Cũng có người đối
lại: Vũ Bằng bằng vũ vũ chưa bằng, mượn tên nhà
văn Vũ Bằng, nhưng đều chưa chỉnh.
Sự nghiệp văn chương trên đất Việt
Thành công nhất của Hồ Dzếnh, theo nhiều nhà nghiên
cứu, nhà phê bình thì tập truyện Chân trời cũ, vì
đó là một phần tự truyện của ông. Với Lời tựa của
nhà văn Thạch Lam: “Những truyện ông kể cho ta biết
toàn là những chuyện về gia đình ông, gia đình của
những người Trung Hoa nhẫn nại và chịu khó sang
lập nghiệp ở bên này. Một người cha lầm lì, suốt
ngày không nói, một người mẹ Việt Nam vào hạng những
người đàn bà chỉ biết có chịu khó về chồng con,
không bao giờ một lời phàn nàn hay oán hận, mà cái
uớc mong sung sướng nhất là cái cớ được hy sinh
mãi. Và một vài nguời con, một vài người nông dân
Trung Hoa – sáng lập thành cái gia đình mà số phận
hình như bắt buộc phải buồn rầu. Sau khi người cha
qua đời, thì cái thời sung túc, đoàn tụ cũng mất
đi”.
Trong “Lời giới thiệu” Tuyển tập Hồ Dzếnh – Tác
phẩm chọn lọc, NXB Văn Học 1988, nhận định: “Tác
phẩm của Hồ Dzếnh không nhiều, lại không tập trung
ở một tờ báo hay đặc san nào. Với bản chất trầm
lắng, ông luôn luôn khiêm tốn tự cho mình là người
mới bắt đầu bước vào nghề viết. Tuy nhiên, với hai
tập văn thơ Chân trời cũ và Quê ngoại, Hồ Dzếnh
được biết đến như một nhà thơ có chân tài”.
Nhà văn Kiều Thanh Quế đã nhận xét trong tạp chí
Tri Tân số 67, ngày 13.6.1942 rằng: “Ngòi bút Hồ
Dzếnh đã có được lắm đặc tánh khả quan trong khi
phô diễn. Nó nên tỏ ra có sức mạnh trong những tiểu
thuyết dày dặn, thì tên tuổi của người Minh Hương
ấy – Hồ Dzếnh là người Minh Hương, văn học quốc
ngữ không nề hà chẳng đón tiếp như đã đón tiếp bao
nhiêu nhà văn Việt Nam hữu tài”.
Nhà thơ Hoài Anh trong tập Chân dung văn học, NXB
Hội Nhà văn 2001 nhận định về Hồ Dzếnh: “Phần đóng
góp quan trọng nhất cho văn học Việt Nam của anh
lại là tập Chân trời cũ, thể hiện nếp sinh họat,
tính cách, tình cảm, tâm lý của bà con gốc Hoa trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hồ Dzếnh chỉ kể
chuyện về người cha mình, các anh, chị, em mình,
con ngựa của cha mình… mà làm cho người đọc Việt
Nam rung động tận đáy lòng”.
Riêng tập truyện Cô gái Bình Xuyên, NXB Tiếng Phương
Đông, 1946 ca ngợi cuộc kháng chiến chống Pháp của
quân dân Nam bộ hồi 1945 - 1946 và được nhà văn,
giáo sư Đặng Thai Mai trong tạp chí Tiên phong ghi
nhận như một tín hiệu đầu tiên của văn học kháng
chiến.
Chuyện tình của Hồ Dzếnh
Chuyện tình của ông cũng rất hoàn cảnh với nhiều
nỗi ngang trái éo le nhưng lại hạnh phúc đến cuối
đời.
Mối tình thứ nhất: Ông lập gia đình với cô nữ sinh
giác ngộ cách mạng, thoát ly gia đình từ năm 1942,
làm công tác tuyên truyền cho Mặt trận Việt Minh
tên là Nguyễn Thị Huyền Nhân. Năm 1950, bà Huyền
Nhân mất vì bệnh dịch tả để lại cho ông một đứa
con trai mới bốn tháng tuổi. Còn thiếu sữa, ông
phải bế con đi khắp nơi xin bú chực. Thông cảm hoàn
cảnh khó khăn của ông, chính quyền Cách mạng cấp
giấy phép để ông về Hà Nội chữa bệnh cho con và
tìm kiếm gia đình, tức người anh ruột thứ hai, ông
Bích, nhưng lúc đó ông này đã vào Sài Gòn làm ăn,
nên Hồ Dzếnh vào Sài Gòn tìm anh. Ở đây, ông viết
cho báo Thần Chung với bút hiệu Hoàng Liên – ngụ
ý ngậm đắng nuốt cay để kiếm sống.
Mối tình thứ hai: Năm 1953, vợ góa của nhà thơ
Trần Trung Phương cho tái bản tập thơ Mấy vần tươi
sáng của người chồng tài hoa đã chết trẻ, nhiều
anh em đã gợi ý cho bà mời Hồ Dzếnh viết lời giới
thiệu cuốn sách. Nhưng mọi người lại bàn bạc cho
Trúc Khanh viết. Trong buổi tiệc giới thiệu tập
sách, hai người đã quen nhau rồi sau đó yêu nhau.
Trong đám cưới của hai người, có người đã mừng câu
đối:
Vợ góa nhà văn, lấy nhà văn góa vợ,
Con nuôi nước Việt, nhờ nước Việt nuôi con.
GIÁP NGUYỄN
TƯỞNG NHỚ HỒ DZẾNH, NVX XIN GIỚI THIỆU LẠI MỘT
SỐ BÀI THƠ:
NGẬP NGỪNG
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Ðể lòng buồn tôi dạo khắp trong sân,
Ngó trên tay, thuốc lá cháy lụi dần...
Tôi nói khẽ: Gớm, làm sao nhớ thế?
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Em tôi ơi! tình có nghĩa gì đâu?
Nếu là không lưu luyến buổi sơ đầu?
Thuở ân ái mong manh như nắng lụa.
Hoa bướm ngập ngừng cỏ cây lần lữa,
Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi,
Chỉ ngày mai mới đẹp, ngày mai thôi!
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Tôi sẽ trách - cố nhiên! - nhưng rất nhẹ
Nếu trót đi, em hãy gắng quay về,
Tình mất vui khi đã vẹn câu thề,
Ðời chỉ đẹp những khi còn dang dở.
Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,
Cho nghìn sau... lơ lửng... với nghìn xưa...
HỒ DZẾNH
MÀU CÂY TRONG KHÓI
Trên đường về nhớ đầy ...
Chiều chậm đưa chân ngày,
Tiếng buồn vang trong mây ...
Chim rừng quên cất cánh,
Gió say tình ngây ngây,
Có phải sầu vạn cổ
Chất trong hồn chiều nay?
Tôi là người lữ khách,
Mầu chiều khó làm khuây,
Ngỡ lòng mình là rừng,
Ngỡ hồn mình là mây,
Nhớ nhà châm điếu thuốc,
Khói xanh bay lên cây...
HỒ DZẾNH
Bài thơ này được lấy theo bản in đầu tiên trong
tập Quê Ngoại (1942). Trong những lần tái bản, bài
thơ được đổi tên là Chiều và câu cuối được đổi thành:
“Khói huyền bay lên cây...”
QUÊ HƯƠNG
Ngày xưa tôi sống vui êm
Trong khu làng nhỏ kề bên sông đào .
Chị tôi giặt lụa cầu ao,
Trời trong, nắng ửng, má đào ghẹo duyên.
Tôi say nước thắm mây huyền,
Nước mơ dáng cũ, mây truyền tiếng xưa ...
Đời lành: nắng nhạt mưa thưa,
Sầu hôm hối sáng, buồn trưa tiếp chiều .
Có lần tôi thấy tôi yêu
Mắt nhung, cô bé khăn điều cuối thôn.
Lâu rồi, tôi đã... hơi khôn,
Biết cô hàng xóm có còn nhớ nhau?
HỒ DZẾNH

Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|